ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC VI HỒNG CƢỜNG TỈ LỆ NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ TRÊN BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT TIÊU HÓA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH Y ĐA KHOA HÀ NỘI 2022 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI[.]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
+ Địa điểm nghi n cứu: Khoa Phẫu thuật cấp cứu Tiêu hóa – Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
+ Thời gian nghi n cứu: Từ 01/03/2021 đến 30/04/2021.
Phương pháp nghiên cứu
Nghi n cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện: chọn toàn bộ bệnh nhân được phẫu thuật ti u h a đáp ứng ti u chuẩn lựa chọn trong thời gian nghi n cứu
2.3.3 Phương pháp và kĩ thuật thu thập thông tin
- Điều tra theo bệnh án nghi n cứu và hồ sơ bệnh án (Phụ lục 2)
+ Quan sát trực tiếp vết mổ của bệnh nhân để đánh giá và điền vào bệnh án nghi n cứu
+ ấy thông tin từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân
2.3.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Bệnh nhân thường có đặc điểm chung về tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và trình độ văn hóa cao thấp khác nhau Khối cơ thể (chỉ số BMI) và các bệnh lý kèm theo cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuẩn bị phẫu thuật Trước phẫu thuật, tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân cần được đánh giá kỹ lưỡng để đảm bảo hiệu quả và an toàn trong quá trình điều trị.
Tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ:
- Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ
- Phân loại nhiễm khuẩn vết mổ theo: Mức độ (Nông, sâu, cơ quan/tổ chức), Theo phân loại phẫu thuật ( Sạch, Sạch – nhiễm, Nhiễm, Bẩn)
Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn vết mổ:
- Yếu tố bệnh nhân: Tuổi, Giới, BMI, Bệnh kèm theo và Tình trạng bệnh nhân trước phẫu thuật
- Yếu tố phẫu thuật: Thời gian phẫu thuật, Hình thức phẫu thuật, Cách thức phẫu thuật, oại phẫu thuật, Số lượng tạng phẫu thuật và Kích thước vết mổ
2.3.5 Tiêu chuẩn, kỹ thuật đánh giá các chỉ số nghiên cứu
2.3.5.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ
Nhiễm khuẩn vết mổ được chẩn đoán dựa trên tiêu chuẩn xác định rằng đó là các nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật xảy ra trong vòng 30 ngày sau mổ đối với các ca phẫu thuật không cấy ghép, và trong vòng 1 năm sau mổ đối với các ca phẫu thuật có cấy ghép.
* Nhiễm khuẩn vết mổ nông
Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật
Và chỉ xuất hiện ở vùng da hay vùng dưới da tại đường mổ
Để xác định nhiễm khuẩn vết mổ nông, cần ít nhất một trong các triệu chứng sau: chảy mủ từ vết mổ nông, lập vi khuẩn từ cấy dịch hoặc mô lấy bằng phương pháp vô trùng, hoặc xuất hiện các dấu hiệu như đau, sưng, nóng, đỏ và phải mở bung vết mổ (trừ khi kết quả cấy vết mổ âm tính) Ngoài ra, chẩn đoán của bác sĩ cũng là yếu tố quan trọng trong xác định nhiễm khuẩn vết mổ nông.
* Nhiễm khuẩn vết mổ sâu
Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật hay 1 năm đối với đặt implant
Và xảy ra ở mô mềm sâu (cân/cơ) của đường mổ
Các triệu chứng nghi ngờ nhiễm khuẩn vết mổ sâu bao gồm chảy mủ từ vết mổ nhưng không liên quan đến cơ quan hoặc khoang phẫu thuật, cùng với ít nhất một trong các dấu hiệu như sốt trên 38°C, đau, sưng, nóng, đỏ khu vực vết thương (trừ khi cấy vết mổ âm tính), hoặc có bằng chứng về áp xe hoặc nhiễm khuẩn qua thăm khám, phẫu thuật lại, X quang hoặc giải phẫu bệnh Ngoài ra, chẩn đoán nhiễm khuẩn còn được xác nhận khi bác sĩ kết luận là nhiễm khuẩn vết mổ sâu.
