1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan trên người nhiễm virus sars cov 2 tại bệnh viện dã chiến khu ký túc xá cao đẳng cộng đồng tỉnh đồng tháp năm 2021

82 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan trên người nhiễm virus SARS-CoV-2 tại bệnh viện dã chiến khu ký túc xá cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2021
Tác giả Nông Thị Ngân Giang
Người hướng dẫn Ths. BSNT. Nguyễn Viết Chung
Trường học Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN (13)
    • 1.1. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN (13)
      • 1.1.1. Khái niệm về Sars- CoV- 2 (13)
      • 1.1.2. Khái niệm trầm cảm (14)
      • 1.1.3. Khái niệm lo âu (16)
    • 1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở NGƯỜI NHIỄM (19)
      • 1.2.1. Đặc điểm của lo âu ở người nhiễm virus SARS- CoV- 2 (19)
      • 1.2.2. Đặc điểm của trầm cảm ở người nhiễm virus SARS- CoV- 2 (21)
      • 1.2.3. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm và lo âu ở người bệnh nhiễm SARS- CoV- 2 (24)
    • 1.3. GIỚI THIỆU VỀ CÁC THANG ĐO LƯỜNG LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN (25)
    • 1.4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NGƯỜI NHIỄM SARS- CoV- 2 TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM (27)
      • 1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới (27)
      • 1.4.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam (29)
  • CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (31)
    • 2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu (31)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn (31)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (31)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (31)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu (33)
      • 2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu (33)
      • 2.3.3. Các biến số nghiên cứu (33)
    • 2.4. Công cụ nghiên cứu (36)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (38)
    • 2.6. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu (38)
    • 2.7. Các khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu (38)
    • 2.8. Hạn chế của nghiên cứu (39)
  • CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (40)
    • 3.1. Mô tả đặc điểm trầm cảm, lo âu của bệnh nhân COVID-19 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2021 (40)
      • 3.1.1. Đặc điểm thông tin cá nhân của đối tượng (40)
      • 3.1.2. Tỷ lệ trầm cảm, lo âu của bệnh nhân COVID-19 theo thang điểm (47)
    • 3.2. Một số yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần của bệnh nhân COVID- (49)
      • 3.2.1. Mối liên quan giữa rối loạn tâm thần ở bệnh nhân và đặc điểm cá nhân (0)
      • 3.2.2. Mối liên quan giữa rối loạn tâm thần ở bệnh nhân và tiền sử, diễn biến bệnh (52)
      • 3.2.3. Mối liên quan giữa rối loạn tâm thần của bệnh nhân và trạng thái cảm xúc khi mắc bệnh (54)
  • CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN (57)
    • 4.1. Đặc điểm của người nhiễm SARS- CoV- 2 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2021 (57)
    • 4.2. Mô tả thực trạng về tình trạng trầm cảm, lo âu ở người nhiễm virus SARS- CoV- 2 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2021 (59)
    • 4.3. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu ở người nhiễm virus SARS- CoV- 2 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2021 (63)
      • 4.3.1. Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với tình trạng trầm cảm, lo âu (63)
  • KẾT LUẬN (68)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (70)

Nội dung

Quan điểm của EmilKraepelin về bệnh u sầu melancholia có thể được tìm thấy trong ấn bản đầutiên của cuốn sách giáo khoa của ông xuất bản năm 1883, ông thấy hội chứngnày phát sinh từ "tâm

TỔNG QUAN

CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

1.1.1 Khái niệm về Sars- CoV- 2:

Vào cuối tháng 12 năm 2019, nhiều bệnh nhân nhập viện với chẩn đoán ban đầu là viêm phổi không rõ nguyên nhân, liên quan đến một chợ buôn bán hải sản và động vật hoang dã tại Vũ Hán, Hồ Bắc Tác nhân gây bệnh đã được xác định là một loại coronavirus mới, đánh dấu sự khởi đầu của dịch bệnh COVID-19.

Nhóm Nghiên cứu Coronavirus (CSG) của Ủy ban phân loại virus quốc tế (ICTV) chính thức công nhận virus này là một loại thuộc họ Coronaviridae dựa trên phân loại phân sinh học và thực tiễn đã thiết lập Loại virus mới này có họ hàng gần với coronavirus gây hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS-CoV) và đã được đặt tên là SARS-CoV-2 (Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2).

SARS-CoV-2 thuộc nhóm coronavirus thuộc họ Coronaviridae trong bộ Nidovirales, có đường kính từ 65 đến 125 nm và chứa một sợi RNA dài từ 26 đến 32 kb Các loại coronavirus bao gồm alpha, beta, gamma, delta, như H5N1 của cúm A và H1N1 năm 2009, cùng nhóm với các loại virus gây hội chứng hô hấp ở Trung Đông (MERS-CoV) và hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS-CoV), nguyên nhân của dịch SARS năm 2003 và bùng phát MERS vào năm 2012.

Ngày 11 tháng 02 năm 2020, WHO công bố tên chính thức căn bệnh do coronavirus mới gây ra sẽ được đặt tên là COVID-19 [8].

SARS-CoV-2 đã nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới với nhiều quốc gia và được WHO tuyên bố là đại dịch toàn cầu vào ngày 11 tháng 3 năm 2020 [9].

Triệu chứng khởi phát của bệnh bao gồm sốt, ho khan, mệt mỏi và đau cơ Ngoài ra, người bệnh có thể gặp phải các triệu chứng như đau họng, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ho có đờm, nôn và tiêu chảy Một số trường hợp còn xuất hiện biểu hiện rối loạn khứu giác hoặc tê lưỡi, cho thấy các triệu chứng đa dạng và ảnh hưởng toàn diện đến sức khỏe người bệnh.

Hầu hết người bệnh mắc COVID-19 (hơn 80%) chỉ có triệu chứng nhẹ như sốt, ho, mệt mỏi và thường tự hồi phục sau khoảng một tuần mà không gặp phải viêm phổi Tuy nhiên, còn có những trường hợp không biểu hiện bất kỳ triệu chứng lâm sàng nào, khiến việc phát hiện và kiểm soát bệnh gặp nhiều khó khăn.

Khoảng gần 20% số bệnh nhân mắc COVID-19 diễn biến nặng, thường từ 5-8 ngày sau khi xuất hiện triệu chứng ban đầu Các biểu hiện nặng bao gồm viêm phổi, viêm phổi nặng cần nhập viện, trong đó khoảng 3-5% phải điều trị tại các đơn vị hồi sức tích cực với biểu hiện hô hấp cấp như thở nhanh, khó thở, tím tái Các biến chứng nặng khác có thể bao gồm hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), rối loạn đông máu, tổn thương vi mạch gây huyết khối và tắc mạch, viêm cơ tim, sốc nhiễm trùng, cũng như suy chức năng các cơ quan như thận và tim, dẫn đến tử vong.

Trong giai đoạn hồi phục sau 7-10 ngày toàn phát, nếu bệnh nhân không phát triển ARDS, họ sẽ dần hết sốt và các dấu hiệu lâm sàng trở lại bình thường, cuối cùng khỏi bệnh hoàn toàn.

