ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC Nguyễn Quốc Trung TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ DƯỢC LIỆU CÓ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ COVID-19 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC Hà Nội-2022..
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
Nguyễn Quốc Trung
TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ DƯỢC LIỆU CÓ TÁC DỤNG
ĐIỀU TRỊ COVID-19
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
Hà Nội-2022
Trang 2LỜI CẢM ƠN
“Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến: Ban giám hiệu trường Đại Học Y Dược vì đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất với hệ thống thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi cho việc tìm kiếm, nghiên cứu thông tin
Xin cảm ơn giảng chủ nhiệm bộ môn – GS.TS.Nguyễn Thanh Hải đã giảng dạy tận tình, chi tiết để em có đủ kiến thức và vận dụng chúng vào bài khóa luận này
Do chưa có nhiều kinh nghiệm làm để tài cũng như những hạn chế về kiến thức, trong bài khóa luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được
sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía Thầy cô để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Lời cuối cùng, em xin kính chúc thầy cô nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc
Em xin chân thành cảm ơn!”
Trang 3Mục lục
Danh mục sơ đồ bảng biểu hình vẽ
Mở đầu ………1
Chương 1:TỔNG QUAN……….2
1.1 Dịch tể học và đặc điểm lâm sàng COVID-19……… 2
1.2 Nguồn gốc và sự lây truyền COVID-19……….2
1.3 Các lựa chọn phòng ngừa và điều trị COVID-19……… 3
1.4 Nguyên tắc điều trị viêm đường hô hấp cấp do COVID-19 theo quan điểm y dược học cổ truyền……….4
1.5 Đặc điểm của một số dược liệu và vị thuốc dược liệu trong điều trị COVID-19 1.5.1 Xuyên Tâm Liên……….7
1.5.2 Nghệ……… 10
1.5.3 Xạ Can……… 11
1.5.4 Hoàng Cầm………13
1.5.5 Bạc Hà……… ….14
1.5.6 Bỉ Ngạn……… 16
1.5.7 Bạch Tật Lê………17
1.5.8 Bổ Cốt Chỉ……… 18
1.5.9 Đan Sâm……… 20
1.5.10 Bạch Đàn Xanh……… 21
1.5.11 Ngò Ta……….23
1.5.12 Xoan………24
Chương 2:BÀN LUẬN……….25
Trang 4Danh mục sơ đồ ,bảng biểu,hình vẽ:
Hình 1.1: Ảnh cây Xuyên tâm liên - Andrographis paniculata (Burm.f.) Nees Hình 1.1 Ảnh vị thuốc Xuyên tâm liên - Herba Andrographis
Hình 1.3 Ảnh củ nghệ
Hình 1.4 Ảnh cây Xạ Can - Pardanthus sinensis
Hình 1.5 Ảnh vị thuốc Xạ Can - Belamcanda sinensis
Hình 1.6 Ảnh cây thuốc Hoàng Cầm
Hình 1.7 Ảnh vị thuốc Hoàng Cầm
Hình 1.8 Ảnh cây Bạc hà - Mentha arvensis L
Hình 1.9 Ảnh vị thuốc Bạc hà - Herba Menthae
Hình 1.15 Ảnh cây đan sâm
Hình 1.16 Ảnh vị thuốc đan sâm
Trang 5MỞ ĐẦU
Kể từ năm 2019 cho đến nay các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã phải đối mặt với đại dịch gây nguy hiểm đến sức khỏe của toàn nhân loại đồng thời tàn phá nặng nề nền kinh tế thế giới mang tên COVID-19 Theo Tổ chức
Y tế Thế giới, có hơn 193 triệu trường hợp được xác nhận và hơn 4 triệu trường hợp
tử vong Chính phủ các nước đã huy động mọi nguồn lực, xây dựng và triển khai các
kế hoạch hành động nhằm quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi đại dịch này Mặc dù đã
có các loại thuốc điều trị COVID-19 do các công ty dược phẩm sản xuất nhưng tính hiệu quả cũng như tác dụng không mong muốn của nó đang là thách thức với các nhà nghiên cứu Vì vậy các nhà nghiên cứu đang cố gắng tìm ra cách tốt nhất để chữa bệnh, bao gồm cả thuốc thảo dược Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng hơn 80% dân số thế giới sử dụng thuốc có nguồn gốc thực vật trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Việt Nam có nguồn tài nguyên dược liệu rất phong phú và đa dạng Đến nay, đã ghi nhận được 5.117 loài thực vật và nấm lớn Nhiều loài động vật và khoáng vật có công dụng làm thuốc (Viện Cây thuốc, 2016) Chính nguồn dược liệu này sẽ cung cấp nguyên liệu cho việc nghiên cứu, tạo ra các sản phẩm thuốc, thực phẩm chức năng, nguyên liệu để chăm sóc sức khỏe và phát triển kinh tế - xã hội
