1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress và các yếu tố liên quan trên nhân viên y tế tham gia chống dịch covid – 19 tại bệnh viện dã chiến khu kí túc xá cao đẳng cộng đồng tỉnh đồng tháp

61 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress và các yếu tố liên quan trên nhân viên y tế tham gia chống dịch covid – 19 tại bệnh viện dã chiến khu kí túc xá cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp
Tác giả Nguyễn Minh Công
Người hướng dẫn TS. BS. Nguyễn Hữu Chiến, Ths. BS. Nguyễn Viết Chung
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN (12)
    • 1.1. Đại cương về trầm cảm, lo âu và stress (12)
      • 1.1.1. Trầm cảm (12)
      • 1.1.2. Lo âu (15)
      • 1.1.3. Stress (15)
      • 1.1.4. Đặc điểm SAR – COV – 2 (18)
    • 1.2. Đặc điểm trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế (18)
    • 1.3. Giới thiệu về thang đo lường DASS 21 của Syd Lovibond và Peter (19)
    • 1.4. Các nghiên cứu về trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế (20)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (24)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (24)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn (24)
      • 2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ (24)
    • 2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (24)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (24)
      • 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu (24)
      • 2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu (24)
      • 2.3.3. Các chỉ số và biến số nghiên cứu (24)
    • 2.4. Công cụ nghiên cứu (26)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (28)
    • 2.6. Phương pháp phân tích số liệu (28)
    • 2.7. Các sai số và cách khắc phục (28)
    • 2.8. Đạo đức trong nghiên cứu (29)
    • 2.9. Hạn chế của nghiên cứu (29)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (30)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (30)
      • 3.1.1. Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu (30)
      • 3.1.2. Đặc điểm công việc của đối tượng nghiên cứu (31)
    • 3.2. Tỉ lệ trầm cảm, lo âu, stress trên nhân viên y tế (34)
    • 3.3. Xác định 1 số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress trên nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân mắc SARS – CoV – 2 (36)
      • 3.3.1. Phân độ mức độ rối loạn tâm thần của nhân viên y tế theo đặc điểm cá nhân (36)
      • 3.3.2. Phân độ mức độ rối loạn tâm thần của nhân viên y tế theo đặc điểm công việc (38)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (42)
    • 4.1. Đặc điểm của nhân viên y tế tham gia chống dịch tại khu kí túc xá (42)
    • 4.2. Mô tả thực trạng về trình trạng trầm cảm, lo âu, stress của nhân viên (43)
      • 4.2.2. Thực trạng trầm cảm (43)
      • 4.2.3. Thực trạng lo âu (45)
      • 4.2.4. Thực trạng stress (47)
    • 4.3. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress của nhân viên y tế (49)
      • 4.3.1. Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với tình trạng trầm cảm, lo âu, stress (49)
      • 4.3.2. Mối liên quan giữa các đặc điểm công việc với tình trạng trầm cảm, (51)
  • KẾT LUẬN (55)

Nội dung

[2] Đối với ngành y tế, nhiều nghiên cứu cho thấy nhân viên y tế có tỉ lệ lạm dụng thuốc và tự tử cao hơn các ngành nghề khác, có tỉ lệ cao stress, lo âu, trầm cảm liên quan đến công việ

Trang 1

Hà Nội - 2022

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NGUYỄN MINH CÔNG

THỰC TRẠNG TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS VÀ CÁC YẾU

TỐ LIÊN QUAN TRÊN NHÂN VIÊN Y TẾ THAM GIA CHỐNG DỊCH COVID - 19 TẠI BỆNH VIỆN DÃ CHIẾN KHU KÍ TÚC XÁ CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG TỈNH ĐỒNG

THÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH Y ĐA KHOA

Trang 2

Hà Nội - 2022

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC Người thực hiện: NGUYỄN MINH CÔNG

THỰC TRẠNG TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS VÀ CÁC YẾU

TỐ LIÊN QUAN TRÊN NHÂN VIÊN Y TẾ THAM GIA CHỐNG DỊCH COVID 19 TẠI BỆNH VIỆN DÃ CHIẾN KHU

KÍ TÚC XÁ CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH Y ĐA KHOA

Khóa: QH.2016.Y

Người hướng dẫn: TS BS NGUYỄN HỮU CHIẾN

Ths BS NGUYỄN VIẾT CHUNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này, em

đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:

Ban Chủ nhiệm Khoa Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội, thầy cô giảng viên Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu để em có thể hoàn thành khoá luận này

Em xin bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn chân thành tới TS.BS.Nguyễn Hữu Chiến, Ths.BS.Nguyễn Viết Chung – những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em rất nhiều trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành khoá luận này

Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên bệnh viện

dã chiến khu kí túc xá Cao đẳng Cộng Đồng tỉnh Đồng Tháp đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và thu thập số liệu cho nghiên cứu này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giảng viên Khoa

Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã dạy dỗ, trang bị kiến thức cho em trong suốt 6 năm theo học tại trường

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết của em, những người đã cùng chia sẻ khó khăn, dành cho em những lời động viên, chia sẻ quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2022

Nguyễn Minh Công

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Đại cương về trầm cảm, lo âu và stress 3

1.1.1 Trầm cảm 3

1.1.2 Lo âu 6

1.1.3 Stress 6

1.1.4 Đặc điểm SAR – COV – 2 9

1.2 Đặc điểm trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế 9

1.3 Giới thiệu về thang đo lường DASS 21 của Syd Lovibond và Peter Lovibond 10

1.4 Các nghiên cứu về trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế 11

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Đối tượng nghiên cứu 15

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 15

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 15

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15

2.3 Phương pháp nghiên cứu 15

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: 15

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 15

2.3.3 Các chỉ số và biến số nghiên cứu 15

2.4 Công cụ nghiên cứu 17

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 19

2.6 Phương pháp phân tích số liệu 19

2.7 Các sai số và cách khắc phục 19

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 20

2.9 Hạn chế của nghiên cứu 20

Trang 5

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 21

3.1.1 Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu 21

3.1.2 Đặc điểm công việc của đối tượng nghiên cứu 22

3.2 Tỉ lệ trầm cảm, lo âu, stress trên nhân viên y tế 25

3.3 Xác định 1 số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress trên nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân mắc SARS – CoV – 2 27