Trầm cảm (Depression) theo Bảng phân loại thống kê Quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe liên quan (ICD-10) là một rối loạn cảm xúc thường biểu hiện bằng khí sắc trầm, mất quan tâm hoặc thích thú, giảm năng lượng gây mệt mỏi và giảm hoạt động kéo dài ít nhất 2 tuần Các triệu chứng đi kèm có thể bao gồm giảm khả năng tập trung chú ý, giảm tự trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội, nhìn nhận tương lai ảm đạm, ý nghĩ và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, và ăn ít ngon miệng, đòi hỏi sự chú ý và điều trị kịp thời.

Trước đó, Hippocrates sử dụng thuật ngữ “Melancholia” là tình trạng mất cân bằng chất mật đen trong cơ thể khiến cho buồn bã, sợ hãi, “tối đen”

Jean Esquirol (1772-1840) đã đặt ra thuật ngữ “Lypemania” để chỉ trạng thái u sầu, định nghĩa là một bệnh lý não với đặc trưng là mê sảng mãn tính không sốt, kéo dài gây ra buồn bã, suy nhược hoặc bức bối Năm 1874, bác sĩ tâm thần người Đức Richard von Krafft-Ebing mô tả chứng u sầu như một hiện tượng suy nhược tinh thần, thể hiện bởi trạng thái đau tâm thần kéo dài Theo Emil Kraepelin, bệnh u sầu (melancholia) xuất phát từ tâm lý, khi cảm giác không hài lòng, lo lắng và đau khổ mạnh mẽ chi phối tâm trạng liên tục và gây ra trạng thái u sầu kéo dài.

Năm 2003, Andrew Colman định nghĩa rõ hơn về trầm cảm là trạng thái buồn bã, vô vọng, những ý nghĩ bi quan, cùng với mất hứng thú hoặc thỏa mãn trong các hoạt động trước đây Trường hợp nặng có thể đi kèm với chứng biếng ăn, sụt cân, mất ngủ đặc biệt vào giữa hoặc cuối đêm hoặc chứng ngủ nhiều, suy nhược, cảm giác vô giá trị hoặc tội lỗi Ngoài ra, người mắc trầm cảm có thể gặp khó tập trung, suy giảm khả năng suy nghĩ, các ý nghĩ tái diễn về cái chết hoặc tự tử, khiến các triệu chứng này giống như rối loạn tâm thần.

Theo Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần lần thứ 5 của Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM – V, 2013), trầm cảm là một rối loạn tâm trạng nghiêm trọng và phổ biến, khiến người bệnh trải qua cảm giác buồn bã và tuyệt vọng dai dẳng cùng việc mất hứng thú với các hoạt động yêu thích Ngoài các vấn đề về cảm xúc, các triệu chứng thể chất như đau mãn tính hoặc các vấn đề tiêu hóa cũng thường xuất hiện Để chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm, các triệu chứng cần phải kéo dài ít nhất hai tuần.

Không phải ai bị trầm cảm cũng trải qua mọi triệu chứng; một số gặp vài triệu chứng trong khi những người khác có thể có nhiều hơn Các triệu chứng dai dẳng kèm tâm trạng thấp là cần thiết để chẩn đoán trầm cảm nặng, nhưng người chỉ có một số triệu chứng buồn bã vẫn có thể được lợi từ việc điều trị Mức độ nghiêm trọng, tần suất và thời gian các triệu chứng kéo dài sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng cá nhân và giai đoạn bệnh Các triệu chứng cũng thay đổi theo từng giai đoạn của bệnh, ảnh hưởng đến quá trình chẩn đoán và điều trị trầm cảm.

Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm:

DSM-5 quy định rằng để chẩn đoán trầm cảm, cá nhân cần trải qua ít nhất năm triệu chứng trở lên trong vòng hai tuần Trong số đó, ít nhất một triệu chứng phải là tâm trạng chán nản hoặc mất hứng thú/ vui vẻ Các tiêu chí này giúp xác định chính xác trạng thái trầm cảm dựa trên các biểu hiện lâm sàng cụ thể.

1.Tâm trạng chán nản hầu hết trong ngày, gần như mỗi ngày.

2.Giảm hứng thú hoặc niềm vui rõ rệt đối với tất cả, hoặc hầu như tất cả, các hoạt động hầu hết trong ngày, gần như mỗi ngày.

3.Giảm cân rõ rệt khi không ăn kiêng hoặc tăng cân, giảm hoặc tăng cảm giác thèm ăn gần như mỗi ngày.

4.Suy nghĩ chậm lại và giảm vận động (người khác có thể quan sát được chứ không chỉ cảm giác bồn chồn chủ quan hoặc bị chậm lại).

5.Mệt mỏi hoặc mất năng lượng gần như mỗi ngày.

6.Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi quá mức hoặc không phù hợp gần như mỗi ngày.

7.Khả năng suy nghĩ hoặc tập trung giảm sút, hoặc thiếu quyết đoán, gần như mỗi ngày.

Suy nghĩ về cái chết và ý định tự tử là những dấu hiệu quan trọng cần được quan tâm Khi ai đó lặp đi lặp lại những suy nghĩ này mà không có kế hoạch cụ thể hoặc có ý định tự sát rõ ràng, đó có thể là dấu hiệu cảnh báo về tình trạng tâm lý cần được hỗ trợ Hiểu rõ về các biểu hiện này giúp gia đình và cộng đồng nhận biết sớm và tìm cách can thiệp phù hợp để đảm bảo an toàn cho người có nguy cơ.

Lo âu là phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn và mối đe dọa từ tự nhiên, xã hội, giúp cảnh báo về nguy hiểm sắp tới để có thể ứng phó phù hợp Tuy nhiên, lo âu quá mức hoặc dai dẳng không phù hợp với mức độ đe dọa thực tế, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động hàng ngày và có thể đi kèm với những ý nghĩ hoặc hành động quá mức hoặc vô lý, gọi là lo âu bệnh lý Do đó, việc nhận biết và kiểm soát lo âu là rất quan trọng để duy trì sức khỏe tinh thần và chất lượng cuộc sống.

ĐẶC ĐIỂM CỦA LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở NGƯỜI NHIỄM

1.2.1 Đặc điểm của lo âu ở người nhiễm virus SARS- CoV- 2

Rối loạn lo âu là rối loạn tâm thần phổ biến nhất kéo dài suốt đời, thường bắt đầu từ thời thơ ấu và thanh thiếu niên Các dạng rối loạn này bao gồm RLLA tổng quát, RLLA xã hội, RLLA phân ly, ám ảnh sợ hãi cụ thể, rối loạn hoảng sợ và chứng sợ mất trí nhớ, với tỷ lệ mắc bệnh suốt đời gần 30%.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phần trăm người lớn Hoa Kỳ mắc các chứng Rối Loạn Lo Âu (RLLA) khác nhau, trong đó ám ảnh cụ thể chiếm khoảng 8-12%, RLLA xã hội khoảng 7%, rối loạn hoảng sợ từ 2-3%, sợ agoraphobia từ 1-2,9% ở thanh thiếu niên và người lớn Ngoài ra, RLLA tổng quát chiếm khoảng 2%, trong khi rối loạn phân ly khoảng 0,9-1,9% Phụ nữ có khả năng mắc RLLA cao hơn so với nam giới.