Để chủ động tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do COVID-19, đồng thời phát huy thế mạnh của y học cổ truyền, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Tổng quan về một số dược liệu có tác dụng điều trị COVID 19”
Đề tài này được thực hiện nhằm mục tiêu: Hệ thống lại được các dược liệu và công dụng của chúng trong việc điều trị COVID-19
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Dịch tể học và đặc điểm lâm sàng COVID-19
Coronavirus chủng mới (nCoV-2019), bệnh coronavirus 2019 [1] hoặc Hội chứng
hô hấp cấp tính nặng Corona Virus 2 (SARS-CoV-2) lần đầu tiên được báo cáo từ Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc trước khi được phát hiện ở các quốc gia khác [2] Trường hợp đầu tiên được báo cáo vào tháng 12 năm 2019, sau đó, 5 bệnh nhân nhập viện với các dấu hiệu hô hấp cấp tính mà một trong số các bệnh nhân này đã tử vong [10] Vào ngày 30 tháng 1 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới [9] đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng được quốc tế quan tâm đối với COVID-19 [14]
COVID-19 chủ yếu lây lan qua đường hô hấp, theo các giọt nhỏ, dịch tiết đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp [8] với liều lượng lây nhiễm thấp [7] Dựa trên điều tra dịch tễ học hiện tại, thời gian ủ bệnh là 1–14 ngày, chủ yếu là 3–7 ngày Và COVID-19 có thể lây nhiễm trong thời gian chờ [3] Nó có khả năng lây truyền cao ở người, đặc biệt là ở người già và những người có bệnh lý có từ trước Bệnh nhân COVID-19 có các triệu chứng chẳng hạn như sốt, khó chịu và ho Hầu hết người lớn hoặc trẻ em nhiễm COVID-19 có các triệu chứng giống cúm nhẹ và một số ít bệnh nhân trong tình trạng nguy kịch và nhanh chóng phát triển thành hội chứng suy hô hấp cấp, suy hô hấp, suy đa tạng, thậm chí tử vong [4]
1.2 Nguồn gốc và sự lây truyền COVID-19
COVID-19 là một bệnh do virus SARS-CoV-2 gây ra , cấu trúc của SARS-CoV-2 khá đơn giản, chỉ gồm lõi là bộ gene của acid nucleic là RNA, tức cấu trúc di truyền của nó, bao quanh bộ gene là lớp vỏ glycoprotein Lớp vỏ đặc trưng của SARS-CoV-2 có các gai glycoprotein có hình dạng giống chiếc vương miện Dựa vào bộ gene của các loại
coronavirus, người ta thấy rằng phần lớn các bộ gene này khá giống nhau [18]
SARS-CoV-2 có ái lực đặc biệt với thụ thể ACE2 (angiotensin-converting enzyme 2) có trong các tế bào ở đường hô hấp; đặc biệt ở các tế bào mô phổi SARS-CoV-2 dùng các gai glycoprotein nằm ở vỏ bọc ngoài của nó, như “chìa khóa” mở cửa đi vào vào các thụ thể ACE2 là “ổ khóa” nằm trên màng tế bào chủ đích, để chui vào bên trong tế bào chủ đích là các tế bào mô [17]
Trang 71.3 Các lựa chọn phòng ngừa và điều trị COVID-19
Có ba hướng điều trị COVID-19 đã và đang được phát triển.Đầu tiên nhắm vào cơ chế xâm nhập của virus bằng cách tác động chọn lọc lên các phân tử mục tiêu tham gia vào quá trình này như protein S của SARS-CoV-2; thụ thể enzym chuyển angiotensin 2 (angiotensin-converting enzyme 2, ACE2); enzym protease xuyên màng serin 2
(transmembrane protease serine 2, TMPRSS2) Hướng thứ hai và thứ ba can thiệp vào quá trình hình thành virion mới và giải phóng virus từ các tế bào nhiễm bệnh bằng sự nảy mầm qua trung gian viroporin Ngoài ra còn là tập trung vào việc điều hòa miễn dịch của
cơ thể vật chủ mà trong đó hệ thống reninangiotensin (renin-angiotensin system, RAS) giữ vai trò quan trọng