* Nhiễm khuẩn vết mổ tại cơ quan/khoang phẫu thuật
Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật hay 1 năm đối với đặt implant
Và xảy ra ở bất kỳ nội tạng, loại trừ da, cân, cơ đã xử lý trong phẫu thuật
Có ít nhất một trong các triệu chứng sau: chảy mủ từ dẫn lưu nội tạng, phân lập vi khuẩn từ cấy dịch hoặc mô lấy vô trùng trong cơ quan hoặc khoang phẫu thuật, có abscess hoặc các bằng chứng khác của nhiễm trùng qua thăm khám, phẫu thuật lại, X quang hoặc giải phẫu bệnh, hoặc bác sĩ chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ tại cơ quan hoặc khoang phẫu thuật.
2.3.5.2 Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng bệnh nhân trước phẫu thuật
Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng bệnh nhân trước phẫu thuật dựa theo thang điểm ASA của Hội gây mê Hoa Kỳ, 1992 (Bảng 1.2)
2.3.5.3 Phân loại phẫu thuật và nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ
Ti u chuẩn phân loại phẫu thuật và nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ tiến hành theo hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam [5] (Bảng 1.3)
2.3.6 Xử lí và phân tích số liệu
- Số liệu được thu thập, mã hoá và nhập liệu bằng Exel, sau đ được xử lý bằng các thuật toán thống k y học bằng phần SPSS 22.0
Trong phân tích dữ liệu định tính, tần suất và tỷ lệ phần trăm (%) thường được sử dụng để mô tả các biện pháp Để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm, phương pháp kiểm định Chi-square (χ²) được áp dụng, và sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi giá trị p < 0,05.
2.3.7 Các biện pháp hạn chế sai số
Để hạn chế tối đa việc người tham gia từ chối hoặc bỏ cuộc trong nghiên cứu, cần giải thích rõ ràng về mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu nhằm tạo sự tin tưởng và thúc đẩy sự tham gia của đối tượng Đồng thời, việc hỗ trợ họ bằng cách cung cấp một số điều kiện cần thiết sẽ góp phần nâng cao tỷ lệ đồng ý tham gia và giữ chân đối tượng trong suốt quá trình nghiên cứu.
Để đảm bảo tính chính xác trong quá trình nhập và xử lý số liệu, cần kiểm tra kỹ lưỡng dữ liệu trước khi nhập vào phần mềm Việc xác nhận dữ liệu trước và sau khi phân tích giúp giảm thiểu lỗi, nâng cao độ tin cậy của kết quả phân tích dữ liệu.
- Nghi n cứu được sự chấp thuận của lãnh đạo bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và khoa Phẫu thuật cấp cứu Tiêu hóa - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Trước khi tham gia vào nghiên cứu, tất cả đối tượng nghiên cứu sẽ được cung cấp đầy đủ thông tin rõ ràng về mục tiêu và nội dung của nghiên cứu Các đối tượng này tham gia một cách tự nguyện, đảm bảo quyền tự do và quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào mà không gặp bất kỳ trở ngại nào Việc cung cấp thông tin minh bạch và đảm bảo sự tự nguyện giúp nâng cao tính minh bạch và đạo đức trong quá trình nghiên cứu.
- Tất cả các thông tin thu thập được từ đối tượng nghi n cứu sẽ được giữ bí mật
Đối tượng tham gia nghiên cứu có quyền rút khỏi hoặc từ chối tham gia bất cứ lúc nào mà không ảnh hưởng đến chất lượng khám và điều trị Việc từ chối tham gia hoặc rút khỏi nghiên cứu không gây bất kỳ thiệt thòi nào cho người bệnh và không bị phân biệt đối xử Quyền tự do của người tham gia là ưu tiên hàng đầu trong quy trình nghiên cứu.
