Bài 4 Những trải nghiệm trong đời Tri thức Ngữ văn Tri thức đọc hiểu Truyện đồng thoại là thể loại văn học dành cho thiếu nhi Nhân vật trong truyện đồng thoại thường là loài vật hoặc đồ vật được nhân[.]
Trang 1Bài 4: Những trải nghiệm trong đời
Tri thức Ngữ văn Tri thức đọc hiểu
- Truyện đồng thoại: là thể loại văn học dành cho thiếu nhi Nhân vật trong
truyện đồng thoại thường là loài vật hoặc đồ vật được nhân hoá Vì thế, chúng vừa phản ánh đặc điểm sinh hoạt của loài vật vừa thể hiện đặc điểm của con người
Tri thức tiếng Việt
Mở rộng thành phần chính của câu bằng cụm từ
- Cụm từ: Trong câu tiếng Việt, thành phần chính gồm có chủ ngữ (C) và vị ngữ (V) Chủ ngữ và vị ngữ của câu có thể chỉ là một từ (Ví dụ: “Gà gáy”; “Hoa nở”) nhưng cũng có thể là một cụm từ (Ví dụ: “Con gà nhà tôi gáy rất to”; “Những bông hoa cúc nở vàng rực cả khu vườn”)
Cụm từ do 2 từ trở lên kết hợp với nhau nhưng chưa tạo thành câu, trong đó có một từ (danh từ/ động từ/ tính từ) đóng vai trò là thành phần trung tâm, các từ còn lại bổ sung ý nghĩa cho thành phần trung tâm Cụm từ đóng vai trò chủ ngữ
và vị ngữ trong câu thường có những loại như:
+ Cụm danh từ có danh từ làm thành phần chính Ví dụ: hai cái răng đen nhánh
+ Cụm động từ có động từ làm thành phần chính Ví dụ: thường dẫn tôi ra vườn
từ có những thông tin cụ thể, chi tiết hơn
Ví dụ: Chim sơn ca / đang hót
Trang 2+ Việc mở rộng thành phần chính của câu bằng cụm từ làm cho thông tin của câu trở nên chi tiết, rõ ràng
Đó là lí do khiến chủ ngữ và vị ngữ của câu trong thực tế thường là một cụm từ
Bài học đường đời đầu tiên
A Soạn bài Bài học đường đời đầu tiên ngắn gọn :
và em tự hứa sẽ không bao giờ nói dối, luôn trung thực và không để mẹ phải buồn
Câu 2 (trang 83 SGK Ngữ văn 6 tập 1): Dựa vào nhan đề và ấn tượng ban đầu
của bản thân khi đọc lướt qua văn bản, em đoán xem “bài học đường đời đầu tiên” được nhân vật kể lại sau đây là bài học gì?
Trả lời
Theo em bài học đường đời đầu tiên sẽ được nhân vật kể sẽ là những vấp ngã đầu tiên khi bước ra cuộc sống, là bài học khiến nhân vật nhận ra được sự sai lầm của bản thân và khiến từ đó thay đổi chính mình
Trải nghiệm cùng văn bản
Câu 1 (trang 84 SGK Ngữ văn 6 tập 1): Những chi tiết miêu tả ngoại hình nhân
vật “tôi” trong đoạn này là lời của ai? Điều này giúp em biết được gì về tính cách nhân vật?
Trả lời
- Chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật “tôi” là lời của nhân vật Dế Mèn
- Điều này giúp em hiểu rằng Dế Mèn là một nhân vật có tính cách tự tin về vẻ
bề ngoài và sức mạnh của mình
Câu 2 (trang 84 SGK Ngữ văn 6 tập 1): Qua cách nhân vật “tôi” tự miêu tả
hành động của mình ở đoạn này, em biết thêm điều gì ở đặc điểm nhân vật?
Trả lời
Nhân vật có đặc điểm: kiêu căng, tự phụ, hống hách, cậy sức bắt nạt kẻ yếu
Câu 3 (trang 84 SGK Ngữ văn 6 tập 1): Những từ ngữ “hung hăng”, “hống
hách”, “ngu dại”, “ân hận” cho thấy nhân vật “tôi” có thái độ và đánh giá như thế nào về trải nghiệm sắp kể ra dưới đây?