Hiện tại đã có thuốc và vắc-xin để chống lại sự lây nhiễm COVID-19 WHO khuyến nghị một số thuốc ngăn ngừa hoặc điều trị loại virus này như: baricitinib, molnupiravir, Sotrovimab - được khuyên dùng cho những bệnh nhân nặng hoặc nguy kịch [12] Tuy nhiên, các tác dụng phụ của thuốc, bao gồm tiêu chảy, buồn nôn, nôn, và tương tác với các thuốc điều trị khác cần được xem xét [15] Để hạn chế tác dụng phụ, cũng như nâng cao hiệu quả điều trị phương pháp sử dụng thảo mộc truyền thống đang được nhiều cơ sở
y tế thế giới chú ý Các loại thảo mộc truyền thống từ các môi trường sống và vị trí địa lý khác nhau có thể điều trị các bệnh nhiễm vi rút như SARS-CoV
Thuốc thảo dược cổ truyền Trung Quốc đóng một vai trò quan trọng và có nền tảng lâu đời trong việc điều trị và kiểm soát một số bệnh dịch từ bệnh dịch hạch đến bệnh SARS Một số hoạt chất thảo dược cổ truyền Trung Quốc như herbacetin, isobavaschalcone, quercetin 3 - β - D - glucoside, và helichrysetin có hoạt tính ức chế đối với MERS – CoV 3CL protease Kết quả của nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sau khi sử dụng một số thành phần
có nguồn gốc thảo mộc như sinigrin, hesperetin, quercetin, epigallocatechin gallate, gallocatechin gallate, herbacetin, rhoifolin và pectolinarin, hoạt động của SARS 3CLpro
có thể bị chặn lại Một số nghiên cứu sơ bộ khác đã chỉ ra rằng andrographolide, một diterpene lactone trong Xuyên tâm liên ( Andrographis paniculata ) có thể tác động thụ thể ACE2, do đó có đặc tính kháng vi rút phổ rộng [6]
Y học cổ truyền Ấn Độ là một trong những phương pháp điều trị lâu đời nhất trong lịch sử nhân loại [5] Khoảng 2500 công thức dựa trên cây thuốc đã được sử dụng trong y học cổ truyền Ấn Độ Vì rất nhiều cây thuốc Ấn Độ cho thấy các hoạt động chống vi rút,
Trang 8chống oxy hóa và chống ung thư nên có thể cần xem xét các hoạt động chính xác của chúng [17] Tuy nhiên, một số thử nghiệm lâm sàng phải được thực hiện để xác nhận hoạt động của nó [17] Có nhiều nghiên cứu về hoạt động chống COVID-19 bằng cách sử dụng cây thuốc ở Ấn Độ Trong một nghiên cứu, người ta đã chỉ ra những cây thuốc bao gồm Indigofera tinctoria, Vitex trifolia ,Gymnema sylvestre, Abutilon indicum, Leucas aspera, Cassia alata, Sphaeranthus indicus, Clitoriaternatea, Clerodendruminerme Gaertn, Pergulariadaemi và Evolvulus alsinoides ở Tamil Nadu có hoạt tính chống coronavirus [11]
1.4 Nguyên tắc điều trị viêm đường hô hấp cấp do COVID-19 theo quan điểm y học cổ truyền
Theo Y học cổ truyền, bệnh này thuộc phạm vi “Ôn dịch” của Học thuyết “Ôn bệnh học” và có tên “Cảm mạo ôn bệnh” Bệnh Ngoại cảm ôn bệnh là tên gọi chung của những bệnh ngoại cảm với những đặc điểm: Khởi phát với phát sốt, bệnh cảnh thiên về nhiệt, diễn biến theo quy luật, bệnh thường cấp tính, diễn tiến nhanh, bệnh cảnh thường nặng Bệnh thường lây nhiễm nhanh và khi phát bệnh thành dịch thì được gọi là “Ôn dịch” [19]
Nguyên nhân gây bệnh do mùa đông cảm nhiễm phong hàn chưa đủ sức gây bệnh thành phục tà (đông vu thương hàn xuân tất bệnh ôn) khi đến mùa xuân gặp các yếu tố thuận lợi phát thành dịch lệ Tà khí theo đường phế vệ hoặc vào miệng, hầu họng vào phế Tùy theo chính khí của mỗi người hoặc phối hợp thêm các nguyên nhân như: nhiệt, thấp, đàm, mà thời gian phát bệnh, nhiều thể bệnh và mức độ bệnh lý nặng nhẹ khác nhau trên lâm sàng [19]
Phác đồ điều trị [19]
* Giai đoạn khởi phát
Đây là bệnh ở thời kỳ đầu phong hàn xâm phạm vào bì mao và phế vệ
Triệu chứng: Phát sốt, sợ gió lạnh, hắt hơi, ngạt mũi, khát không nhiều, ho ít đàm, hoặc
đàm khó khạc, mạch phù sác
Phương pháp điều trị: Sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế chỉ khái
Thuốc uống: Ngân kiều tán (Ôn bệnh điều kiện); Ngân kiều tán gia giảm; Sâm tô tán
(Hòa tễ cục phương); Nhân sâm bại độc tán (Tiểu nhi dược chứng trực quyết); Hạnh tô tán (Ôn bệnh điều biện)
* Giai đoạn toàn phát