Nghiên cứu nhằm thu thập thông tin về tình trạng vết mổ của bệnh nhân và các yếu tố liên quan, giúp cung cấp dữ liệu quan trọng cho việc lập kế hoạch và chăm sóc bệnh nhân của khoa và bệnh viện Tất cả các số liệu và thông tin thu thập đều chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu, không mang tính chất phục vụ mục đích khác Những bằng chứng thu thập được sẽ hỗ trợ lãnh đạo khoa trong việc đưa ra các quyết định chính xác để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ
Bảng 3.8: Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Phân loại Số BN T lê (%)
Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ
Nhân xe t: Qua bảng 3.8 và biểu đồ 3.1 cho thấy tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ tr n bệnh nhân phẫu thuật ti u h a là 5,8% và không nhiễm khuẩn vết mổ là 94,2%
Bảng 3.9: Phân bố nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa theo mức độ
Mức độ nhiễm khuẩn vết mổ Số BN Tỉ lệ (%)
Nhiễm khuẩn cơ quan/ khoang phẫu thuật 1 14,3
Nhận xét: Trong tổng số bệnh nhân bị nhiễm khuẩn vết mổ, phần lớn
(71,4%) bệnh nhân bị nhiễm khuẩn vết mổ nông, tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ sâu và tại cơ quan, khoang phẫu thuật lần lượt là 14,3% và 14,3%
Bảng 3.10: Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa theo loại phẫu thuật
Loại phẫu thuật Số BN Số NKVM Tỉ lệ (%)
Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ tăng dần theo mức độ bẩn của loại phẫu thuật, với tỷ lệ nhiễm khuẩn trong các ca phẫu thuật nhiễm là 3,8%, trong khi đó, ở các phẫu thuật bẩn, tỷ lệ này lên đến 41,7% Ngược lại, không có bệnh nhân nào bị nhiễm khuẩn vết mổ trong các ca phẫu thuật sạch và sạch – nhiễm.
Bảng 3.11: Các loại vi sinh vật gây nhiễm khuẩn vết mổ
Tác nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ Số lƣợng Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Qua bảng 3.11 cho thấy trong số 7 bệnh nhân NKVM, c
71,4% (5/7) bệnh nhân được làm xét nghiệm vi sinh Trong số những bệnh nhân NKVM được làm xét nghiệm vi sinh này, 100% (5/5) c kết quả nuôi cấy dương tính
Escherichia coli là tác nhân gây bệnh chính, chiếm 33,4% (3/9);
Psedomonas aeruginonas 22,2%; Klebsiella pneumoniae 11,1%; Enterrobacter cloacae 11,1%; Proteus Mirabilis 11,1%; và Staphylococus aureus 11,1%.
Các yếu tố liên quan nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Bảng 3.12: Liên quan giữa tuổi với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Nhận xét: Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân < 60 tuổi cao hơn bệnh nhân ≥ 60 tuổi (6,9% và 4,2%) Sự khác biệt này không c ý nghĩa thống k với p > 0,05
Bảng 3.13: Liên quan giữa giới t nh với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Nhận xét: Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ của nam cao hơn nữ (7,0% và 4,1%)
Tuy nhi n sự khác biệt này không c ý nghĩa thống k với p > 0,05
Bảng 3.14: Liên quan giữa chỉ số khối cơ thể với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân béo phì (25,0%) cao hơn so với bệnh nhân suy dinh dưỡng (8,0%), trong khi tỷ lệ này ở nhóm thừa cân là 7,1% và trung bình là 4,8% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05, cho thấy các thể trạng khác không ảnh hưởng rõ ràng đến nguy cơ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật.
Bảng 3.15: Liên quan giữa bệnh kèm theo với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Dựa trên bảng 3.15, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở nhóm bệnh nhân mắc bệnh kèm theo là 6,8%, cao hơn so với nhóm bệnh nhân không có bệnh kèm theo là 5,3% Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê với p > 0,05, cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ giữa hai nhóm.
Bảng: 3.16: Liên quan giữa loại ASA với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Nhận xét: Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở nh m bệnh nhân c loại ASA < III
(3,6%) thấp hơn nh m bệnh nhân c loại ASA ≥ III (30,0%) Sự khác biệt này c ý nghĩa thống k với p < 0,05
Bảng 3.17: Liên quan giữa hình thức phẫu thuật với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân mổ cấp cứu là 28,0%, cao hơn nhiều so với tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân mổ phẫu thuật thường quy (0%) Sự khác biệt này thể hiện rõ ràng và có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, cho thấy nhóm bệnh nhân mổ cấp cứu có nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ cao hơn đáng kể so với nhóm mổ phẫu thuật thông thường.
Bảng 3.18: Liên quan giữa cách thức phẫu thuật với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Tỉ lệ (%) Số BN Tỉ lệ
Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở nhóm bệnh nhân phẫu thuật mở là 8,5%, cao hơn so với nhóm bệnh nhân phẫu thuật nội soi là 2,0% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với giá trị p > 0,05, cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ nhiễm khuẩn giữa hai phương pháp phẫu thuật.