Các nghiên cứu cho thấy số liệu chẩn đoán lo âu đã gia tăng sau đại dịch COVID-19, đặc biệt ở những người nhiễm virus SARS-CoV-2, với tỷ lệ lo âu cao hơn so với nhóm bình thường Nghiên cứu của Stewart Ndutard Ngasa và cộng sự (2021) tại Bệnh viện Laquintinie Douala (Cameroon) đã đánh giá triệu chứng trầm cảm và lo âu ở 285 bệnh nhân mắc COVID-19 bằng Thang điểm Lo âu và Trầm cảm của Bệnh viện, kết quả cho thấy có tới 60,35% người tham gia mắc các triệu chứng lo âu Ngoài ra, nghiên cứu của Ebru Sahan và cộng sự (2020) cũng nhấn mạnh rằng các tác động tâm lý sau đại dịch, đặc biệt lo âu, đã ảnh hưởng đáng kể đến tâm trạng của các nhóm bị ảnh hưởng.

281 người mắc Covid-19 cho kết quả: 98 người bệnh (34%) có các triệu chứng của lo âu [21].

Lo âu là cảm giác phổ biến và mọi người thường xuyên trải qua mức độ lo lắng khác nhau trong cuộc sống Nguyên nhân gây bệnh RLLA có thể liên quan đến sự mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh như dopamine, serotonin và norepinephrine Hiểu rõ cơ chế gây bệnh giúp định hướng các phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

Phổ biến hơn là việc không mắc chứng RLLA, điều này có nghĩa là hầu hết những người bị lo lắng nghiêm trọng đều trải qua nhiều loại lo lắng khác nhau, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của họ.

Các yếu tố môi trường gia đình, như hành vi nuôi dạy con cái, có thể tác động đến nguy cơ mắc RLLA Ngoài ra, trải qua các sự kiện căng thẳng hoặc căng thẳng mãn tính trong cuộc sống cũng làm tăng khả năng phát triển chứng RLLA Khả năng tiếp cận hạn chế với các nguồn lực kinh tế xã hội hoặc là thành viên của nhóm thiểu số cũng được xem là yếu tố liên quan đến nguy cơ cao hơn của RLLA.

Trải qua mộttình trạng bệnh mãn tính, bệnh nặng, người nhà mắc bệnh cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc chứng RLLA [22].

Lo lắng về sức khỏe của người mắc COVID-19 thường xuất phát từ những hiểu sai về cảm giác cơ thể và những thay đổi nhận thức, có thể mang lại lợi ích trong việc tự bảo vệ hàng ngày Tuy nhiên, trong thời kỳ dịch bệnh bùng phát, thông tin sai lệch hoặc phóng đại trên truyền thông về các yếu tố như cách lây truyền virus, thời gian ủ bệnh, phạm vi dịch bệnh, số ca nhiễm và tỷ lệ tử vong đã làm gia tăng sự bất an và lo sợ trong cộng đồng Các biện pháp như theo dõi tiếp xúc và cách ly 14 ngày nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng cũng có thể gây ra lo lắng, mặc cảm và cảm giác kỳ thị đối với người bệnh, gia đình và bạn bè của họ.

Các nghiên cứu cho thấy rằng lo lắng, khó nhớ, khó tập trung và tâm trạng chán nản là những triệu chứng tâm thần kinh chính ở bệnh nhân nhiễm coronavirus Sự xuất hiện của các triệu chứng này có thể là hậu quả của việc bị nhiễm virus, cho thấy tầm quan trọng của việc theo dõi các biểu hiện tâm thần khi điều trị COVID-19 [25].

Theo nghiên cứu của Bun Sheng và cộng sự (2005), mức độ nghiêm trọng của bệnh nhân mắc hội chứng hô hấp cấp tính và việc sử dụng corticosteroid có mối liên hệ đáng kể với các biểu hiện lo âu, trầm cảm, rối loạn tâm thần và các vấn đề về hành vi trong giai đoạn cấp tính Tác dụng phụ của corticosteroid còn ảnh hưởng đến các triệu chứng lo âu, trầm cảm với tỷ lệ chiếm khoảng 2,9%.

Các triệu chứng chính của bệnh gồm lo âu và hoảng sợ, thường xuất hiện đột ngột và kéo dài trong nhiều tuần, thường là khoảng 6 tháng Bệnh có thể xuất hiện theo từng cơn cấp, lặp đi lặp lại, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Sợ hãi (lo lắng về bất hạnh trong tương lai, cảm giác “dễ cáu”, khó tập trung…).

Căng thẳng vận động (bồn chồn, đứng ngồi không yên, đau căng đầu, run chân tay, không có khả năng thư giãn)

Hoạt động quá mức thần kinh tự chủ (đầu óc trống rỗng, ra mồ hôi, mạch nhanh, thở gấp, khó chịu vùng thượng vị, chóng mặt…)

Sự lo âu-sợ hãi là biểu hiện chính, chủ yếu, nguyên phát dẫn đến phản ứng sợ sệt quá mức.

Người bệnh khó vào giấc ngủ vì suy nghĩ nghiền ngẫm trong đêm, thức giấc lúc nửa đêm hoặc gặp ác mộng [27].

1.2.2 Đặc điểm của trầm cảm ở người nhiễm virus SARS- CoV- 2

Rối loạn trầm cảm là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và phổ biến, gây tàn tật hàng đầu trên thế giới, ảnh hưởng đến khoảng 5-17% dân số Hơn 350 triệu người worldwide mắc trầm cảm, trong đó có đến 40-80% có ý định tự tử và 20-40% cố gắng tự tử, với tỷ lệ thành công từ 12-18% Mỗi năm, ước tính khoảng một triệu người tử vong do trầm cảm Phụ nữ gặp phải rối loạn này nhiều hơn nam giới với tỷ lệ 2/1, đặc biệt phổ biến ở độ tuổi 25-44, và thường có xu hướng tái phát khiến việc điều trị trở nên cần thiết và cấp bách.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 phức tạp hiện nay, tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần ngày càng gia tăng, đặc biệt là trầm cảm ở những người nhiễm virus SARS-CoV-2 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những người nhiễm COVID-19 có nguy cơ phát triển trầm cảm cao hơn so với người bình thường, phản ánh tác động tiêu cực của dịch bệnh đến sức khỏe tâm thần cộng đồng Các dữ liệu tổng hợp cho thấy tình trạng căng thẳng và lo âu do dịch bệnh góp phần làm trầm trọng thêm các triệu chứng trầm cảm, đặt ra yêu cầu cần có các chiến lược phòng ngừa và chăm sóc tâm thần phù hợp trong thời điểm hiện tại. -**Sponsor**Hiểu được nỗi lo của một người làm nội dung như bạn! Việc viết lại bài và đảm bảo chuẩn SEO đôi khi khá mệt mỏi Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/RPwU6fYv?user_id=983577), bạn có thể tạo ra các bài viết 2,000 từ, tối ưu SEO ngay lập tức, giúp bạn tiết kiệm hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết đấy! Nó giống như có một đội ngũ content riêng mà không gặp rắc rối nào cả!

Nghiên cứu của Jiawen Deng và cộng sự (2020) chỉ ra rằng có tới 45% bệnh nhân COVID-19 gặp phải các triệu chứng trầm cảm, cho thấy tác động tâm lý đáng kể của dịch bệnh Trong khi đó, nghiên cứu trên 234 người bệnh tại Hàn Quốc của Su Jin Jeong và cộng sự (2020) ghi nhận tỷ lệ trầm cảm là 14%, phản ánh mức độ khác nhau của các ảnh hưởng tâm lý trong các nhóm bệnh nhân Các kết quả này cho thấy rằng COVID-19 ảnh hưởng không chỉ đến sức khỏe thể chất mà còn đáng kể đối với sức khỏe tâm thần của người bệnh.