Trang 9Giai đoạn này bệnh có thể biểu hiện bệnh ở khí phận hay dinh phận Nhiệt tà nhập vào những vị trí khác nhau nên xuất hiện các triệu chứng lâm sàng khác nhau
- Bệnh biểu hiện ở phần khí
Bệnh có thể biểu hiện nhiệt chủ yếu ở phế, có thể kết hợp ở vị và đại trường
Triệu chứng: sốt, phiền khát, phiền táo, bất an, ho đờm đặc vàng, khó khạc Khí suyễn, có
thể ho ra máu, tiểu đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng khô hoặc nhớt, mạch hoạt sác
Pháp điều trị: Tuyên phế, thanh nhiệt, định suyễn
Thuốc uống: Ma hạnh thạch cam thang (Thương hàn luận)
- Bệnh biểu hiện ở phần dinh
Nếu bệnh nặng nhiệt thương dinh âm (Âm hư nội nhiệt) có biểu hiện: sốt cao li bì, tâm phiền khó ngủ, hoặc nói lảm nhảm, miệng khô, khó thở lưỡi đỏ tươi, mạch trầm tế hoạt, tế
sác hoặc phù đại
Pháp điều trị: Thanh dinh thấu nhiệt
Thuốc uống: Thanh dinh thang
* Giai đoạn hồi phục
Sau giai đoạn toàn phát có thể có biểu hiện các triệu chứng khác nhau và có pháp điều trị khác nhau
- Trường hợp biểu hiện các triệu chứng của phế tỳ khí hư: Khí đoản, mệt mỏi, ăn kém, buồn nôn, bụng đầy, đại tiện vô lực, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt bệu, rêu trắng dơ
Pháp điều trị: Kiện tỳ ích khí
Thuốc uống: Bảo nguyên thang
- Trường hợp người bệnh có biểu hiện của Khí âm lưỡng hư: Khí đoản, mệt mỏi, ăn kém, miệng khô khát, bồn chồn, ra mồ hôi, ho khan có ít đờm, lưỡi khô ít tân dịch, mạch tế hoặc
vô lực,
Pháp điều trị: Bổ khí dưỡng phế
Thuốc uống: Thập toàn đại bổ (Hòa tễ cục phương);Sinh mạch tán; Nhân sâm dưỡng vinh thang
- Trường hợp bệnh lâu có âm hư kèm tâm quý, huyết áp thấp
Thuốc uống: Lục vị địa hoàng hoàn hợp Sinh mạch ẩm; Dưỡng âm thanh phế thang
*Giai đoạn tái nhiễm
Điều trị như nhiễm bệnh, tùy tình trạng bệnh lý của người bệnh theo y học cổ truyền mà người thầy thuốc có pháp điều trị, thuốc cổ truyền và phương pháp điều trị cho phù hợp
Trang 10Phòng bệnh [19]
Sử dụng các phương pháp Y học cổ truyền để hạn chế lây nhiễm và phòng ngừa bệnh
Các phương pháp xông phòng ở, phòng làm việc
Phương pháp 1
- Nguyên liệu: Sử dụng dược liệu chứa tinh dầu: Sả chanh, Bạc hà, Quế, Mùi,
Bưởi, Tràm gió, Màng tang, Long não, Kinh giới, Tía tô,
- Liều dùng, cách dùng: Có thể dùng một loại dược liệu hoặc phối hợp nhiều loại dược liệu, mỗi loại từ 200 – 400g tùy theo diện tích phòng, cho dược liệu vào nồi,
đổ nước ngập dược liệu, đậy nắp nồi, đun sôi lăn tăn, mở nắp để hơi nước bão hòa tinh dầu khuếch tán ra không gian phòng, tiếp tục đun sôi nhỏ thêm 30 phút, đóng cửa phòng khoảng 20 phút Ngày làm 2 lần, sáng và chiều
Phương pháp 2
- Nguyên liệu: Sử dụng tinh dầu: Sả chanh, Bạc hà, Hương nhu, Bưởi, Tràm,
Quế, Long não được cơ quan có thẩm quyền cấp phép lưu hành
- Liều dùng, cách dùng: Tùy theo diện tích phòng (10 – 40 m2), lấy lượng tinh
dầu phù hợp (2 - 4 ml), hòa tan tinh dầu trong ethanol 75%, lắc đều, cho vào bình xịt phun sương, xịt quanh phòng, hoặc xịt vào chỗ cần sát khuẩn, đóng cửa phòng khoảng 20 phút, ngày xịt 2 – 3 lần
Các biện pháp vệ sinh cá nhân
Thuốc dùng ngoài
Dung dịch nhỏ mũi:
- Thành phần: Dung dịch Tỏi 10% đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định
- Tác dụng: Sát khuẩn
- Liều lượng, cách sử dụng: nhỏ mũi mỗi ngày 3 đến 5 lần, mỗi lần 1 giọt
Nước súc miệng Dược liệu:
- Thành phần: Tinh dầu quế, Bạc hà, Nacl,
- Tác dụng: Sát khuẩn miệng, họng
- Liều dùng, cách sử dụng: Súc họng ngày 2 đến 4 lần
Các loại nước súc miệng khác
- Thành phần: Nước muối sinh lý hoặc các loại nước súc miệng khác
- Tác dụng: Sát khuẩn miệng, họng
- Liều dùng, cách sử dụng: Súc miệng, họng ngày 2 đến 4 lần
Thuốc xông
Trang 11- Thành phần: Kinh giới (Herba Elsholtziae ciliatae) 12g, Lá lốt (Herba Piperis
lolot) 8g, Bạc hà (Herba Menthae) 10g, Trần bì (Pericarpium Citri reticulatae