Bảng 3.19: Liên quan giữa loại phẫu thuật với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Bảng 3.19 cho thấy sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ giữa các loại phẫu thuật Phẫu thuật sạch, sạch nhiễm có tỷ lệ nhiễm khuẩn là 0%, trong khi đó, phẫu thuật bẩn có tỷ lệ nhiễm khuẩn cao nhất là 41,7%, còn phẫu thuật nhiễm có tỷ lệ nhiễm khuẩn là 3,8% Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê với p < 0,05, cho thấy các loại phẫu thuật ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ.
Bảng: 3.20: Liên quan giữa thời gian phẫu thuật với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ varies theo thời gian phẫu thuật, với các ca mổ kéo dài hơn 120 phút có tỉ lệ nhiễm khuẩn là 7,6%, cao hơn so với những ca phẫu thuật có thời gian ≤ 120 phút Thời gian phẫu thuật kéo dài đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến nguy cơ nhiễm khuẩn, cần chú trọng các biện pháp kiểm soát để giảm thiểu rủi ro.
120 phút (2,4%) Sự khác biệt này không c ý nghĩa thống k với p > 0,05
Bảng: 3.21: Liên quan giữa số lượng tạng phẫu thuật với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Số lƣợng tạng tham gia phẫu thuật
PT li n quan đến từ 2 tạng trở lên (N = 51) 4 7,8 47 92,2 p = 0,456
PT li n quan đến 1 tạng (N
Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân phẫu thuật liên quan đến hai tạng trở lên là 7,8%, cao hơn so với tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân phẫu thuật liên quan đến một tạng là 4,3% Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê với giá trị p > 0,05, cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỉ lệ nhiễm khuẩn giữa hai nhóm.
Bảng: 3.22: Liên quan giữa k ch thước vết mổ với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Nhận xét : Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ tr n bệnh nhân c kích thước vết mổ
≤ 15 cm thấp hơn tr n bệnh nhân c kích thước vết mổ > 15 cm (4,3% và 8,0%)
Sự khác biệt này không c ý nghĩa thống k với p > 0,05.
BÀN LUẬN
Đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu
Trong nghiên cứu, có 120 bệnh nhân nghi ngờ, trong đó 71 bệnh nhân là nam chiếm 59,2%, và 49 bệnh nhân là nữ chiếm 40,8%, phù hợp với kết quả của Minh Uân (2006) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nam cao hơn nữ (64% so với 36%), cho thấy sự đa dạng về giới trong các trường hợp bệnh nghi ngờ.
Phân bố các nhóm tuổi trong nghiên cứu không đều, với nhóm tuổi 51–70 chiếm tỷ lệ cao nhất (45,0%), tiếp theo là nhóm 31–50 tuổi (25,8%), nhóm trên 70 tuổi (17,5%), nhóm 19–30 tuổi (10,0%), và nhóm ≤ 18 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (1,7%) Điều này dễ hiểu vì các nhóm tuổi trung niên và cao tuổi có tỷ lệ mắc các bệnh cơ quan tiêu hoá cao nhất Tuổi trung bình của bệnh nhân là 54,17 ± 17,733, dao động từ 17 đến 92 tuổi, trong khi nghiên cứu của tác giả Minh uân (2006) ghi nhận tuổi trung bình là 52,6 ± 13,7, với nhóm 31–60 chiếm tỷ lệ cao nhất (65,81%) và nhóm trên 60 tuổi chiếm 28,43%, cho thấy sự khác biệt đáng kể do nghiên cứu trong các khoảng thời gian khác nhau.
Trong điều tra trên 120 bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân làm nghề nông dân cao nhất chiếm 28,3%, trong khi nghề y tế, giáo dục và nội trợ có tỷ lệ thấp nhất lần lượt là 2,5%, 1,7% và 1,7% Bệnh nhân hưu trí chiếm tỷ lệ 22,5%, công nhân 15 bệnh nhân (12,5%), nhân viên văn phòng 14 người (11,7%), buôn bán, tiểu thương 8 người (6,7%), học sinh, sinh viên 5,0%, và các nghề khác như tự do, lái xe, shipper chiếm 7,5% Kết quả nghiên cứu phù hợp với các số liệu của tác giả Minh Ương (2006), trong đó tỷ lệ bệnh nhân làm nông dân chiếm cao nhất là 38,8%, phản ánh mối liên hệ giữa nghề nghiệp và tỷ lệ mắc bệnh.