(2020) cũng ghi nhận tỷ lệ trầm cảm là 34% ở người bệnh COVID-19 [31].

Căn nguyên và cơ chế gây bệnh

Nguyên nhân của bệnh trầm cảm là do sự kết hợp của nhiều yếu tố, bao gồm yếu tố sinh học, di truyền, tâm lý và môi trường, theo lý thuyết phát triển thần kinh, các yếu tố này bổ sung và tác động lẫn nhau để hình thành cơ sở của bệnh.

Trầm cảm nguyên phát gồm ba loại chính: trầm cảm nội sinh, còn gọi là trầm cảm chưa rõ nguyên nhân, thường xuất hiện trong các dạng rối loạn cảm xúc như phân liệt cảm xúc, rối loạn cảm xúc lưỡng cực hoặc trầm cảm thoái triển; trầm cảm tâm sinh phát sinh sau các sang chấn tâm thần hoặc xung đột hoàn cảnh, gọi là trầm cảm phản ứng; và cuối cùng là trầm cảm thực tổn do các bệnh thực tổn não hoặc các bệnh toàn thân khác, bao gồm cả trầm cảm do nhiễm độc ma túy hoặc rượu.

GIỚI THIỆU VỀ CÁC THANG ĐO LƯỜNG LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Hiện nay, có nhiều bộ công cụ toàn diện được sử dụng để nghiên cứu và đánh giá các vấn đề sức khỏe tâm thần trên toàn thế giới Các công cụ phổ biến trong nghiên cứu khoa học bao gồm thang tự đánh giá lo âu của Zung (SAS), thang đánh giá lo âu của Beck (BAI), thang đo đánh giá trầm cảm của Beck (BDI), cùng với thang điểm tự đánh giá trầm cảm của Zung (SDS) Ngoài ra, còn có thang đo trầm cảm PHQ-9 của Spitzer, Williams và Kroenke, thang đánh giá trầm cảm và lo âu (AKUADS), và các thang đo stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond như DASS 21 và DASS 42 Thang đo Lo âu và Trầm cảm Bệnh viện (HADS) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tâm thần học hệ thống.

Thang đo Lo âu và Trầm cảm Bệnh viện (HADS), được phát triển bởi Zigmond và Snaith năm 1983, là công cụ tự đánh giá tin cậy, dễ sử dụng giúp nhận biết các biểu hiện trầm cảm và lo âu trong môi trường bệnh viện Thang đo gồm 14 câu hỏi, trong đó 7 câu đánh giá lo âu (liên quan đến sự hoảng hốt, cảm giác nôn nao, căng thẳng và bồn chồn) và 7 câu đánh giá trầm cảm (bao gồm mất hứng thú, diện mạo, cảm xúc chậm chạp và trì hoãn), mỗi câu được đánh giá từ 0 đến 3 điểm dựa trên mức độ triệu chứng của người bệnh Tổng điểm trong từng phần lo âu hoặc trầm cảm cho biết mức độ rối loạn: 0-7 bình thường, 8-10 ranh giới, 11-14 mức trung bình, và 15-21 mức nghiêm trọng Ngoài ra, có 2 câu trong tiểu thang lo âu và 4 câu trong tiểu thang trầm cảm cần tính điểm đổi Nghiên cứu của Aben et al (2002) xác nhận độ tin cậy của thang đo HADS với chỉ số Cronbach's alpha là 0.85, giúp đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy trong đánh giá tâm lý.

Thang điểm lo âu và trầm cảm bệnh viện (HADS) là công cụ đánh giá cảm xúc phổ biến giúp phân biệt rõ ràng các triệu chứng lo âu và trầm cảm do tổn thương thực thể, xác định mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng Thang đo HADS hoạt động hiệu quả trong việc đánh giá trạng thái tâm lý của bệnh nhân Để hỗ trợ đánh giá xã hội, nhóm nghiên cứu sử dụng Thang đo cảm nhận Đa chiều về Hỗ trợ Xã hội (MSPSS), được phát triển nhằm đo lường mức độ hỗ trợ xã hội nhận thức từ các nguồn khác nhau.

MSPSS do Zimet và cộng sự phát triển vào năm 1988, là một thang đo ngắn gọn, dễ sử dụng và phù hợp cho các nghiên cứu hạn chế về thời gian Thang đo gồm 12 mục, được thiết kế để đo lường sự hỗ trợ xã hội cảm nhận từ ba nguồn chính: Gia đình, Bạn bè và Người quan trọng khác, với cấu trúc gồm ba yếu tố và mỗi yếu tố gồm bốn mục đề cập đến trợ giúp thực tế, hỗ trợ tinh thần, khả năng thảo luận các vấn đề và giúp đỡ trong quá trình ra quyết định Người tham gia thể hiện sự đồng ý của mình qua thang điểm Likert 7 mức từ rất không đồng ý đến rất đồng ý, với tổng điểm từ 12 đến 84 Các mức điểm từ 12–48 thể hiện mức độ hỗ trợ xã hội thấp, từ 49–68 là mức vừa phải, còn từ 69–84 là mức cao Theo báo cáo của Zimet và cộng sự, độ tin cậy nội bộ của thang đo MSPSS đạt 0,88 cho toàn bộ thang, trong đó các yếu tố riêng lẻ có độ tin cậy lần lượt là 0,87 cho Gia đình, 0,85 cho Bạn bè và 0,91 cho Người quan trọng khác, trong khi thử nghiệm lặp lại đạt 0,85, cho thấy độ tin cậy cao và tính nhất quán của công cụ đo lường này.

Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu đã chọn thang đo HADS vàMSPSS để sử dụng cho nghiên cứu của mình.

MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NGƯỜI NHIỄM SARS- CoV- 2 TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới:

Hiện nay, các vấn đề sức khỏe tâm thần ngày càng nhận được sự quan tâm nhiều hơn, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đã trở thành một vấn đề toàn cầu nghiêm trọng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa COVID-19 và các vấn đề về lo âu, trầm cảm ở nhiều nhóm đối tượng như học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên, người mắc các bệnh mãn tính, phụ nữ mang thai, sinh viên y dược, nhân viên y tế và những người trực tiếp hoặc gián tiếp chăm sóc sức khỏe cộng đồng Đặc biệt, những người dương tính với SARS-CoV-2 đều gặp phải những thách thức về tâm thần đáng kể trong giai đoạn đại dịch.

Nghiên cứu của Xiangyu Kong và cộng sự (2020) đã đánh giá các triệu chứng trầm cảm và lo âu bằng Thang điểm Lo âu và Trầm cảm của Bệnh viện, nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các triệu chứng này đến sức khỏe tâm thần của bệnh nhân Các kết quả cho thấy rằng, việc sử dụng thang điểm này giúp chẩn đoán chính xác hơn các rối loạn tâm thần như trầm cảm và lo âu, từ đó đề xuất các phương pháp can thiệp phù hợp Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi liên tục các triệu chứng để cải thiện chất lượng điều trị và hỗ trợ tâm lý cho người bệnh.