perenne) 6g, Bạch chỉ (Radix Angelicae dahuricae) 6g, Kim ngân hoa (Flos
Lonicerae) 8g
- Bào chế: Các vị thuốc trên làm thành bột
- Công dụng: Sát khuẩn đường hô hấp, phòng ngừa cúm, cảm mạo
- Chỉ định: Viêm đường hô hấp trên, cúm, cảm mạo
Bước 3: Cho thêm nước ấm vào bát thuốc vừa xông và lau rửa mặt
Bước 4: Uống cốc thuốc đã chắt ra ở bước 2
1.5 Đặc điểm của một số dược liệu và vị thuốc cổ truyền trong phòng, chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do COVID-19
Tên cây thuốc: Xuyên tâm liên
Tên khoa học: Andrographis paniculata (Burm.f.) Nees
Họ: Acanthaceae
Hình 1.1 Ảnh cây Xuyên tâm liên - Andrographis paniculata (Burm.f.) Nees
Trang 12Cây nhỏ, sống hàng năm, cao 0,40 - 1m Thân vuông mọc thẳng đứng, phân nhiều cành nhắn lá mọc đối, có cuống ngắn, hình mác, dài 3 - 10 cm, rộng 1 - 2 cm, gốc thuôn, đầu nhọn dải, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sắm đen
Cụm hoa mọc ở kê lá và đấu cành thành chùm thưa, hoa màu trắng điểm những đốm hồng tím, đài có 5 ràng nhỏ, đếu, có lông, tràng hợp ở phấn dưới thành ống hẹp, hình tru
có lông, phần trên loc ra chia 2 môi, môi trên hẹp đài, môi đưới xẻ 3 thùy rộng, đầu nhọn; nhị 2, đính ở họng tràng, bầu 2 ô [20]
Hình 1.2 Ảnh vị thuốc Xuyên tâm liên - Herba Andrographis
Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất loại bỏ tạp chất, rửa sạch, thái thành từng đoạn, rồi phơi
hay sấy khô.[20]
Thành phần hóa học [20]: Xuyên tâm liên chứa 2 nhóm hoại chất chính là diterpen lacton
và flavonoid Có diterpen lacton là andrographolid, deoxyandrographolid,
neoandroprapholid,
Homoandrographolid, 14deoxy11oxoandrographolid, 14deoxy1112didehydro Andrographolid, andrographosid., 14 -deoxyandrographosid, deoxvandrogcapholid -19- β-
-D – glucosid, 14 - deoxy - 12 - methoxyandrographolid, andrograpanin, andropanosid, ent
- 14β - hydroxy - 8 (17), 12 - labadien - 15, 16 - olid - 3β, 19 - oxyd
Hàm lượng andrographolid ở lá là 2,6%, ở thân là 0,1 – 0,4% Lá chứa hơn 2 andrographohid trước khi cây ra hoa, sau đó chỉ còn dưới 0,5% Xuyên tâm liên còn có andrographisid, deoxyandrographisid, 14 - deoxy - 1l, 12 - dihydroandroeraphisid, 6’ - acetyl - neoardrographolid
Một dẫn chất của andrographolid tan trong nước là sản phẩm cộng với Na bisulfit có được dùng làm thuốc hạ sốt
Trang 13Các favonoid là 7 - o - methylwogonin, wogonin, oroxylin, A apigenin – 7, 4’ - dimethyl ether, andrographin, pamculin, mono - o - methylwithin
Rể có một flavanon glycosid là andrographidin, nhiều flavon glycosid là các andrographidin B, C, D, E và F
Rể còn có 2’, 5 - dihydroxy – 7,8 - dimethoxyflavon- 2'- O - β - D - glucosid và 3β - hydroxy - 5 - stigmasta - 9 (11), 22 (2β) - dien
Ngoài ra xuyên tâm liên còn có các chất khác là andrographan, andrographon, andrographosterin, panicolid, β - sitosterol - D - glucosid, α - sitosterol, acd cafeic, carvacrol, eugenol, acid myristic, hentriacontan, tritriacontan
Bằng nuôi cấy mô, từ trụ dưới lá mầm và thân người ta thu được các paniculid A, B, C Hai polysaccharid acid PA và PB được phân lập từ pectin của xuyên tâm liên PA chứa galaclose, arabinose và rhanmtose Thủy phân từng phần PA thì được B - (1 -> 3) - β - D - galactan
PB chứa galactose, arabinose và rhamnose theo tỉ lê 3,4: 1.7: 1 Thủy phân từng phần
PB chỉ được α - (1 -> 4) - D – galacturonan
Tác dụng trong điều trị C0VID-19: Andrographolid, hoạt chất chính được phân lập từ
dịch chiết Andrographis paniculata, là một diterpenoid sở hữu một loạt hoạt tính sinh học bao gồm điều hòa miễn dịch, kháng virus, kháng khuẩn, chống ký sinh trùng, chống khối
u và hạ đường huyết Andrographolid gần đây đã được nghiên cứu in silico về tác dụng chống SARS-CoV-2 thông qua việc nhắm đến các mục tiêu là thụ thể ACE2 của vật chủ