3.3.1 Phân độ mức độ rối loạn tâm thần của nhân viên y tế theo đặc điểm cá nhân 27

3.3.2 Phân độ mức độ rối loạn tâm thần của nhân viên y tế theo đặc điểm công việc 29

Chương 4: BÀN LUẬN 33

4.1 Đặc điểm của nhân viên y tế tham gia chống dịch tại khu kí túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp 33

4.2 Mô tả thực trạng về trình trạng trầm cảm, lo âu, stress của nhân viên y tế tham gia chống dịch tại khu kí túc xá Cao đẳng Cộng Đồng tỉnh Đồng Tháp 34

4.2.2 Thực trạng trầm cảm 34

4.2.3 Thực trạng lo âu 36

4.2.4 Thực trạng stress 38

4.3 Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress của nhân viên y tế tham gia chống dịch tại khu kí túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp 40

4.3.1 Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với tình trạng trầm cảm, lo âu, stress 40

4.3.2 Mối liên quan giữa các đặc điểm công việc với tình trạng trầm cảm, lo âu, stress 42

KẾT LUẬN 46

Trang 6

KHUYẾN NGHỊ 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DASS – 21 depression, anxiety and stress scale – 21 Sar – CoV – 2 Severe acute respitatory syndrome – Corona

virus – 2

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các chỉ số và biến số nghiên cứu 15

Bảng 2.2 Bộ 21 câu hỏi theo thang DASS 21 17

Bảng 2.3 Mức độ trầm cảm, lo âu, stress theo thang điểm DASS 21 19

Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 21

Bảng 3.2 Phân bố tỉ lệ giới tính của đối tượng nghiên cứu 21

Bảng 3.3 Đặc điểm về dân tộc, tôn giáo của đối tượng nghiên cứu 21

Bảng 3.4 Đặc điểm tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 22

Bảng 3.5 Đặc điểm chuyên môn của đối tượng nghiên cứu 22

Bảng 3.6 Đặc điểm về thời gian tham gia chống dịch của đối tượng nghiên cứu 23

Bảng 3.7 Đặc điểm về thời gian làm việc mỗi ngày của đối tương nghiên cứu 23

Bảng 3.8 Đặc điểm về giấc ngủ của đối tượng nghiên cứu 23

Bảng 3.9 Tỉ lệ sợ nhiễm bệnh của đối tượng nghiên cứu 24

Bảng 3.10 Tỉ lệ trầm cảm của nhân viên y tế theo đặc điểm cá nhân 27

Bảng 3.11 Tỉ lệ lo âu của nhân viên y tế theo đặc điểm cá nhân 28

Bảng 3.12 Tỉ lệ stress của nhân viên y tế theo đặc điểm cá nhân 29

Bảng 3.13 Tỉ lệ trầm cảm của nhân viên y tế theo đặc điểm công việc 29

Bảng 3.14 Tỉ lệ lo âu của nhân viên y tế theo đặc điểm công việc 30

Bảng 3.15 Tỉ lệ stress của nhân viên y tế theo đặc điểm công việc 31

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ các mức độ trầm cảm theo thàng điểm DASS 21 của đối tượng nghiên cứu 25Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ các mức độ lo âu theo thàng điểm DASS 21 của đối tượng nghiên cứu 26Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ các mức độ Stress theo thang điểm DASS 21 của đối tượng nghiên cứu 27

Trang 10

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới về sức khỏe năm 1948: “sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, và không chỉ đơn thuần là sự vắng mặt của bệnh tật hay suy yếu về sức khỏe” Từ định nghĩa về sức khỏe cho thấy rằng từ những thập kỉ 40 của thế kỉ 20 sức khỏe tâm thần đã được tổ chức Y tế thế giới đánh giá có vai trò rất quan trọng, ngang hang với sức khỏe thể chất và sức khỏe xã hội [1]Thực tế cho thấy sức khoẻ tâm thần có mối liên quan mật thiết với tâm lý xã hội và sức khỏe thể chất, không có bất kì biến cố bất lợi nào trong xã hội mà không ảnh hưởng đến tâm lý, và cũng không có bất kì bệnh lý cơ thể nào lại không ảnh hưởng đến tâm lý

Theo liên hợp quốc, Đại dịch Covid-19 đang khiến cho thế giới rơi vào khủng hoảng sức khỏe tinh thần toàn cầu Ngoài ra Tổng thư ký liên Hợp Quốc Guterres nhất mạnh trong một tin nhắn video rằng điều quan trọng nhất

là các rủi ro đối với nhân viên y tế, người già, thanh niên và trẻ vị thành niên Đây là những đối tượng có ảnh hưởng tâm lý mạnh mẽ nhất từ trước và đang

bị cuốn vào xung đột cũng như khủng hoảng Chúng ta phải giúp họ cũng như sát cánh bên họ [2]

Đối với ngành y tế, nhiều nghiên cứu cho thấy nhân viên y tế có tỉ lệ lạm dụng thuốc và tự tử cao hơn các ngành nghề khác, có tỉ lệ cao stress, lo

âu, trầm cảm liên quan đến công việc căng thẳng Các rối loạn tâm thần của nhân viên y tế góp phần đưa đến các hậu quả như kiệt sức, vắng mặt, nhân viên có ý định chuyển công tác, giảm sự hài lòng của người bệnh và mắc nhiều lỗi trong quá trình chẩn đoán, điều trị, chăm sóc [3] Vì vậy việc xác định, đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần hiện nay của nhân viên y tế tham gia chống dịch COVID 19 để trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp dự phòng cho tình trạng này là hết sức cần thiết

Từ những lý do trên, em tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress và các yếu tố liên quan trên nhân viên y tế tham gia chống dịch covid – 19 tại bệnh viện dã chiến khu kí túc xá Cao đẳng Cộng Đồng tỉnh Đồng Tháp” với 2 mục tiêu:

Trang 11

2

1 Xác định tỉ lệ trầm cảm, lo âu, stress trên nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân mắc SARS – CoV – 2 tại bệnh viện dã chiến khu kí túc xá Cao đẳng Cộng Đồng tỉnh Đồng Tháp

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm, lo âu, stress trên nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân mắc SARS – CoV – 2 tại bệnh viện dã chiến khu kí túc xá Cao đẳng Cộng Đồng tỉnh Đồng Tháp