Các bệnh nhân có trình độ học vấn từ tiểu học đến sau đại học, trong đó trình độ trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất là 29,2% Tiếp theo là trình độ trung học cơ sở với 22,5%, và trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học với 20,8% Trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ 20,0%, trong khi trình độ tiểu học là 7,5% Nghiên cứu này được thực hiện tại bệnh viện trung ương, nơi khám chữa bệnh cho nhân dân cả nước, phản ánh rõ sự phù hợp giữa trình độ học vấn của bệnh nhân và tình hình phổ cập giáo dục của toàn quốc.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân béo phì chiếm rất thấp (3,3%), trong khi phần lớn bệnh nhân (52,5%) có cân nặng bình thường Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh mối liên quan giữa bệnh béo phì và nhiễm khuẩn vết mổ [24,25], tuy nhiên, trong nghiên cứu này, do phần lớn bệnh nhân mắc các bệnh lý tiêu hóa nặng hoặc kéo dài, ảnh hưởng đến khả năng và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân, nên đặc điểm cỡ mẫu nhỏ có thể giúp phòng ngừa và điều trị nhiễm khuẩn vết mổ hiệu quả hơn trong bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa.
Khoảng 36,7% bệnh nhân tham gia nghiên cứu có bệnh kèm theo, thường có sức đề kháng và thể trạng yếu Những bệnh nhân này thường phải sử dụng thuốc, đặc biệt là thuốc ức chế miễn dịch, điều này làm suy giảm hệ miễn dịch, giảm khả năng chống lại vi khuẩn và tăng nguy cơ kháng thuốc kháng sinh sau phẫu thuật Do đó, yếu tố này cần được quan tâm hàng đầu trong quá trình chuẩn bị và thực hiện phẫu thuật để phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ và đảm bảo hiệu quả điều trị sau phẫu thuật.
Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trước phẫu thuật đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến quá trình phẫu thuật, kết quả điều trị và chăm sóc hậu phẫu Nghiên cứu cho thấy phần lớn bệnh nhân (67,5%) thuộc nhóm ASA loại II, trong khi 24,2% bệnh nhân còn lại thuộc nhóm ASA loại khác, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá tình trạng sức khỏe để đảm bảo thành công của ca mổ và quá trình hồi phục sau đó.
I, 7,5% ASA loại III và 0,8% ASA loại IV và V Nghiên cứu của Blumetti J và cs
(2007) cho tỉ lệ bệnh nhân có ASA loại II là 24,0%; ASA loại III là 70,0% và
ASA loại IV là 6,0% [20] Lý giải cho sự khác biệt này theo chúng tôi là do sự khác biệt về đặc điểm bệnh nhân và địa điểm nghiên cứu.
Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ
Sau thời gian nghiên cứu, chúng tôi xác định được tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ là 5,8%, thấp hơn so với tỷ lệ 6,6% của nghiên cứu của Lê Minh Luân (2006) tại khoa phẫu thuật Tiêu hóa - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức Ngoài ra, theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Chính năm 2008, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chung của Bệnh viện Việt Đức là 8,5%.
Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ đã giảm so với năm 2006 và thấp hơn tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chung của Bệnh viện Việt Đức năm 2008, phản ánh sự cải thiện trong công tác chuẩn bị và chăm sóc bệnh nhân trước, trong và sau phẫu thuật Nhờ trang thiết bị ngày càng hiện đại, công tác khử khuẩn, tiệt khuẩn tiến bộ và việc chăm sóc sau mổ đảm bảo đúng tiêu chuẩn, việc giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ là hoàn toàn phù hợp Việc xác định tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ là cần thiết để phòng tránh nhiễm khuẩn, giúp bệnh nhân hồi phục khỏe mạnh sau phẫu thuật.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 09 chủng vi khuẩn phân lập được từ
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Một số yếu tố liên quan tới nhiễ m khuẩn vết mổ
4.3.1 Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với yếu tố tuổi
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tuổi tác ảnh hưởng đến nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ, mặc dù cơ chế vẫn chưa rõ ràng Tuy nhiên, có thể do người cao tuổi có hệ miễn dịch suy giảm, làm giảm khả năng chống lại các tác nhân gây nhiễm trùng Khi tuổi tăng, cơ thể trải qua các biến đổi về giải phẫu và sinh lý, ảnh hưởng đến sức đề kháng tại chỗ và toàn thân của bệnh nhân, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật.