và các yếu tố của virus như RdRp, 3CLpro, PL và protein S [41-44] Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra Andrographis paniculata là một trong những dược liệu tiềm năng để phát triển thuốc chống lại SARS-CoV-2 theo các cơ chế khác nhau S Ngiamsuntorn và cộng
sự (2021) đã tiến hành nghiên cứu bằng thử nghiệm trên đĩa với mô hình tế bào biểu mô phổi người Calu-3, để xác định hoạt tính chống SARS-CoV-2 của dịch chiết Andrographis paniculata và thành phần chính của nó - andrographolid Kết quả cho thấy Andrographis paniculata và andrographolid ức chế đáng kể việc sản xuất virion từ các tế bào Calu-3 bị nhiễm SARS-CoV-2 với IC50 tương ứng là 0,036 μg/mL và 0,034 μM Tác dụng gây độc
tế bào được nghiên cứu trên dòng tế bào đại diện của các cơ quan chính, bao gồm tế bào gan (HepG2 và imHC), thận (HK-2), ruột (Caco-2), phổi (Calu-3) và não (SH-SY5Y), cho thấy CC50 > 100 μg/mL đối với dịch chiết Andrographis paniculata và 13,2-81,5 μM đối với andrographolid Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm ủng hộ việc phát
Trang 14triển Andrographis paniculata và andrographolid dưới dạng đơn trị hoặc trị liệu kết hợp chống lại nhiễm SARS-CoV-2
Chế phẩm: Xuyên tâm liên Traphaco (Hộp 10 vỉ x 10 viên nang cứng)
Tên cây thuốc: Nghệ
Tên khoa học: Curcuma longa L
có màu xanh, trên bẹ lá có các đường gân dọc song song Lưỡi nhỏ là một màng mỏng màu trắng, cao 2-3 mm
Bộ phận dùng:
Thân rễ (Rhizoma Curcumae longae) thường gọi là Khương hoàng
Trang 15Thành phần hóa học:
Nước 13,1%; protein 6,3%; chất béo 5,1%; chất vô cơ 3,5%; sợi 2,6%; carbonhydrat 69,4% và caroten tính theo vitamin A Tinh dầu Nghệ chứa: d phelandren 1%, d sabinen 0,6%; cineol 1%; borneol l0,5%; zingi; beren 25%; sesquiterpen
(tuemeron) 58% Các chất màu phenolic trong củ Nghệ chủ yếu là dẫn chất của
diarylheptan, 3 chất chủ yếu là curcumin, bis(hydroxy-cinnamoyl)- methan và
4-hydroxycinamoyl feruloyl methan
Tác dụng trong điều trị C0VID-19: Curcumin là một hợp chất polyphenolic được phân lập từ thân rễ của cây nghệ Nó bao gồm curcuminoid chính chiếm 77%, hợp chất phụ curcumin II chiếm 17% và curcumin III chiếm 3% trong loại cây này.Curcumin có tác dụng chống viêm, chống ung thư và chống oxy hóa, cũng như kháng virus Ngoài ra, curcumin còn là một phân tử có khả năng chữa lành phù phổi và các quá trình tổn thương khác dẫn đến xơ phổi sau COVID-19.Virus gắn vào thụ thể tế bào đích của vật chủ là enzym chuyển đổi angiotensin 2 (ACE2) Các nghiên cứu mô hình hóa đã chỉ ra rằng curcumin ức chế sự tương tác giữa virus với thụ thể này theo hai cách, ức chế cả protein đột biến và thụ thể ACE2
Tên cây thuốc: Xạ can
Tên khoa học: Belamcanda sinensis
Họ: Iridaceae
Hình 1.4 Ảnh cây Xạ Can - Pardanthus sinensis
Trang 16Xạ can là một loại cây cỏ sống dai, có thân rễ mọc bò Thân có lá mọc thẳng đứng,
có thể cao tới 1 m Lá hình mác hơi có bẹ, dài 20-40 cm, rộng 15-20cm, cuống gầy mềm Hoa có cuống, bao hoa có 6 cánh màu vàng cam đỏ, điểm những đốm tía Quả nang hình trứng, có 3 van, dài 23-25 mm, hạt xanh đen, hình cầu bóng, đường kính 5mm [21]
Hình 1.5 Ảnh vị thuốc Xạ Can - Belamcanda sinensis
Bộ phận dùng: Thân rễ thu hái vào mùa xuân khi cây ra nụ hoặc mùa thu khi bộ phận
trên mặt đất tàn héo, loại bỏ đất cát, rễ con đem phơi hoặc sấy khô [20]
Thành phán hóa học [21]:
Trong xạ can, người ta đã chiết ra được một chất glucozit gọi là belamcandin C24H24O12 và tectoridin C22H22O11 Có tác giả còn tìm thấy một glucozit khác gọi là iriđin C24H28O4 và shekanin (xạ can tố) với hiệu suất 0,05% Belamcandin thuỷ phân sẽ cho glucoza và belamcangenin Tectoridin thuỷ phân sẽ cho glucoza và tectorigenin (có tinh thể hình phiến độ chảy 227-230 độ C)
Tác dụng trong điều trị C0VID-19 [21]