Trang 12

3

Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Đại cương về trầm cảm, lo âu và stress

1.1.1 Trầm cảm

1.1.1.1 Khái niệm

Trầm cảm là 1 trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quá trình

ức chế toàn bộ các hoạt động tâm thần: chủ yếu ức chế cảm xúc, cức chế tư duy, ức chế vận động Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10, trầm cảm điển hình thường được biểu hiện bằng khí sắc trầm, mất mọi quan tâm hay thích thú, giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, các triệu chứng tồn tại trong khoảng thời gian ít nhất 2 tuần Ngoài ra, còn có thể có các triệu chứng khác như giảm sự tập trung chú ý, giảm tính tự trọng và long

tự tin, ý tưởng bị tội và không xức đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan,

ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng… [4]

-Do căn nguyên thực tổn: các bệnh tại não như chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, u não, động kinh, parkinson…; các bệnh cơ thể mạn tính như luput, tiểu đường, tim mạch…; do sử dụng chất rượu, ma túy

Trang 13

4

Serotonin: là một trong các chất dẫn truyền chính liên quan đến rối loạn trầm cảm liên quan trực tiếp đến sự giảm nồng độ serotonin (5- HT) ở khe synap

Dopamin: các giả thuyết gần đây cho rằng nguyên nhân làm mất chức năng chuyển hóa dopamin hoặc thụ thể dopamin D1 có thể gây giảm hoạt động trong trầm cảm

Các chất nội tiết chuyển hóa: rối loạn trục dưới đồi- tuyến yên- tuyến thượng thận gây bất thường các hormon là một trong nguyên nhân gây trầm cảm [5]

1.1.1.4 Triệu chứng lâm sàng của trầm cảm

- Ba triệu chứng chính

+ Khí sắc trầm: Khí sắc thay đổi ít từ ngày này sang ngày khác và thường không tương xứng với hoàn cảnh, được duy trì trong ít nhất hai tuần trong một số trường hợp, lo âu, buồn phiền, kích động có thể nổi bật sự thay đổi cảm xúc có thể bị che lấp bởi sự cau có lạm dụng rượu, tác phong kịch tính và các triệu chứng ám ảnh sợ khác

+ Mất mọi quan tâm thích thú trong các hoạt động

+ Giảm năng lượng và tang sự mệt mỏi

- Bảy triệu chứng phổ biến

+ Giảm sự tập trung chu ý

+ Giảm tính tự trọng và long tự tin, khó khăn trong việc quyết định

+ Ý tưởng bị tội và không sứng đáng

+ Nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan

+ Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát

+ Rối loạn giấc ngủ

+ Thay đổi cảm giác ngon miệng với sự thay đổi trọng lượng cơ thể tương ứng

- Các triệu chứng cơ thể của trầm cảm

+ Mất những quan tâm thích thú trong hoạt động thường ngày gây thích thú + Mất những phản ứng cảm xúc với những sự kiện và môi trường xung quanh thường làm vui thích

+ Buổi sáng thức giấc sớm hơn 2 giờ so với ngày thường

Trang 14

5

+ Trạng thái trầm nặng hơn vào buổi sáng

+ Có bằng chứng khách quan về sự chậm chạp tâm thân vận động hoặc kích động được người khác nhận thấy hoặc kể lại

+ Giảm cảm giác ngon miệng

+ Sút cân

+ Mất hoặc giảm hung phấn tình dục rõ rệt[4,5]

1.1.1.5 Chẩn đoán trầm cảm

- Chẩn đoán xác định

+ Lần đầu tiên xuất hiện các triệu chứng lâm sàng

+ Giai đoạn trầm cảm kéo dài ít nhất 2 tuần

+ Không có đủ các triệu chứng đáp ứng các tiêu chuẩn của gia đoạn hưng cảm ở bất kì thời điểm nào trong đời

+ Giai đoạn này không gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần hoăc bất

cứ rối loạn thực tổn nào

- Chẩn đoán các thể lâm sàng

+ Giai đoạn trầm cảm nhẹ

Ít nhất có 2 trong 3 triệu chứng chính

Kèm theo ít nhất 2 trong số 7 triệu chứng phổ biến khác

Bệnh nhân giai đoạn trầm cảm nhẹ thường buồn chán với các triệu chứng đó, khó tiếp tục công việc thường ngày và hoạt động xã hội nhưng có khả năng không dừng hoạt động hoàn toàn

+ Giai đoạn trầm cảm vừa

Có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng chính

Cộng them ít nhất 3 trong số 7 triệu chứng phổ biến khác

Bệnh nhân giai đoạn trầm cảm vừa thường có nhiều khó khăn để tiếp tục hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình

+ Giai đoạn trầm cảm nặng, không có các triệu chứng loạn thần

Trang 15

6

+ Giai đoạn trầm cảm nặng kèm theo các triệu chứng loạn thần

1 giai đoạn trầm cảm nặng thỏa mãn các tiêu chuẩn đã nêu ra trong giai đoạn trầm cảm nặng, không có các triệu chứng loạn thần

Kèm theo trong đó có các hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ trầm cảm + Các giai đoạn trầm cảm khác[4,5]

1.1.2 Lo âu

1.1.2.1 Khái niệm lo âu

Lo âu là hiện tượng phản ứng của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa tự nhiêm xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua và tồn tại Lo lâu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa

Khi lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với sự đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của người bệnh, có thể kèm theo nhứng ý nghĩ hay hành động có vẻ như quá mức hay vô lý thì lo âu trở thành bệnh lý [4]

1.1.2.2 Những Dấu hiệu của lo âu

Triệu chứng nhận thức: Sợ mất kiểm soát, sợ tổn thương cơ thể hoặc tử vong, sợ bị phát điên, sợ bị người khác đánh giá xấu, có những suy nghĩ về hình ảnh hay kí ức đáng sợ, có nhận thức không thực tế hoặc không liên quan, kém tậm trung, hay nhầm lẫn, giảm sự chú ý, khó để nói

Triệu chứng sinh lý: Tăng nhịp tim, hồi hộp trống ngực, khó thở, thở nhanh, đau ngực hoặc nặng ngực, cảm giác bóp nghẹn, chóng mặt, đổ mồ hôi, bốc hỏa, ớn lạnh, buồn nôn, đau bụng, rối loạn tiêu hóa, run rẩy, dị cảm, tê bì tay chân, cảm thấy mất sức lực, căng mỏi cơ, khô miệng