Qua nghiên cứu tối thấy tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân c độ tuổi
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ không giảm theo tuổi và không có sự khác biệt đáng kể giữa bệnh nhân trên và dưới 60 tuổi, với p > 0,05 Theo nghiên cứu của Lê Minh Luân (2006), tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân trên 60 tuổi là 8,4%, cho thấy tuổi có thể là một yếu tố nguy cơ cần được khảo sát thêm Do đó, cần thực hiện các nghiên cứu trên quy mô lớn hơn và theo dõi dài hạn để xác định rõ ảnh hưởng của tuổi đối với nhiễm khuẩn vết mổ.
4.3.2 Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với yếu tố giới tính của bệnh nhân
Nghiên cứu của tôi cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân nam (7,0%) và nữ (4,1%), với p > 0,05, cho thấy giới tính không ảnh hưởng đến nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ Tuy nhiên, cần có các nghiên cứu với quy mô mẫu lớn hơn để xác định rõ hơn tác động của giới tính đối với nhiễm khuẩn vết mổ Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Quốc Anh, mặc dù nam giới có nguy cơ mắc nhiễm khuẩn vết mổ cao hơn nữ 1,4 lần, nhưng sự khác biệt này không đạt mức ý nghĩa thống kê.
4.3.3 Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với chỉ số khối cơ thể
Nghiên cứu của tôi cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân có chỉ số BMI trước mổ dưới 18,5, từ 18,5 – 22,99 và trên 23 lần lượt là 8,0%, 3,2% và 9,4%, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Minh Uân (2006), tỷ lệ nhiễm khuẩn lần lượt là 14,0%, 4,4% và 46,2% Thể trạng bệnh nhân trước mổ đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình mổ và điều trị sau mổ, trong đó các bệnh nhân gầy hoặc béo có nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ cao hơn những người có thể trạng trung bình Tuy nhiên, với mẫu nghiên cứu chỉ 120 bệnh nhân, kết quả vẫn chưa đủ để kết luận chắc chắn về yếu tố nguy cơ này.
Nghiên cứu của Hibbert D và cộng sự đã cho thấy bệnh nhân phẫu thuật bị béo phì có nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ cao gấp 4,0 lần so với những bệnh nhân không béo phì, tuy nhiên, nghiên cứu của tôi (Bảng 3.13) chưa chứng minh được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ theo BMI với p > 0,05 Sự khác biệt này có thể do đặc điểm cỡ mẫu trong nghiên cứu của tôi, khi tỷ lệ bệnh nhân béo phì chỉ chiếm khoảng 3,3% (Bảng 3.5).
4.3.4 Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với bệnh kèm theo
Nghiên cứu của tôi không phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) về tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ giữa nhóm bệnh nhân mắc bệnh kèm theo và không mắc bệnh kèm theo, lần lượt là 6,8% và 5,3% Kết quả này không phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Quốc Anh (2008), cho thấy bệnh nhân mắc bệnh kèm theo có nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ cao gấp 2,3 lần so với nhóm không bệnh kèm theo Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải bệnh kèm theo nào cũng làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ; các bệnh như tiểu đường, suy giảm miễn dịch hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch đã được xác nhận làm tăng nguy cơ này Sức đề kháng của bệnh nhân bị bệnh kèm theo thường yếu đi do phải chống đỡ các bệnh lý mắc trước, từ đó làm gia tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ Tuy nhiên, còn nhiều yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ, và việc chăm sóc hồi phục, nâng cao thể trạng bệnh nhân để bù đắp suy giảm sức khỏe là rất quan trọng trong quá trình giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn.