Nghiên cứu về mức độ lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân COVID-19 sử dụng Thang điểm Hỗ trợ Xã hội Nhận thức (PSSS) cho thấy có tới 34,72% người tham gia có các triệu chứng lo âu và 28,47% có triệu chứng trầm cảm Kết quả cũng cho thấy các yếu tố như giới tính nữ, tuổi cao, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn và việc các thành viên trong gia đình bị nhiễm bệnh liên quan đến mức độ lo âu, trầm cảm của bệnh nhân Các bệnh nhân nữ, lớn tuổi, có mức độ bão hòa oxy thấp và ít nhận được hỗ trợ xã hội có xu hướng gặp nhiều lo âu hơn; trong khi đó, những người sống trong gia đình nhiễm bệnh, ít hỗ trợ xã hội, lại có nguy cơ trầm cảm cao hơn Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ thu thập dữ liệu khi bệnh nhân nhập viện, hạn chế khả năng phân tích các biến đổi theo thời gian.

Nghiên cứu của Clara Paz và cộng sự (2020) sử dụng thang đo trầm cảm (PHQ-9) và lo âu (GAD-7) để đánh giá tình trạng tâm lý của bệnh nhân nghi nhiễm và xác nhận mắc COVID-19 tại Ecuador Kết quả cho thấy, trong mẫu nghiên cứu gồm 759 người, có 22,9% bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 và 18,5% người nghi nhiễm bị trầm cảm; tỷ lệ lo âu ở hai nhóm này lần lượt là 24,2% và 21,4%, với sự chênh lệch không đáng kể Nghiên cứu không ghi nhận sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ trầm cảm và lo âu giữa các nhóm xác nhận và nghi ngờ nhiễm bệnh, tập trung phân tích đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng của hai nhóm này mà chưa mở rộng sang các yếu tố cá nhân như mối quan hệ gia đình, bạn bè hay các yếu tố xã hội.

Nghiên cứu của Jie Zhang, Zhen Yang và cộng sự (07/2020) đã sử dụng Thang điểm Lo âu và Trầm cảm Bệnh viện (HADS) để đánh giá mức độ lo âu và trầm cảm ở các bệnh nhân mắc COVID-19 Mẫu nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân COVID-19 có triệu chứng và không có triệu chứng, giúp xác định tỷ lệ mắc các vấn đề tâm lý trong cộng đồng người nhiễm bệnh Kết quả chỉ rõ rằng mức độ lo âu và trầm cảm cao hơn đáng kể ở nhóm bệnh nhân, cho thấy sự ảnh hưởng của COVID-19 đối với sức khỏe tâm thần Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và can thiệp tâm lý cho bệnh nhân mắc COVID-19 để giảm thiểu tác động lâu dài.

Trong nghiên cứu về 296 bệnh nhân nhiễm COVID-19 nhẹ tại Bệnh viện FangCang, Vũ Hán, tỷ lệ lo âu và trầm cảm lần lượt là 20,9% và 18,6% Nghiên cứu cho thấy, những người mắc SARS-CoV-2 có triệu chứng nhẹ vẫn đối mặt với các vấn đề về tâm lý như lo âu và trầm cảm Tuy nhiên, khả năng phục hồi của bệnh nhân có mối liên hệ tiêu cực với các vấn đề tâm lý này, tức là những bệnh nhân có khả năng phục hồi cao hơn thường gặp ít lo âu và trầm cảm hơn Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy quá trình phục hồi tâm lý cho người mắc COVID-19 nhẹ để giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe tinh thần.

Nghiên cứu của Xueyi Li, Jun Tian và Qun Xu (2020) đã sử dụng Thang điểm Lo âu và Trầm cảm Bệnh viện (HADS) để đánh giá tình trạng lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân mắc COVID-19, giúp xác định chính xác các vấn đề tâm lý liên quan đến đại dịch Mẫu khảo sát của nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân đang điều trị và hồi phục sau nhiễm COVID-19, góp phần làm rõ mức độ ảnh hưởng của virus đối với tâm trạng của người bệnh Các kết quả từ nghiên cứu này cung cấp cơ sở để xây dựng các chiến lược hỗ trợ tâm lý phù hợp cho bệnh nhân COVID-19, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và phục hồi tâm thần.

Trong số 99 bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 tại Bệnh viện Leishenshan ở Trung Quốc, có 41,5% xuất hiện các biểu hiện lo âu, trong khi 50,5% bị trầm cảm Nghiên cứu cho thấy yếu tố tuổi tác và giới tính liên quan đến triệu chứng lo âu, còn tuổi và thời gian nằm viện là những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến mức độ trầm cảm của bệnh nhân COVID-19.

Một nghiên cứu tổng hợp của Jiawen Deng và cộng sự (10/2020) đã phân tích 31 nghiên cứu với tổng số 5153 bệnh nhân từ các nguồn dữ liệu như MEDLINE, EMBASE, PubMed, Web of Science, CINAHL, Wanfang Data, Wangfang Med Online, CNKI và CQVIP, chủ yếu là bệnh nhân nội trú đến từ Trung Quốc Kết quả cho thấy, có tới 45% bệnh nhân COVID-19 mắc phải trầm cảm, trong khi 47% gặp phải các triệu chứng lo âu, làm nổi bật tác động tâm lý nghiêm trọng của đại dịch đối với người bệnh.

1.4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam:

Tại Việt Nam, vấn đề sức khỏe tâm thần (SKTT) ngày càng được quan tâm hơn, tuy nhiên, nghiên cứu về lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 vẫn còn hạn chế Các nghiên cứu này giúp làm rõ mức độ ảnh hưởng của dịch bệnh đến tâm lý người bệnh và thúc đẩy các chiến lược hỗ trợ tâm thần hiệu quả hơn Việc tăng cường nghiên cứu về lo âu và trầm cảm trong bối cảnh đại dịch sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cộng đồng.

Theo khảo sát của Tiến sĩ tâm lý Trì Thị Minh Thúy vào tháng 9/2021 tại Bệnh viện Hồi sức COVID-19 TP.Hồ Chí Minh (do Bệnh viện Chợ Rẫy phụ trách), tỷ lệ bệnh nhân COVID-19 gặp các vấn đề về tâm thần như trầm cảm là 20%, rối loạn lưỡng cực (RLLA) là 53,3%, và căng thẳng (stress) là 16,7% Những bệnh nhân từng thở HFNC có tỷ lệ trầm cảm lên tới 66,7%, tương tự, các bệnh nhân từng thở oxy qua mặt nạ hoặc thở máy cũng có tỷ lệ RLLA cao, lên tới 66,7% Ngoài ra, phần lớn bệnh nhân (67%) mong muốn được tư vấn, điều trị tâm lý trong suốt quá trình điều trị tại bệnh viện và sau khi xuất viện, cho thấy nhu cầu quan trọng về chăm sóc tâm thần sau COVID-19.

Nghiên cứu cho thấy sức khỏe tâm thần của bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 cần được chú trọng hơn, nhưng các nghiên cứu về lo âu và trầm cảm ở nhóm này còn hạn chế Nhóm nghiên cứu mong muốn đóng góp vào lĩnh vực sức khỏe tâm thần liên quan đến COVID-19 bằng cách cung cấp thêm thông tin chính xác và toàn diện Việc mô tả bức tranh tổng thể về sức khỏe tâm thần bệnh nhân COVID-19 sẽ giúp xác định các yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Bệnh nhân được chẩn đoán mắc virus SARS-CoV-2 và đã được điều trị tại bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp vào tháng 8 năm 2021.