Triệu chứng hành vi: tránh các tình huống đe dọa, theo đuổi sự an toàn, bồn chồn kích động, thở gấp, ít vận động, khó để nói

Triệu chứng cảm xúc: lo lắng, sợ hãi, bồn chồn, thiếu kiên nhẫn, hay tức giận [6]

1.1.3 Stress

1.1.3.1 Khái niệm stress

Stress là một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực tâm thần học

Trang 16

vú trong các tình huống bị gò bó, ông đã mô tả stress là một phản ứng sinh lý tấn công hoặc bỏ chạy trước hoàn cảnh khẩn cấp có liên quan đến tang tiết Adrenaline của tủy thượng thận

Từ Hàng loạt các kích thích cấp tính trên súc vật, Hans Sylye (1936) đã nhận thấy các đáp ứng không đặc hiệu mà ông gọi là hội chứng thích nghi với

ba giai đoạn có liên quan đến tang bài tiết Glucocorticoid ở vỏ thượng thận

Stress tâm lý trong tâm thần học với ý nghĩa sang chấn tâm thần đó là tất các những sự việc, những hoàn cảnh trong các điều kiện sinh hoạt xã hội, trong mối liên quan phức tạp giữa người với người, tác động vào tâm thần gây

ra những cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực: sợ hãi, lo lắng, buồn dầu, tức giận, ghen tuông, thất vọng … [7]

1.1.3.2 Cơ chế gây bệnh của stress

Hàng ngày hàng giờ mỗi cá nhân trong xã hội phải chịu tác động của nhiều loại stress Ví dụ: điều kiện sống khó khăn, làm việc quá tải và căng thẳng, thất vọng trong sự nghiệp, mâu thuẫn trong gia đình, vợ chồng con cái, mâu thuẫn với hàng xóm, đồng nghiệp…

Tuy nhiên stress gây bệnh hay không phụ thuộc vào nhiều nhân tố phức tạp Có hai nhân tố chính là đặc điểm gây bệnh của stress và sức chống đỡ của nhân cách

- Đặc điểm gây bệnh của stress

Stress gây bệnh thường là những stress mạnh và cấp diễn (người thân chết đột ngột, tổn thất về kinh tế nặng nề, thảm họa do chiến tranh…) Có những stress tuy không mạnh và cấp diễn nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần gây căng thằng nội tâm cũng có khả năng gây bệnh

Trang 17

8

Thành phần gây bệnh của stress là ý nghĩa thông tin chứ không phải là cường độ của stress (như ý nghĩa gây bệnh của đám cháy không phải là cường

độ ngọn lửa mà là giá trị của tài sản bị thiêu hủy cụ thể đối với mỗi cá nhân)

Những stress gây xung đột nội tâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát cũng thường gây bệnh (mâu thuẫn vợ chồng nhưng không thể giải thoát cho nhau được vì còn nghĩa vụ với con cái…)

Stress tác động vào cá nhân thường gây bệnh nhiều hơn stress đập vào một cộng đồng (cơ chế chia sẻ gánh nặng, nỗi buồn)

- Vai trò của nhân cách

Nếu đối tượng nhận thức tình huống stress không nguy hiểm và có thể chống đỡ được thì sẽ có một phản ứng thich hợp bình thường Ngược lại nếu đối tượng nhận thức tình huống là nguy hiểm và không thể chống đỡ được thì

sẽ xuất hiện một phản ứng bệnh lý

Những nét nhân cách cảm xúc không ổn định, lo âu, căng thẳng, né tránh là nhân cách dễ bị tổn thương

Cùng bị tác động bởi một stress nhưng tùy theo phương thức phản ứng

mà gây lên những rối loạn khác nhau: lo âu, trầm cảm, các triệu chứng dạng

cơ thể, như khó thở, rối loạn tiêu hóa, cao huyết áp…

Những nét nhân cách sau dễ bị tổn thương: dễ xúc động, khó làm chủ bản thân, bi thảm hóa các tình huống stress, đánh giá thấp bản thân minh, đánh giá cao các khó khăn

Những nét nhân cách sau có sức chống đỡ với stress: sớm làm chủ được tình huống stress, có ý chí, có tinh thần trách nhiệm, có khả năng thích nghi, mềm dẻo

- Môi trường và nhân cách

Tác động qua lại cảm ứng lẫn nhau rất mật thiết, khi cảm ứng những nét tiêu cực có thể gây ra trạng thái bệnh lý tập thể, khi cảm ứng những nét tích cực thì mỗi nhân cách trong tập thể lại được tăng thêm sức mạnh để chống đỡ stress

- Sức khỏe thể chất

Trang 18

9

Cơ thể khỏe mạnh hỗ trợ cho nhân cách chống đỡ được các stress có hại Nếu cơ thể ốm yếu, suy nhược là yếu tố thúc đẩy các rối loạn khi bị stress [5]

1.1.4 Đặc điểm SAR – COV – 2

SARS – COV 2 là một thành viên của họ coronavirus là họ virus có vỏ, cảm giác tích cực ARN sợi đơn có thể lây nhiễm cho phần lớn các loài động vạt có xương sống SAR – COV 2 là virus gây nên bệnh COVID – 19 bắt đầu như một dịch bệnh ở Vũ Hán vào năm 2019, và kể từ đó đã trở thành đại dịch gây ảnh hưởng toàn cầu [8]

Bệnh COVID 19 là một đại dịch cũng có thể định nghĩa là một thảm họa, vì nó là một sự kiện bất ngờ, quy mô lớn làm gián đoạn cuộc sống, thói quen hằng ngày và sự phát triển kinh tế xã hội COVID 19 đe doạ gây hại hoặc tử vong cho một nhóm lớn mọi người, ảnh hưởng đến các quá trình xã hội và liên quan đến kết quả sức khỏe tinh thần và thể chất [9]

1.2 Đặc điểm trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế

1.2.1 Khái niệm nhân viên y tế

Theo tổ chức y tế thế giới WHO, nhân viên y tế bao gồm những người hoạt động trong lĩnh vực y tế như bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, dược sĩ … là thành phần quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững liên quan đến sức khỏe [10]