4.3.5 Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với tình trạng bệnh nhân trước phẫu thuật
Tình trạng bệnh nhân trước phẫu thuật càng nặng thì nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ càng cao, đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân có loại ASA ≥ III với tỉ lệ nhiễm khuẩn 30,0%, cao hơn nhiều so với nhóm bệnh nhân có loại ASA < III chỉ 3,6%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Anh cũng cho thấy nhóm bệnh nhân có loại ASA ≥ III có tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ 9,7%, cao hơn nhiều so với nhóm ASA < III (3,6%), chứng tỏ ảnh hưởng rõ rệt của chất lượng phẫu thuật, điều trị và chăm sóc trên quá trình nhiễm khuẩn vết mổ Các kết quả này phản ánh rõ mối liên hệ giữa tình trạng tiền phẫu và nguy cơ nhiễm khuẩn, nhấn mạnh sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng chăm sóc để giảm thiểu các rủi ro nhiễm khuẩn sau phẫu thuật.
4.3.6 Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với hình thức phẫu thuật
Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong mối liên quan giữa nhiễm khuẩn vết mổ và hình thức phẫu thuật, với tỷ lệ nhiễm khuẩn cao hơn ở các bệnh nhân mổ cấp cứu (28%) so với mổ phiên (0%), p < 0,05 Nguyên nhân chính là do việc chuẩn bị trước mổ không chu đáo hơn đối với các ca mổ cấp cứu, bao gồm vệ sinh phòng mổ, chuẩn bị bệnh nhân và dự phòng kháng sinh Tại bệnh viện trung ương như Bệnh viện Việt Đức, tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ cao ở bệnh nhân cấp cứu là điều dễ hiểu do nhiều yếu tố tác động Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bệnh nhân mổ phiên được chuẩn bị tốt hơn, dẫn đến tỷ lệ nhiễm khuẩn thấp hơn, phù hợp với kết quả của Lê Tuyên Hồng Dương và cộng sự (2011), ghi nhận tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ là 16,7% ở bệnh nhân cấp cứu và 4,4% ở mổ phiên.
4.3.7 Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với cách thức phẫu thuật
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ trên bệnh nhân mổ nội soi là 2,0%, thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ 8,5% ở bệnh nhân mổ mở, chủ yếu do vết mổ nhỏ hơn và ít tiếp xúc hơn trong quá trình mổ nội soi Thời gian phẫu thuật ngắn hơn cũng góp phần giảm nguy cơ nhiễm khuẩn, trong khi mổ mở có vết thương lớn, tiếp xúc nhiều và thời gian dài hơn, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn Mặc dù mổ nội soi mang lại nhiều lợi ích, việc chọn phương pháp phẫu thuật còn phụ thuộc vào tình trạng bệnh nhân và đặc điểm của bệnh, và kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Hồng Thanh (2011) với tỷ lệ nhiễm khuẩn lần lượt là 6,5% cho mổ mở và 1,5% cho mổ nội soi.
4.3.8 Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với loại phẫu thuật
Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở các loại phẫu thuật khác nhau cho thấy rõ sự khác biệt đáng kể, với tỷ lệ nhiễm là 3,8% đối với phẫu thuật loại sạch và 41,7% đối với phẫu thuật loại bẩn, trong khi không có bệnh nhân nào bị nhiễm khuẩn vết mổ trong nhóm phẫu thuật sạch và sạch – nhiễm Kết quả này mang ý nghĩa thống kê với p < 0,05, xác nhận rằng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ cao hơn trong các loại phẫu thuật bẩn và nhiễm, phù hợp với hướng dẫn của Bộ Y tế về phòng ngừa nhiễm khuẩn, theo đó nguy cơ tăng dần theo mức độ phẫu thuật Theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ của phẫu thuật sạch là 1-5%; sạch-nhiễm là 5-10%; nhiễm là 10-15% và bẩn trên 25%, dữ liệu này phù hợp với y văn thế giới Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Anh cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân phẫu thuật nhiễm và bẩn là 10,9%, cao hơn rõ rệt so với 2,1% ở nhóm phẫu thuật sạch và sạch nhiễm, trong khi nghiên cứu của Hibbert D và cộng sự chỉ rõ rằng các phẫu thuật khó khăn làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ gấp 2,19 lần.