Theo tài liệu cổ, xạ can có vị đắng, tính hàn, hơi độc, vào hai kinh can và phế Cố tác dụng thanh hỏa, giải độc, tán huyết, tiêu đờm Dùng chữa yết hầu sưng đau, đờm nghẽn ở cổ họng Phàm người tỳ vị hư hàn không dùng được Xạ can còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân dân Chủ yếu làm thuộc chữa viêm cổ họng vùng amiđan bị sưng mủ, đau
cổ Nói chung xạ can được coi là một vị thuốc quý chữa mọi bệnh về cổ họng Các chế phẩm từ xạ can thường được dung để điều trị các triệu chứng của COVID-19 như đau họng,đờm
Trang 171.5.4 Hoàng cầm (Scutellaria baicalensis)
Tên cây thuốc: Hoàng cầm
Tên khoa học: Scutellaria baicalensis
Họ:Lamiaceae
Hình 1.6 Ảnh cây thuốc Hoàng Cầm
Hoàng cầm là loại cây thân thảo sống nhiều năm, ưa sáng, sống ở khu vực ẩm, mát Cây
có chiều cao trung bình thường rơi vào khoảng từ 20 – 50cm Phần rễ cây của thảo dược này phình to thành hình chùy, mặt bên ngoài có màu vàng sẫm và khi bẻ ra bên trong sẽ thấy màu sáng hơn
Thân cây hoàng cầm mọc đứng, phân nhánh, hình vuông, nhẵn, thân ngoài thường có lông tơ ngắn Lá mọc đối, có cuống rất ngắn hoặc đôi khi không có Phiến lá hình mạc hẹp, mép nguyên, đầu hơi tù, chiều dài lá khoảng 1,5 – 4cm, rộng khoảng từ 3 – 10mm Mặt trên của lá có màu xanh sẫm còn mặt phía dưới có màu xanh nhạt
Hoa của cây hoàng cầm nở có màu lam tím, mọc ở ngay đầu cành
Trang 18Hình 1.7 Ảnh vị thuốc Hoàng Cầm
Bộ phận dùng:Rễ
Thành phán hóa học: Flavonoid, baicalein, scutclarin
Có nhiều tanin nhóm pyrocatechic và nhựa
Trong củ hoàng cầm tìm thấy 31 chất thuộc nhóm flavon và flavanone: Đây là những hoạt chất có tác dụng tiêu viêm, kháng khuẩn, tăng sức đề kháng rất tốt
Các chất wogonin và skulcapflavon II
Tác dụng trong điều trị C0VID-19: Hoàng cầm được sử dụng trong y học cổ truyền và
y học hiện đại để trị chứng nhức đầu, mất ngủ do bệnh cao huyết áp, viêm phổi, ngăn ngừa dị ứng, kháng khuẩn, ức chế khối u, chống ung thư,…
Ở những bệnh nhân SARS-CoV-2 triệu chứng nặng, có sự biểu hiện cao của các cytokin gây viêm (IL-2, IL-7, IL-10, G-CSF, IP-10, MCP-1, MIP-1A và TNF-α), được đặt tên là
“hội chứng giải phóng cytokine” hoặc “cơn bão cytokine” Đã có nghiên cứu chứng minh rằng baikalein trong Scutellaria baicalensis có tác dụng chống viêm Dược liệu này ngăn chặn biểu hiện các gen tiền viêm chịu trách nhiệm sản xuất oxit nitric, cyclooxygenase, lipoxygenase, sản xuất cytokin, bao gồm IL-6, IL-1, TNF-α, cũng như các chất trung gian hóa học trong phản ứng viêm Đây là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của SARS-CoV-2 Các tác giả nhận định rằng những hợp chất như wogonin, oroxylin, nebaikalein và chrysin của Scutellaria baicalensis cũng có thể bảo vệ cơ thể khỏi nhiễm SARS-CoV-2 và tin rằng dược liệu này là nguồn vô giá của các hợp chất có khả năng ngăn ngừa và điều trị SARS-CoV-2 Ngay sau đó, baicalein, một thành phần chính của Scutellaria baicalensis, đã được Liu và cộng sự chứng minh là có tác dụng ức chế hoạt động của protease 3CLpro in vitro ở nồng độ khá thấp (IC50 = 0,39 μM)
Tên cây thuốc: Bạc hà
Tên khoa học: Mentha arvensis L
Họ: Lamiaceae
Hình 1.8 Ảnh cây Bạc hà - Mentha arvensis L
Trang 19
Cây bạc hà Mentha arvensis L còn có tên là bạc hà nam là một loại có sống lâu năm, cao từ 10 đến 60-20cm, có thể cao tới 1 m, thân vuông mọc đứng hay hơi bò, có khi phân nhánh, trên thân có nhiều lông Lá mọc đối, cuống đài từ 2 đến 10 mm, phiến lá hình trứng hay thon dài, rộng 2-3cm, đài 3-5cm, mép có rằng cưa, mặt trên và mặt dưới đếu có lông che chờ và lông bài tiết Hoa mọc vòng ở kế lá cánh hoa hình môi mầu tím hay hồng nhat
có khi màu trắng Ít khi thấy có quả và hạt Ngoài loài bạc hà mọc hoang đạt ở nước ta, gắn đây đã nhập một số chùng cùng loài có nàng suất tỉnh đầu cao như BH 924 (đưa vào nước