1.2.2 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế

Theo viện quốc gia về an toàn nghề nghiệp và sức khỏe đĩnh nghĩa tằng stress trong nghê nghiệp là một phản ứng có hại về thể chất và cảm xúc mà xảy ra khi những yêu cầu về nghề nghiệp không phù hợp với khả năng, nguồn lực và nhu cầu của nguời lao động

Những yếu tố nơi làm việc sau đây có thể gây ra các rối loạn tâm thần -Yêu cầu công việc và nhiệm vụ

-Các yếu tố tổ chức

-Các yếu tố tài chính và kinh tế

-Xung đột giữa vai trò và trách nhiệm của công việc và gia đình

-Cơ hội phát triển hoặc thăng tiến

Trang 19

10

-Môi trường tổ chức kém

Một số yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần trên nhân viên y tế

-Quá tải công việc

-Áp lực thời gian

-Thiếu những hỗ trợ trong công việc

-Tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm

-Vấn đề thăng tiến trong sự nghiệp

-Đối mặt với những bệnh nhân khó hoặc rất nặng [3]

1.3 Giới thiệu về thang đo lường DASS 21 của Syd Lovibond và Peter Lovibond

Thang đo DASS ban đầu gồm 42 mục dùng để đo lường 3 vấn đề của trạng thái cảm xúc tiêu cực: trầm cảm, lo âu và stress Trầm cảm đề cập đến mức độ thấp của những ảnh hưởng tích cực như vô vọng, thiếu năng lượng trong khi đó lo lắng đề cập đến một hỗn hợp của đau khổ nói chung như khó chịu, kích động, khó thư giãn và thiếu kiên nhẫn yếu tốc thứ 3 xuất hiện trong quá trình phân tích, được gọi là stress Sau này, phiên bản ngắn hơn của thang

đo DASS, được gọi là DASS 21 được phát triển bởi Syd Lovibond và Peter Lovibond đã giúp giảm thời gian đánh giá và được dùng rộng rãi trên lâm sàng để đánh giá các triệu chứng ở các mức độ khác nhau của trầm cảm, lo âu

và stress Thang đo DASS 21 được sử dụng bởi các nhà tâm lý học và các bác

sĩ thông qua trả lời câu hỏi trên giấy hoặc trả lời những câu hỏi theo cấu trúc sẵn có Từ năm 1995, khi thang đo DASS 21 được công bố, nó được dùng trong rất nhiều loại nghiên cứu

Thang đo DASS 21 được thiết kế để đo lường những cảm xúc tiêu cực bao gồm trầm cảm, lo âu, stress Nó là bảng câu hỏi tự đánh giá gồm 21 câu hỏi với 7 câu hỏi cho mỗi loại cảm xúc tiêu cực dựa trên thang đo 4 điểm từ 0 đến 3 Để tính điểm tương đương với thang đo DASS đầy đủ, mỗi thang điểm

Trang 20

11

đánh giá từng loại cảm xúc được nhân với 2 Khi điểm thang đo càng cao, nghĩa là người làm đánh giá có mức độ nghiêm trọng về sự đau khổ trong cảm xúc càng lớn [11]

Có bằng chứng về tính hợp lệ của thang đo DASS để sử dụng trong cả môi trường và cộng đồng ở các quốc gia nói tiếng anh như ÚC, Hoa Kỳ, Canada… Công cụ này đã được dịch và xác nhận bằng các ngôn ngữ khác bao gồm tiếng Trung, Ý, Tây Ban Nha, Việt Nam … Cả phiên bản tiếng anh

và không tiếng anh đều có tính nhất quán nội bộ cao ( điểm Cronbach’s alpha

> 0.7) Các cuộc nghiên cứu trước đây ở cả các quốc gia nói tiếng anh và không nói tiếng anh đều chỉ ra mối tương quan giữa thang đo DASS và các thang đo khác bao gồm thang lo âu, trầm cảm Beck, thang đo ảnh hưởng tích cực và tiêu cực … [12]

Từ những lí do trên, em đã chọn thang đo DASS – 21 để sự dụng cho nghiên cứu của mình

1.4 Các nghiên cứu về trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế

1.4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Anthony Amanfo Ofori và cộng sự đánh giá tác động tâm lý của đại dịch COVID 19 đối với nhân viên y tế Ghana Nghiên cứu được thực hiện giữa các nhân viên y tế tại 3 bệnh viện vùng Ashanti của Ghana từ ngày 11 tháng 7 năm 2020 đến ngày 12 tháng 8 năm 2020 Nghiên cứu dùng thang đo DASS 21, kết quả nghiên cứu cho thấy 21.1% nhân viên y

tế mắc trầm cảm, 27.8% cảm thấy lo âu, và 8.2 % cảm thấy Stress Về tỉ lệ mắc trầm cảm, nghiên cứu cho thấy có 11.4% mắc trầm cảm mức độ nhẹ 4.4% mắc trầm cảm mức độ vừa, 4.1% mắc trầm cảm mức độ rất nặng và 1.1% trầm cảm mức độ rất nặng Về tỉ lệ lo âu, nghiên cứu cho thấy 5.6% nhân viên y tế tham gia nghiên cứu mắc trầm cảm mức độ nhẹ, 13.3% trầm cảm mức độ vừa, 2.6% trầm cảm mức độ nặng và 6.3% trầm cảm mức độ rất nặng Về tỉ lệ Stress cho thấy có 3% stress ức độ nhẹ, 1.5% mức độ vừa và 2.2% mức độ nặng Thái độ tích cực từ các đồng nghiệp và giảm lương miễn thuế của chính phủ là một số yếu tố được cho là giảm tác động tâm lý trong khi hơn một nửa số người tham gia cho biết cầu nguyện thường xuyên hơn như các để họ đương đầu với vấn đề này [13]

Trang 21

12

Nghiên cứu trên tình trạng sức khỏe tâm thần trên nhân viên y tế trong đại dịch COVID 19 của Z P Huang và cộng sự Nghiên cứu thực hiện trên 615 nhân viên y tế từ ngày 16 tháng 4 năm 2020 Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 21, nghiên cứu cho thấy tỉ lệ lo âu ở nhân viên y tế là 25.37%, stress 13.82% Độ tuổi từ 31 đến 40 tuổi, làm việc trong các cơ sở quan trọng là yếu

tố nguy cơ gây Stress của nhân viên y tế [14]