Bệnh nhân đồng ý tham gia điền vào biểu mẫu trực tuyến sau khi được giới thiệu và giải thích về nghiên cứu.

Bệnh nhân gặp khó khăn trong việc thực hiện biểu mẫu trực tuyến.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu trong tháng 08/2021.

Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, chúng tôi đã gửi phiếu khảo sát để thu thập thông tin trong tháng 08/2021 Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp nhằm đảm bảo an toàn và phù hợp với tình hình dịch bệnh.

Đồng Tháp, tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, gồm các huyện như Cao Lãnh, Châu Thành, Hồng Ngự, Lai Vung, Lấp Vò, Tam Nông, Tân Hồng, Thanh Bình và Tháp Mười Tính đến ngày 23/9/2021, tỉnh ghi nhận tổng cộng 8.205 ca nhiễm SARS-CoV-2 và 205 ca tử vong, cho thấy tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp tại địa phương.

Để phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19, Khu Ký túc xá sinh viên của Trường cao đẳng Cộng đồng tại phường Hoà Thuận, thành phố Cao Lãnh được trưng dụng làm nơi tiếp nhận, thu dung và điều trị các ca mắc Covid-19 không triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ Khu ký túc xá này có khả năng tiếp nhận tối đa khoảng 1.600 người, với chia thành hai khu: một khu 09 tầng đang quản lý hơn 940 ca, và một khu 06 tầng có gần 500 ca.

Trong hệ thống y tế, việc phân tầng điều trị là rất quan trọng, bao gồm việc phân luồng và tách biệt những bệnh nhân không triệu chứng và những bệnh nhân có triệu chứng Khi bệnh nhân xuất hiện triệu chứng hoặc có chuyển biến bệnh lý, họ sẽ được chuyển sang các cơ sở điều trị phù hợp để đảm bảo chăm sóc y tế hiệu quả và nhanh chóng Chính sách này giúp tối ưu hóa nguồn lực y tế, nâng cao chất lượng điều trị và giảm thiểu rủi ro lây nhiễm trong cộng đồng.

03 Bệnh viện: Quân dân Y, Phục hồi chức năng, Y học cổ truyền; chuyển biến nặng thì chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc, Bệnh viện Phổi [47].

2Hình 2 Bản đồ tỉnh Đồng Tháp [47]

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng Cộng động tỉnh Đồng Tháp đồng ý tham gia vào nghiên cứu.

Cỡ mẫu đã thu thập được là 54 bệnh nhân.

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu bao gồm chọn mẫu thuận tiện hoặc chọn toàn bộ bệnh nhân đủ điều kiện tham gia Bộ câu hỏi được gửi đến tất cả các phòng bệnh thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu để đảm bảo tính khách quan và độ chính xác của kết quả.

2.3.3 Các biến số nghiên cứu

Bảngg 1 Bảng 2.1 Một số biến số nghiên cứu

STT Tên biến Định nghĩa Loại biến

Trong bài viết này, chúng tôi mô tả đặc điểm của các bệnh nhân COVID-19 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2021, đặc biệt tập trung vào các triệu chứng trầm cảm và lo âu Nghiên cứu cho thấy nhiều bệnh nhân đối mặt với tình trạng tâm lý căng thẳng, lo lắng kéo dài do ảnh hưởng của dịch bệnh và điều kiện cách ly Các triệu chứng trầm cảm thường xuất hiện do cảm giác cô đơn, mất khả năng kiểm soát và sợ hãi về tình hình sức khỏe của bản thân và người thân Hiểu rõ đặc điểm tâm lý này giúp xây dựng các phương pháp hỗ trợ tâm lý phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe tinh thần của bệnh nhân trong giai đoạn điều trị.

Mức độ lo âu của người nhiễm virus SARS- CoV-

2 theo thang đo HADS (bình thường, ranh giới, lo âu) Định tính

Mức độ trầm cảm của người nhiễm virus SARS- CoV- 2 theo thang đo HADS (bình thường, ranh giới, trầm cảm) Định tính

Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần ở bệnh nhân COVID-19 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2021 Nghiên cứu nhằm hiểu rõ các yếu tố tâm lý và xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của người bệnh trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp Việc xác định các yếu tố này giúp nâng cao khả năng can thiệp, hỗ trợ tâm lý kịp thời và giảm thiểu các rối loạn tâm thần liên quan đến COVID-19 Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để phát triển các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần phù hợp, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch bệnh đến tâm lý bệnh nhân.

1 Tuổi Tính theo năm dương lịch Định tính

2 Giới tính Giới tính nam hoặc nữ theo thông tin CMND Định tính

Trình độ học vấn cao nhất mà ĐTNC hoàn thành (tiểu học/ THCS, THPT, Cao đẳng/ Đại học) Định tính

Là độc thân, chung sống với vợ/ chồng, ly thân/ly hôn, góa Định tính

Thời gian tính theo ngày bắt đầu từ khi bệnh nhân nhập viện đến ngày thực hiện khảo sát phản ánh khoảng thời gian nhiễm bệnh của đối tượng nghiên cứu Đây là yếu tố quan trọng để đánh giá diễn biến của bệnh và ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Việc xác định đúng thời gian nhiễm bệnh giúp cải thiện độ chính xác của các phân tích liên quan đến diễn biến bệnh lý và hiệu quả điều trị.

Bệnh nhân có triệu chứng bệnh hay không có triệu chứng. Định tính

7 Có người thân nằm cùng phòng điều trị

Là có hay không có thành viên trong gia đình nằm cùng phòng điều trị Định tính

Là có hay không có người thân (người thân trong gia đình, đồng nghiệp, hàng xóm) cũng nhiễm virus SARS- CoV- 2 Định tính

9 Tiền sử bệnh tâm lý, tâm thần

Là có hay không có bệnh lý về tâm lý, tâm thần trước khi vào viện Định tính

Là có hay không có bệnh lý mạn tính đã và đang điều trị Định tính

11 Cảm giác áy náy, tội lỗi

Là có hay không có cảm giác áy náy, tội lỗi vì gây bệnh cho người khác. Định tính

12 Mức độ lo lắng về biến chứng của bệnh

Là không lo lắng, lo lắng ở mức bình thường, rất lo lắng Định tính

13 Giận giữ, không chấp nhận bị bệnh

Có hay không cảm thấy bực bội khi mình bị nhiễm bệnh Định tính

14 Hài long với điều trị

Có hay không hài lòng với quá trình điều trị tại bệnh viện Định tính

15 Mức độ hỗ trợ xã hội

Mức độ hỗ trợ xã hội tính theo thang điểm MSPSS (mức độ thấp, mức độ vừa phải, mức độ cao) Định tính

Công cụ nghiên cứu

Bộ câu hỏi gồm 15 câu hỏi về nhân khẩu học và 14 câu hỏi theo thang đo HADS và 12 câu hỏi theo thang đo MSPSS.