ta từ tháng 9-1974), BH 975 (đưa vào nước ta từ tháng 9-1975) và BH 976 (xuât xứ từ Triều Tiên, đưa vào nước ta từ tháng 9-1976) Hai loại 974 và 925 được xác định thuộc loài Mentha haplocalyx Briq (nhóm Mentha arvensis) [21]
Hình 1.9 Ảnh vị thuốc Bạc hà - Herba Menthae
Bộ phận dùng: Lá (thu hái vào thời kỳ ra hoa) và các bộ phận trên mặt đất Tinh dầu cất
từ lá và các bộ phận trên mặt đất đã được tinh chế [20]
Thành phán hóa học [21]: Hoạt chất chủ yếu trong bạc hà là tình dầu bạc hà Tỷ lệ tinh
dầu trong bạc hà thường từ 0,5 đến 1%, có khi có thể lên đới 1,3-1,5% Bảng phương pháp lựa chọn giống Liên Xô cũ đã có những loại bạc hà đạt tới 5,2 đến 5,6% tính dấu (tính trên cây, đã trừ độ ẩm) Ngoài tính dấu, trong cây bạc hà còn có các flavonoid Thành phần chủ yêu trong tình dầu bao gốm những chất sau đây: Mentola C10H19OH
có trong tỉnh dấu với tỷ lệ 40-50%, loài của Trung Quá về Nhật Bản có thể lên tới 90% Mentola ở trong tỉnh đầu chủ yếu ở trạng thái tự do nhưng mội phần ở dạng kết hợp với acid acetic Mentol C10H18O chừng 10 đến 20% trong tinh dầu bạc hà Trung Quốc
70-Tác dụng trong điều trị C0VID-19 [21]: Tinh dầu bạc hà và mentola bốc hơi rất nhanh, gây cảm giác mát và tế tại chỗ, dùng trong một sở trường hợp đau dây thắn kinh, còn có
Trang 20tác dụng sát trùng mạnh thường dùng trong một số trường hợp ngứa của một số bệnh
ngoài da, bệnh về tai mũi họng
Bạc hà là một vị thuốc thơm dùng làm cho thuốc thơm dễ uống, làm ra mồ hói hạ sốt dùng chữa cảm sốt, cảm mạo, mũi ngại, đầu nhức làm giảm các triệu chứng của bệnh COVID-19
Tên cây thuốc: Bỉ ngạn
Tên khoa học: Lycoris radiata
Họ: Amaryllidaceace
Hình 1.10 Ảnh cây Bỉ ngạn
Cây hoa bỉ ngạn thuộc loại cây thân thảo lâu năm, chiều cao khoảng 40 - 100cm Hoa tạo thành chùm sắp xếp lạ mắt Hoa bỉ ngạn có ba màu chính: Đỏ, trắng và vàng
Tác dụng trong điều trị C0VID-19 :Theo y học cổ truyền Trung Quốc, củ bỉ ngạn đắng
và độc, nếu ăn phải có thể bị ngộ độc, môn mửa, tê liệt thần kinh,… thậm chí tử vong Tuy nhiên, khi được dùng với liều lượng phù hợp, các hoạt chất như lycopen và
galantamin trong củ bỉ ngạn sẽ giúp giảm đau, sưng, chống viêm, giảm nôn, an thần, hỗ
Trang 21trợ điều trị ung thư, bại liệt,… Tác dụng kháng virus mạnh của Lycoris radiata là nhờ hoạt chất lycorin, một alkaloid thuộc nhóm indophenanthridin, được tổng hợp trong thực vật thuộc họ Amaryllidaceae Hiệu quả kháng virus của lycorin khá cao (EC50 = 15,7 ± 1,2 nM) Tuy nhiên lycorin có thể gây độc ở liều thấp (khoảng 1 mg/kg trên chó) Theo các tác giả, lycorin có thể là một chất thích hợp để điều trị SARS-CoV-2 nếu nồng độ trị liệu không vượt quá nồng độ gây độc trong huyết tương Cơ chế kháng virus chính xác của lycorin vẫn chưa rõ ràng Nhưng Zhang và cộng sự (2020) cho rằng hoạt tính của chất này có lẽ liên quan đến tác động điều chỉnh cơ chế phân tử của vật chủ chứ không phải là trên virus Nghiên cứu của Jin và cộng sự (2021) cho thấy lycorin tương tác với RdRp tại Asp623, Asn691 và Ser759 thông qua liên kết hydro, tại đó các ái lực liên kết của lycorin (-6,2 kcal/mol) cao hơn so với remdesivir (-4,7 kcal/mol) Do đó, Lycoris radiata có thể là một dược liệu tiềm năng để nghiên cứu phát triển thuốc chống lại SARS-CoV-2
Tên cây thuốc: Bạch tật lê
Tên khoa học: Tribulus Terrestris
Họ: Zygophyllaceae
Hình 1.11 Ảnh cây bạch tật lê
Bạch tật lê là loại cây thân thảo bò lan trên mặt đất, có thể thành một thảm rộng đến 1m, nhiều cành dài từ 2 đến 3cm Có lá kép lông chim gồm 5 đến 7 đôi lá chét, lá dài khoảng 1cm, phủ nhiều lông trắng mịn ở mặt dưới Hoa màu vàng, mọc riêng lẻ ở kẽ lá, cuống hoa dài có lông cứng, thường nở vào mùa hè Quả nhỏ, khô, gồm có 5 vỏ cứng Dưới lớp
vỏ dày là hạt có phôi