Nghiên cứu đa quốc gia, đa trung tâm về kết quả tâm lý và các triệu chứng thể chất liên quan trên nhân viên y tế trong đợt bùng phát COVID 19 của Nicholas W S Chew và cộng sự Nghiên cứu thực hiện trên các nhân viên

y tế từ 5 bệnh viện lớn từ Singapore và Ấn Độ, có 906 nhân viên y tế tham gia nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 21, nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trầm cảm ở nhân viên y tế là 10.6%, lo âu là 15.7%, stress 5.2% [15]

Nghiên cứu của Yinmei Yang và cộng sự về sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế và các yếu tố liên quan trong đỉnh dịch Covid 19 Nghiên cứu thực hiện trên 1208 nhân viên y tế qua khảo sát trực tuyến từ ngày 13 tháng 2 đến ngày 20 tháng 2 năm 2020 ngay sau đỉnh dịch Covid 19 ở Hồ Bắc Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 21, nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trầm cảm 37.8%, lo âu 43%, stress 38.5% Nghiên cứu cho thấy 1 số yếu tố liên quan như mức độ trợ cấp xã hội thấp, thời gian làm việc kéo dài, bạo lực tại nơi làm việc, sự khan hiếm vật tư [16]

Nghiên cứu của Shamona Maharai, Ty lees và Sara Lai về tỉ lệ và các yếu tố nguy cơ của trầm cảm, lo âu và stress ở 1 nhóm điều dưỡng Úc Nghiên cứu thực hiện trên 102 điều dưỡng, nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 42 để đánh giá tình trạng trầm cảm, lo âu stress của các điều dưỡng Nghiên cứu chỉ ra rằng có 32.4% điều dưỡng mắc trầm cảm, 41.2% điều dưỡng lo âu và stress chiếm 41.2% Ngoài ra nghiên cứu còn cho thấy 1 số yếu tố liên quan đến trầm cảm và stress là sự không hài long trong công việc [17]

1.4.2 Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm của nhân viên y tế tại việt nam

Trang 22

13

Tại Việt Nam, vấn đề sức khỏe tâm thần dần được quan tâm nhiều hơn, tuy nhiên các nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế vẫn còn hạn chế Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu sau đây:

Nghiên cứu của Vũ Thị Cúc và cộng sự về tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế tại một số bệnh viện điều trị bệnh nhân COVID – 19 tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 Nghiên cứu thực hiện trên 244 nhân viên y tế Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 21, nghiên cứu cho thấy tỷ lê căng thẳng

ở nhân viên y tế là 80.3% trog đó có 17.6% căng thẳng mức độ nhẹ, 22.5% căng thẳng mức độ vừa, 27.9% căng thẳng mức độ nặng và 12.3% căng thẳng mức độ rất nặng Phân tích hồi qui cho thấy có 2 yếu tố liên quan đến tình trạng căng thảng ở nhân viên y tế bao gồm: trực tiếp tham gia điều trị bệnh nhân COVID 19 và thường xuyên chịu áp lực từ cấp trên trong công việc [18]

Nghiên cứu của Bùi Thị Thanh vân và cộng sự về thực trạng sức khỏe tinh thần của nhân viên y tế tham gia công tác phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp ở một số bệnh viện tại Hà Nội năm 2020 Nghiên cứu thực hiện trên 87 nhân viên y tế từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2020 Kết quả cho thấy tỉ lệ nhân viên có biểu hiện trầm cảm là 5.7%, lo âu 19.5%, stress 8% Nghiên cứu chỉ ra tỉ lệ trầm cảm, lo âu, stress, có liên quan đến thời gian tham gia phòng chống dịch [19]

Nghiên cứu của Hồ Thị Thu Hương và Trần Kim Trang về Stress, trầm cảm, lo âu ở điều dưỡng Nghiên cứu được thực hiện trên 441 điều dưỡng đang làm việc tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2015 Kết quả cho thất tỉ lệ điều dưỡng bị trầm cảm, lo âu, stress lần lượt là 25.9%, 47.8%, 35.5% Tỉ lệ trầm cảm mức

độ nhẹ là 14.1%, mức độ vừa là 7.9%, mức độ nặng là 2.7%, mức độ rất nặng

là 1.1% Tỉ lệ lo âu mức độ nhẹ, vừa, nặng, rất nặng lần lượt là 14.7%, 23.1%, 4.1%, 5.9% Tỉ lệ stress mức độ nhẹ, vừa , nặng, rất nặng lần lượt là 18.1%, 11.8%, 5.4%, 0.5% [20]

Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Quân và cộng sự về Stress, trầm cảm, lo

âu của nhân viên y tế bệnh viện Trưng Vương năm 2018 Nghiên cứu thực hiện trên 653 nhân viên y tế tham gia nghiên cứu Kết quả cho thấy tỉ lệ Trầm

Trang 23

bộ ngành y tế từ đó có thể đưa ra các giải pháp để tăng cường sức khỏe tâm thần cho nhân viên y tế

Trang 24

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn

Là nhân viên y tế (bao gồm bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, sinh viên tình nguyện …) đang công tác tại bệnh viện dã chiến khu kí túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp

Nhân viên y tế tham gia chống dịch ít nhất 2 tuần tại bệnh viện

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

Đối tượng vắng mạt tại thời điểm điều tra (Nghỉ phép, nghỉ do ốm đau

…)

Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện dã chiến khu kí túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp

Thời gian nghiên cứu: 9/9/2021 đến 27/1/2022

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

Lấy mẫu toàn bộm thuân tiện Đã có 54 nhân viên y tế đồng ý và điền thông tin vào phiếu điều tra

2.3.3 Các chỉ số và biến số nghiên cứu

Bảng 2.1 Các chỉ số và biến số nghiên cứu

Đặc trưng cá

nhân và đặc

điểm công việc

Giới tính Tuổi Tuổi dương lịch Định lượng Giới tính Là giời nam hay

Trang 25

16

Dân tộc

Dân tộc của đối tượng nghiên cứu

Định tính

Nghề nghiệp

Chuyên ngành được đào tạo:

bác sĩ, điều dưỡng, sinh viên tình nguyện …

Định tính

Tôn giáo

Tôn giáo của đối tượng nghiên cứu

Định tính

Tình trạng hôn nhân

Là chưa kết hôn/ đã kết hôn hay ly hôn

Định tính

Thời gian tham gia chống dịch

Thời gian tính theo ngày từ khi đối tượng nghiên cứu bắt đầu tham gia chống dịch đến ngày điền phiếu điều tra