Thang đo Lo âu và Trầm cảm Bệnh viện (HADS) là công cụ tự điền gồm 14 mục chia thành hai phần A (Lo âu) và D (Trầm cảm), mỗi phần gồm 7 mục Điểm số của từng mục được đánh giá từ 0 đến 3 dựa trên mức độ lo âu hoặc trầm cảm đã thể hiện ở người bệnh, trong đó 0 điểm tương ứng không có triệu chứng và 3 điểm là mức độ cao nhất Tổng điểm của mỗi phần được tính bằng tổng điểm của 7 mục liên quan, giúp đánh giá mức độ lo âu hoặc trầm cảm của bệnh nhân một cách chính xác và khách quan theo hướng dẫn của bảng chuẩn.

Bảngg 2 Bảng 2.2 Mức độ lo âu, trầm cảm theo thang điểm HADS

Có biểu hiện Lo âu/ Trầm cảm 11-21

Thang đo cảm nhận Đa chiều về Hỗ trợ Xã hội (MSPSS) gồm 12 mục được thiết kế để đo lường mức độ hỗ trợ xã hội cảm nhận từ ba nguồn chính: Gia đình, Bạn bè và Người quan trọng khác Mỗi mục có điểm số từ 0 đến 7, phản ánh mức độ đồng ý từ rất không đồng ý đến rất đồng ý Kết quả đánh giá dựa trên bảng phân loại rõ ràng để xác định mức độ hỗ trợ xã hội mà cá nhân cảm nhận.

Bảngg 3 Bảng 2.3 Mức độ hỗ trợ Xã hội theo thang điểm MSPSS

Phương pháp thu thập số liệu

Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên các biến số nghiên cứu để đảm bảo tính chính xác và phù hợp Sau khi hoàn thành, bộ câu hỏi sẽ được thử nghiệm trên bệnh nhân để kiểm tra tính logic và sự phù hợp của các câu hỏi trong khảo sát Việc điều tra thử giúp đảm bảo các câu hỏi phản ánh đúng mục tiêu nghiên cứu và nâng cao chất lượng dữ liệu thu thập.

Sau khi thử nghiệm xong, bệnh viện sẽ liên hệ quản lý để xin danh sách bệnh nhân phù hợp và lựa chọn thời điểm thích hợp để tiếp xúc Những bệnh nhân tham gia sẽ được mời tham gia nghiên cứu, trong đó sẽ được giải thích rõ ràng mục đích, tính bảo mật của nghiên cứu, cùng với thời gian cần thiết để hoàn thành phiếu điều tra Người tham gia sẽ quyết định có đồng ý hay không dựa trên thông tin đầy đủ đã được cung cấp.

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được cung cấp phiếu điều tra online thông qua Google form và tự đánh giá.

Nghiên cứu này tiến hành thu thập dữ liệu thông qua khảo sát trực tuyến, sử dụng mẫu phiếu điện tử được thiết kế trên Google Form, giúp dễ dàng thu thập phản hồi từ người tham gia Thời gian trả lời khảo sát nhanh, khoảng từ 2 đến 5 phút, đảm bảo sự thuận tiện và linh hoạt cho người tham gia Phương pháp khảo sát trực tuyến này giúp nâng cao hiệu quả thu thập dữ liệu và tiết kiệm thời gian nghiên cứu.

Quản lý, xử lý và phân tích số liệu

Thông tin được làm sạch và mã hóa bằng Microsoft excel.

Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS giúp thực hiện cả thống kê mô tả và thống kê suy luận để hiểu rõ dữ liệu Thống kê mô tả các biến định lượng như trung bình, trung vị và độ lệch chuẩn cung cấp cái nhìn tổng quan về dữ liệu, trong khi thống kê mô tả các biến định tính bằng tỷ lệ phần trăm giúp xác định tần suất và tỷ lệ phân bổ Thống kê suy luận được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm đối với biến định lượng, đảm bảo độ chính xác của kết quả Mức ý nghĩa thống kê p 0,05).

Bảngg 15 Bảng 3.12 Mối liên quan giữa trầm cảm ở bệnh nhân COVID-19 và đặc điểm cá nhân Đặc điểm cá nhân

Tình trạng hôn nhân Độc thân/ Ly thân/ Goá

Sống chung với vợ/chồng

THPT 1 4,3 22 95,7 Đại học/ Cao đẳng

Có người thân nằm cùng phòng điều trị

Có người thân Có 4 10,3 35 89,7 0,743 nhiễm SARS-

Mức độ hỗ trợ xã hội (được tính theo thang điểm

Theo bảng 3.12, các yếu tố như độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, sự có mặt của người thân trong phòng điều trị, người thân nhiễm SARS-CoV-2, và mức độ hỗ trợ xã hội đều không có mối liên hệ đáng kể với thực trạng trầm cảm của bệnh nhân COVID-19 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp (p>0,05).

3.2.2 Mối liên quan giữa rối loạn tâm thần ở bệnh nhân và tiền sử, diễn biến bệnh

Bảngg 16 Bảng 3.13 Môi liên quan giữa lo âu của bệnh nhân COVID-19 và tiền sử, diễn biến bệnh Đặc điểm

Tiền sử bệnh tâm lý, tâm thần

Kết quả bảng 3.13 chỉ ra rằng thời gian nằm viện có ảnh hưởng rõ rệt đến mức độ lo âu của bệnh nhân COVID-19 Cụ thể, bệnh nhân nằm viện không quá 7 ngày có khả năng biểu hiện lo âu cao gấp 8,6 lần so với những người nằm viện lâu hơn 7 ngày (POR= 8,6) Sự khác biệt này đạt ý nghĩa thống kê với p=0,036, cho thấy thời gian nằm viện là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tâm lý của bệnh nhân COVID-19.

Theo bảng 3.13, không có mối liên quan đáng kể giữa tiền sử bệnh tâm lý/tâm thần và các triệu chứng lo âu trong nhóm nghiên cứu, dù có sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm (p>0,05) Trong khi đó, bảng 3.14 cho thấy mối liên quan giữa trầm cảm của bệnh nhân COVID-19 và tiền sử bệnh, cũng như diễn biến bệnh nằm viện trên 7 ngày, với các tỷ lệ và mức độ rủi ro kèm theo, làm nổi bật tầm quan trọng của việc theo dõi tâm lý bệnh nhân trong quá trình điều trị.

Tiền sử bệnh tâm lý, tâm thần

Kết quả bảng 3.14 cho thấy, thời gian nằm viện liên quan đến dấu hiệu trầm cảm của bệnh nhân COVID-19 Cụ thể, những bệnh nhân nằm viện trong vòng 7 ngày hoặc less có tỷ lệ biểu hiện trầm cảm cao gấp 15 lần so với những bệnh nhân nằm viện trên 7 ngày, và sự khác biệt này đã được chứng minh là có ý nghĩa thống kê với giá trị p=0,014.

Mối liên hệ giữa tiền sử bệnh tâm lý/tâm thần và nguy cơ biểu hiện trầm cảm trong nhóm nghiên cứu không rõ ràng, mặc dù có sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm (p>0,05) Các kết quả cho thấy rằng, bệnh lý tâm thần trước đây không đóng vai trò rõ rệt trong việc tăng nguy cơ mắc trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu Điều này cho thấy yếu tố tiền sử bệnh tâm lý không có tác động đáng kể đến khả năng phát triển biểu hiện trầm cảm, giúp làm rõ hơn các yếu tố liên quan đến bệnh lý tâm thần và trầm cảm.