4.3.9 Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với thời gian phẫu thuật
Thời gian phẫu thuật kéo dài làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ do bệnh nhân tiếp xúc lâu hơn với môi trường ô nhiễm và vi khuẩn Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ trong ca phẫu thuật kéo dài trên 120 phút là 7,6%, cao hơn so với 2,4% ở các ca kéo dài không quá 120 phút, mặc dù sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Thời gian phẫu thuật càng dài, nguy cơ nhiễm khuẩn càng tăng do tiếp xúc lâu hơn với không khí phòng mổ, dụng cụ và tay phẫu thuật viên Do đó, những ca phẫu thuật không phức tạp, có thể thực hiện trong thời gian ngắn, sẽ giảm thiểu khả năng vi khuẩn xâm nhập và gây nhiễm trùng vết mổ.
Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân trong ca phẫu thuật có thời gian phẫu thuật > 120 phút tương đương nghi n cứu của
Nghiên cứu của Lê Minh Luân (2006) cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa thời gian phẫu thuật và tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ, với thời gian kéo dài càng lâu thì nguy cơ nhiễm khuẩn càng cao Kết quả của Nguyễn Quốc Anh xác nhận rằng tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ tăng rõ rệt ở những bệnh nhân trải qua các ca phẫu thuật kéo dài hơn Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rút ngắn thời gian phẫu thuật để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ.
120 phút (6,2%), cao hơn và c ý nghĩa thống kê so với những bệnh nhân được tiến hành phẫu thuật trong vòng 120 phút (3,9%) [10]
4.3.10 Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với số lƣợng tạng tham gia phẫu thuật
Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở các bệnh nhân phẫu thuật liên quan đến nhiều tạng (từ 2 tạng trở lên) là 7,8%, trong khi ở những bệnh nhân phẫu thuật liên quan đến một tạng chỉ là 4,3% Mặc dù nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ cao hơn ở nhóm phẫu thuật liên quan đến nhiều tạng, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Nguyên nhân chính có thể do mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn, nhưng rõ ràng, phẫu thuật liên quan đến nhiều tạng gây tổn thương nhiều hơn, mất máu nhiều hơn, đường mổ dài hơn và thời gian phẫu thuật kéo dài hơn, qua đó làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn do vi khuẩn xâm nhập.
4.3.11 Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với kích thước vết mổ
Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy sự chênh lệch rõ rệt về tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ giữa những bệnh nhân có vết mổ ≤ 15cm và những bệnh nhân có vết mổ dài hơn 15cm Vết mổ ngắn hơn thường có nguy cơ nhiễm khuẩn thấp hơn so với vết mổ dài, ảnh hưởng đáng kể đến kết quả điều trị và chăm sóc hậu phẫu Do đó, việc kiểm soát kích thước vết mổ là yếu tố quan trọng để giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật.
Nghiên cứu của Lê Minh Luân (2006) cho thấy tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ không khác biệt đáng kể giữa các vết mổ dài hơn 10cm và ngắn hơn hoặc bằng 10cm, với tỷ lệ lần lượt là 6,6% và 6,3% Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), tuy nhiên, giả thuyết cho rằng vết mổ dài hơn có nguy cơ nhiễm khuẩn cao hơn vẫn cần được xác thực qua các nghiên cứu với quy mô lớn hơn nhằm làm rõ mối liên hệ này.
KIẾN NGHỊ
Sau khi hoàn thành đề tài này với những kết quả thu được, tôi c một số kiến nghị sau:
Chủ động khám và phát hiện sớm nhiễm khuẩn vết mổ là yếu tố quan trọng để đảm bảo quá trình điều trị hiệu quả, đặc biệt đối với bệnh nhân phẫu thuật ti u hoá thuộc loại phẫu thuật nhiễm và bẩn Việc kiểm tra kịp thời giúp ngăn chặn các biến chứng nguy hiểm, giảm nguy cơ nhiễm trùng lan rộng, đặc biệt ở những bệnh nhân có tình trạng toàn thân nặng, nguy hiểm đến tính mạng Điều trị sớm nhiễm khuẩn vết mổ không chỉ nâng cao khả năng hồi phục mà còn giảm thiểu các tác động tiêu cực đến sức khỏe và tính mạng bệnh nhân.
- Đối với phẫu thuật cấp cứu, cần c các biện pháp dự phòng nhiễm khuẩn vết mổ trước phẫu thuật, trong phẫu thuật và sau quá trình phẫu thuật.