Định lượng

Thời gian làm việc trong 1 ngày

Thời gian mà đối tuowjg nghiên cứu phải làm việc trong 1 ngày tính theo giờ

Định tính

Lo sợ bị mắc SARS – Cov –

2

Đối tượng nghiên cứu có lo lắng bị mắc bệnh trong quá trình tham gia chống dịch hay không

Định tính

Xác định tỉ lệ

trầm cảm, lo âu,

Mức độ trầm cảm

Mức độ trầm cảm của nhân Định tính

Trang 26

Mức độ lo âu

Mức độ lo âu của nhân viên y

tế theo thang DASS 21

Định tính

Mức độ stress

Mức độ stress của nhân viên y

tế theo thang điểm DASS 21

hôn nhân

Chưa kết hôn,

đã ly dị hoặc đã kết hôn

Đinh tính

Nhóm thời gian tham gia chống dịch

Nhóm < 1 tháng hoặc ≥ 1 tháng Định tính Nhóm thời gian

làm việc trong 1 ngày

Nhóm ≤8 giờ hoặc > 8 giờ Định tính Nhóm đặc điểm

giấc ngủ

Ngủ đủ giấc hoặc thiếu ngủ ,mất ngủ

Định tính

Nhóm lo sợ mắc bệnh

Lo sợ hoặc không lo sợ Định tính

2.4 Công cụ nghiên cứu

- Phiếu thu thập thông tin cá nhân, nghề nghiệp

- Thang đánh giá lo âu – trầm cảm – stress DASS – 21:

Bảng 2.2 Bộ 21 câu hỏi theo thang DASS 21

1 Tôi thấy khó mà thoải mái được

2 Tôi bị khô miệng

3 Tôi dường như chẳng có chút cảm xúc tích cực nào

4 Tôi bị rối loạn nhịp thở dù chẳng làm việc gì nặng

5 Tôi khó bắt tay vào công việc

Trang 27

18

6 Tôi có xu hướng phản ứng thái quá với mọi tình huống

7 Tôi bị ra mồ hôi tay

8 Tôi thấy mình đang suy nghĩ quá nhiều

9 Tôi lo lắng về những tình huống có thể làm tôi hoảng sợ hoặc biến tôi thành trò cười

10 Tôi thấy mình chẳng có gì để mong đợi cả

11 Tôi thấy bản thân dễ bị kích động

12 Tôi thấy khó thư giãn được

13 Tôi cảm thấy chán nản, thất vọng

14 Tôi không chấp nhận được việc có cái gì đó xen vào cản trở việc tôi đang làm

15 Tôi thấy mình gần như hoảng loạn

16 Tôi không thấy hang hái với bất kì việc gì nữa

17 Tôi cảm thấy mình chẳng đáng làm người

18 Tôi thấy mình khá dễ phật ý, tự ái

19 Tôi nghe thấy rõ tiếng tim dù chẳng làm việc gì cả

20 Tôi hay sợ vô cớ

21 Tôi cảm thấy cuộc sống vô nghĩa

Thang đánh giá Lo âu – trầm cảm – stress DASS 21 là bộ công cụ tự điền gồm 21 mục nhỏ chia làm 3 phần, tương ứng mỗi phần là 7 mục nhỏ Phần DASS trầm cảm gồm các câu hỏi 3, 5, 11, 13, 16, 17, 21, phần DASS lo

âu bao gồm các câu hỏi 2, 4, 7, 9, 15, 19, 20, Phần DASS stress bao gồm các câu hỏi 1, 6, 8, 11, 12, 14, 18

Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 3 điểm, tuỳ mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng: 0 điểm – không đúng chút nào cả, 01 điểm – đúng phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng, 02 điểm – đúng phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng, 03 điểm – hoàn toàn đúng hoặc hầu hết thời gian là đúng Khi sử dụng DASS 21 để đo lường, tổng điểm DASS của từng rối loạn được tính bằng cách lấy tổng điểm của 7 mục nhỏ nhân đôi sẽ ra kết quả kết luận [22] Kết quả được đánh giá theo bảng dưới đây:

Trang 28

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

Bộ câu hỏi được gửi cho nhân viên y tế tự điền dưới dạng biểu mẫu google form Kết quả trả lời của đối tượng nghiên cứu được lưu lại trên google form

2.6 Phương pháp phân tích số liệu

Thông tin được làm sạch và mã hóa Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 20

Cả Thống kê mô tả và thống kê suy luận được thực hiện Thống kê mô

tả các biến định lượng bao gồm trung bình, trung vị và độ lệch chuẩn, thống

kê mô tả các biến định tính vao gồm tỉ lệ phần tram Thống kê suy luận cho biến định lượng được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm, mức ý nghĩa thống kê p < 0.05 được sử dụng trong thống kê suy luận

2.7 Các sai số và cách khắc phục

Việc thu thập thông tin chủ yếu qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nên có thể gặp phải sai số bởi các nguyên nhân

-Đối tượng hiểu sai ý của câu hỏi

-Điền thông tin hộ

Trang 29

20

-Đối với các sai số trong quá trình điều tra, biện pháp hạn chế sai số được áp dụng: xin ý kiến chuyên gia, chuẩn hóa bộ câu hỏi thông qua điều tra thử

-Với các sai số trong quá trình nhập liệu, bộ số liệu được nhập lại 50% bản trả lời nhằm kiểm tra thông tin một cách kĩ lưỡng nhất, hãn chế sai số một cách tối đa

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm mục đích làm nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu khoá luận của bản thân và là tài liệu tham khảo cho các sinh viên của Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu có sự đồng ý của cơ sở nghiên cứu và sự tham gia tự nguyện của đối tượng nghiên cứu

Trước khi tham gia, đối tượng nghiên cứu được cung cấp rõ ràng, đầy

đủ thông tin liên quan đến mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối hoặc rút lui khi tham gia nghiên cứu Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được bảo mật