3.2.3 Mối liên quan giữa rối loạn tâm thần của bệnh nhân và trạng thái cảm xúc khi mắc bệnh

Bảngg 18 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa lo âu của bệnh nhân COVID-19 và trạng thái cảm xúc khi mắc bệnh Đặc điểm cá nhân

Cảm giác áy náy, tội lỗi

Giận giữ, không chấp nhận bị bệnh

Mức độ lo lắng về biến chứng của bệnh

Bảng 3.15 cho thấy có mối liên quan đáng kể giữa cảm xúc giận dữ, thái độ không chấp nhận bệnh và các dấu hiệu lo âu của bệnh nhân COVID-19 Những bệnh nhân thể hiện sự giận dữ và không chấp nhận mắc bệnh có nguy cơ lo âu cao hơn so với những người chấp nhận bệnh, với tỷ lệ lần lượt là 25,8% và 0% Sự khác biệt này đã được xác nhận về mặt thống kê với giá trị p=0.015, cho thấy rõ ảnh hưởng của tâm lý đến trạng thái lo âu trong quá trình điều trị COVID-19.

Theo bảng 3.15, không có mối liên quan statistically có ý nghĩa giữa cảm giác áy náy, tội lỗi khi lây bệnh cho người khác, mức độ lo lắng về biến chứng của bệnh và sự hài lòng với cơ sở điều trị đối với nguy cơ biểu hiện lo âu ở nhóm nghiên cứu, dù có sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm (p>0,05).

Bảngg 19 Bảng 3.16 Mối liên quan giữa trầm cảm của bệnh nhân COVID-19 và trạng thái cảm xúc khi mắc bệnh thường

Hài lòng với điều trị

Cảm giác áy náy, tội lỗi

Dựa trên bảng 3.16, các yếu tố như cảm giác áy náy, tội lỗi khi lây bệnh cho người khác, giận giữ, không chấp nhận bị bệnh và mức độ lo lắng về biến chứng của bệnh chưa có mối liên quan đáng kể đến thực trạng trầm cảm của bệnh nhân COVID-19 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp (p>0,05).

Mức độ lo lắng về biến chứng của bệnh

Lo lắng ở mức bình thường

Hài lòng với điều trị

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 01/02/2023, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. The impact of COVID-19 on mental, neurological and substance use services. <https://www.who.int/publications-detail-redirect/978924012455>, accessed: 05/29/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of COVID-19 on mental, neurological and substance use services
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2022
13. Depression Definition and DSM-5 Diagnostic Criteria. Psycom.net - Mental Health Treatment Resource Since 1996,<https://www.psycom.net/depression-definition-dsm-5-diagnostic-criteria/>, accessed: 05/26/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression Definition and DSM-5 Diagnostic Criteria
14. Depression. National Institute of Mental Health (NIMH),<https://www.nimh.nih.gov/health/topics/depression>, accessed:05/26/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression
Tác giả: National Institute of Mental Health (NIMH)
15. Crocq M.-A. (2015). A history of anxiety: from Hippocrates to DSM.Dialogues Clin Neurosci, 17(3), 319–325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A history of anxiety: from Hippocrates to DSM
Tác giả: Crocq M.-A
Nhà XB: Dialogues Clin Neurosci
Năm: 2015
16. Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr (2007), Giáo dục , tâm lý và sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục , tâm lý và sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành
Tác giả: Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
22. Anxiety ằ What Is Anxiety? Signs, Causes, Symptoms. Anxiety.org,<https://www.anxiety.org/what-is-anxiety>, accessed: 05/26/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What Is Anxiety? Signs, Causes, Symptoms
27. (2020). PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN 2020 - BỘ Y TẾ.sachyduoc.org, <https://sachyduoc.orgphac-do-dieu-tri-benh-tam-than-2020-bo-y-te_i1355_c158.aspx>, accessed: 05/26/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN 2020 - BỘ Y TẾ
Nhà XB: sachyduoc.org
Năm: 2020
28. Dąbrowska E., Galińska-Skok B., and Waszkiewicz N. (2021). Depressive and Neurocognitive Disorders in the Context of the Inflammatory Background of COVID-19. Life (Basel), 11(10), 1056 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depressive and Neurocognitive Disorders in the Context of the Inflammatory Background of COVID-19
Tác giả: Dąbrowska E., Galińska-Skok B., Waszkiewicz N
Nhà XB: Life (Basel)
Năm: 2021
33. Ngô Ngọc Tản và Nguyễn Văn Ngân (2007), Tâm thần học và tâm lý y học, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm thần học và tâm lý y học
Tác giả: Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Năm: 2007
41. Zimet G. (2016), Multidimensional Scale of Perceived Social Support (MSPSS) - Scale Items and Scoring Information Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multidimensional Scale of Perceived Social Support (MSPSS) - Scale Items and Scoring Information
Tác giả: Zimet G
Năm: 2016
48. Lương Công Thức và Cộng Sự (2021). Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm, lo âu và stress ở bệnh nhân COVID-19. Tạp chí Y dược học Quân sự, Số đặt biệt chuyên đề về COVID-19, 257–263 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm, lo âu và stress ở bệnh nhân COVID-19
Tác giả: Lương Công Thức và Cộng Sự
Nhà XB: Tạp chí Y dược học Quân sự
Năm: 2021
52. Đào Thanh Hải (2019), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bệnh nhân Gút tại Bệnh viện Bạch Mai, Luận văn Thạc sĩ, Đại Học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bệnh nhân Gút tại Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Đào Thanh Hải
Nhà XB: Đại Học Y Hà Nội
Năm: 2019
6. WHO Coronavirus (COVID-19) Dashboard. <https://covid19.who.int>,accessed: 05/26/2022 Link
8. Timeline: WHO’s COVID-19 response.<https://www.who.int/emergencies/diseases/novel-coronavirus-2019/interactive-timeline>, accessed: 05/26/2022 Link
19. Psychiatry.org - What are Anxiety Disorders?.<https://psychiatry.org:443/patients-families/anxiety-disorders/what-are-anxiety-disorders>, accessed: 05/26/2022 Link
29. Deng J., Zhou F., Hou W., et al. (2020). The prevalence of depression, anxiety, and sleep disturbances in COVID‐19 patients: a meta‐analysis.Ann N Y Acad Sci, 10.1111/nyas.14506 Link
44. Paz C., Mascialino G., Adana‐Díaz L., et al. (2020). Anxiety and depression in patients with confirmed and suspected COVID‐19 in Ecuador. Psychiatry Clin Neurosci, 10.1111/pcn.13106 Link
47. CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH ĐỒNG THÁP.<https://dongthap.gov.vn/chi-tiet-bai-viet/-/asset_publisher/1mOzUrGkrdAE/content/id/6992532?plidlayout=2>,accessed: 06/05/2022 Link
1. Li H., Liu Z., and Ge J. (2020). Scientific research progress of COVID‐19/SARS‐CoV‐2 in the first five months. J Cell Mol Med, 24(12), 6558–6570 Khác
2. Han Q., Lin Q., Jin S., et al. (2020). Coronavirus 2019-nCoV: A brief perspective from the front line. The Journal of Infection, 80(4), 373 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w