Trung thực trong xử lý số liệu

Đảm bảo trích dẫn chính xác về nguồn tài liệu tham khảo

2.9 Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang nên chỉ cho thấy được tình trạng trầm cảm, stress, lo âu của NVYT tại một thời điểm và không thể chứng minh được mối quan hệ nhân quả

Kết quả thu được từ thang đo không có ý nghĩa chẩn đoán xác định stress, lo âu, trầm cảm mà chỉ đóng vai trò sàng lọc ban đầu các đối tượng có biểu hiện của stress, lo âu, trầm cảm

Nghiên cứu viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc thu thập và phân tích kết quả

Trang 30

21

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu

số với tỉ lệ 63%, trong đó tỉ lệ nhân viên y tế là nam chiếm 37%

Bảng 3.3 Đặc điểm về dân tộc, tôn giáo của đối tượng nghiên cứu

Ngày đăng: 01/02/2023, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Chand S.P. và Marwaha R. (2022). Anxiety. StatPearls. StatPearls Publishing, Treasure Island (FL) Sách, tạp chí
Tiêu đề: StatPearls
Tác giả: Chand S.P. và Marwaha R
Năm: 2022
8. Asselah T., Durantel D., Pasmant E. và cộng sự. (2021). COVID-19: Discovery, diagnostics and drug development. J Hepatol, 74(1), 168–184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Hepatol
Tác giả: Asselah T., Durantel D., Pasmant E. và cộng sự
Năm: 2021
9. Lindert J., Jakubauskiene M., và Bilsen J. (2021). The COVID-19 disaster and mental health—assessing, responding and recovering. Eur J Public Health, 31(Suppl 4), iv31–iv35.10. Nhân lực ngành y tế tại Việt Nam.&lt;https://www.who.int/vietnam/vi/health-topics/health-workforce/health-workforce&gt;, accessed: 27/05/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eur J Public Health
Tác giả: Lindert J., Jakubauskiene M., và Bilsen J
Năm: 2021
11. Oei T.P.S., Sawang S., Goh Y.W. và cộng sự. (2013). Using the Depression Anxiety Stress Scale 21 (DASS-21) across cultures. Int J Psychol, 48(6), 1018–1029 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int J Psychol
Tác giả: Oei T.P.S., Sawang S., Goh Y.W. và cộng sự
Năm: 2013
13. Ofori A.A., Osarfo J., Agbeno E.K. và cộng sự. (2021). Psychological impact of COVID-19 on health workers in Ghana: A multicentre, cross- sectional study. SAGE Open Med, 9, 20503121211000920 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SAGE Open Med
Tác giả: Ofori A.A., Osarfo J., Agbeno E.K. và cộng sự
Năm: 2021
14. Huang Z.P., Zhang K.T., He X.Y. và cộng sự. (2020). [Research on mental health status of medical staff during COVID-19 epidemic]. Zhonghua Lao Dong Wei Sheng Zhi Ye Bing Za Zhi, 38(11), 834–838 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zhonghua Lao Dong Wei Sheng Zhi Ye Bing Za Zhi
Tác giả: Huang Z.P., Zhang K.T., He X.Y. và cộng sự
Năm: 2020
15. Chew N.W.S., Lee G.K.H., Tan B.Y.Q. và cộng sự. (2020). A multinational, multicentre study on the psychological outcomes and associated physical symptoms amongst healthcare workers during COVID-19 outbreak. Brain Behav Immun, 88, 559–565 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brain Behav Immun
Tác giả: Chew N.W.S., Lee G.K.H., Tan B.Y.Q. và cộng sự
Năm: 2020
16. Yang Y., Lu L., Chen T. và cộng sự. (2021). Healthcare Worker’s Mental Health and Their Associated Predictors During the Epidemic Peak of COVID-19. Psychol Res Behav Manag, 14, 221–231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychol Res Behav Manag
Tác giả: Yang Y., Lu L., Chen T. và cộng sự
Năm: 2021
17. Maharaj S., Lees T., và Lal S. (2019). Prevalence and Risk Factors of Depression, Anxiety, and Stress in a Cohort of Australian Nurses. Int J Environ Res Public Health, 16(1), 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int J Environ Res Public Health
Tác giả: Maharaj S., Lees T., và Lal S
Năm: 2019
18. Cúc V.T., Nhân N.P.T., Chi N.X. và cộng sự. (2021). TÌNH TRẠNG CĂNG THẲNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN COVID-19 TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2021. VMJ, 508(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: VMJ
Tác giả: Cúc V.T., Nhân N.P.T., Chi N.X. và cộng sự
Năm: 2021
19. Vân B.T.T., Ngọc N.T.B., Ngọc T.N. và cộng sự. (2021). THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TINH THẦN CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ THAM GIA CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP (COVID-19) Ở MỘT SỐ BỆNH VIỆN TẠI HÀ NỘI NĂM 2020. VMJ, 501(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: VMJ
Tác giả: Vân B.T.T., Ngọc N.T.B., Ngọc T.N. và cộng sự
Năm: 2021
1. Constitution of the World Health Organization. &lt;https://www.who.int/about/governance/constitution&gt;, accessed: 02/06/2022 Khác
2. toquoc.vn Liên Hợp Quốc cảnh báo hệ lụy thế giới phải đối mặt vì Covid-19. toquoc.vn, &lt;https://toquoc.vn/lien-hop-quoc-canh-bao-he-luy-the-gioi-phai-doi-mat-vi-covid-19-2020051509205754.htm&gt;,accessed:02/06/2022 Khác
3. (2020). Exposure to stress: occupational hazards in hospitals. . 4. Trần Hữu Bình Giáo trình bệnh học tâm thần 2016 Khác
12. Validation of the depression anxiety stress scales (DASS) 21 as a screening instrument for depression and anxiety in a rural community-based cohort of northern Vietnamese women - PubMed.&lt;https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/23311374/&gt;, accessed: 27/05/2022 Khác
20. Hồ Thị Thu Hương Stress, Trầm cảm, lo âu ở điều dưỡng. Tap chi Y Hoc Thanh Pho Ho Chi Minh,&lt;https://yhoctphcm.ump.edu.vn/?Content=ChiTietBai&amp;idBai=15368&gt;, accessed: 27/05/2022 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w