Trả lời
Trang 3Những từ ngữ trên cho thấy nhân vật có thái độ ân hận, hối lỗi và tự đánh giá đó
là sự ngu ngốc, dại dột về những sự việc mình đã trải qua
Câu 4 (trang 86 SGK Ngữ văn 6 tập 1): Việc Dế Choắt muốn đào một cái ngách
sang nhà nhân vật “tôi” phòng khi có kẻ nào bắt nạt cho thấy Dế Choắt suy nghĩ, đánh giá như thế nào về nhân vật “tôi”?
Trả lời
Việc Dế Choắt muốn đào cái ngách sang nhà nhân vật “tôi” phòng khi có kẻ nào bắt nạt cho thấy Dế Choắt tự được ý thức được sức khoẻ của bản thân và nghĩ rằng Dế Mèn là người khỏe mạnh đồng thời là người hàng xóm tốt bụng, có thể chia sẻ và giúp đỡ được mình khi hoạn nạn
Câu 5 (trang 88 SGK Ngữ văn 6 tập 1): Cụm từ “đứa ích kỉ” thể hiện sự nhận
thức của ai? Tự nhận thức về điều gì?
Trả lời
“Đứa ích kỉ” là sự tự nhận thực của Dế Mèn Chú tự nhận thức được sự ích kỉ, chỉ nghĩ đến lợi ích và thoả mãn được thú vui của bản thân mà không nghĩ đến hậu quả việc mình đã gây ra
Câu 2 (trang 89 SGK Ngữ văn 6 tập 1)
Trang 4- Ngoại hình: Đôi càng mẫm bóng, vuốt cứng, nhọn hoắt, cánh dài, răng đen nhánh, râu dài uốn cong, hùng dũng
- Hành động:tôi co cẳng lên, đạm phanh phách vào các ngọn cỏ; Tôi đi đứng oai vệ; Tôi đã quát mấy chị Cào Cào ngụ ngoài đầu bờ; thỉnh thoảng, tôi ngứa chân
đá một cái, ghẹo anh Gọng Vó lấm láp vừa ngơ ngác dưới đầm lên
- Ngôn ngữ:gọi Dế Choắt là “chú mày” với giọng điệu khinh khỉnh
- Tâm trạng: tôi lấy làm hãnh hiện với bà con về cặp râu ấy lắm, Tôi tợn lắm, tôi cho là tôi giỏi; thoát nạn rồi mà còn ân hận quá, ân hận mãi
=> Qua những chi tiết trên cho ta thấy Dế Mèn là một chàng thanh niên trẻ trung, yêu đời, tự tin nhưng vì tự ý thức được vẻ bề ngoài và sức mạnh của mình
Câu 4 (trang 89 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
rõ nhất tâm trạng, cảm xúc của mình khi trải qua
Câu 5 (trang 89 SGK Ngữ văn 6 tập 1)
Trả lời:
- Có thể xem cái chết của Dế Choắt là một bước ngoặt với Dế Mèn vì qua đó chú
đã nhận thức được những sai lầm của bản thân đó là tính kiêu căng, tự phụ Với mọi người, Dế Mèn đã nhận thức được sự ích kỉ, coi thường người khác
Câu 6 (trang 89 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
Trả lời:
Dấu hiệu nhận biết nhận biết Bài học đường đời đầu tiên là truyện đồng thoại:
- Nhân vật là các loài vật đã được nhân hoá: trong văn bản Bài học đường đời đầu tiên có các nhân vật là Dế Mèn, Dế Choắt, Chị Cốc, chị Cào Cào
- Thể hiện đặc điểm sinh hoạt của loài vật như ngoại hình của Dế Mèn được miêu
tả bằng những chi tiết đặc trưng cho loài dế (râu, đôi càng, đôi cánh, đầu, cái răng đen), hành động của Dế Mèn như đạp phanh phách lên ngọn cỏ, đào hang… Qua những đặc điểm đó cũng thể hiện đặc điểm của con người được thể hiện ở tính cách của Dế Mèn như tự tin, trẻ trung, yêu đời nhưng cũng vô cùng xốc nổi, kiêu căng, coi thường người khác
Câu 7 (trang 89 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
Trả lời:
- Qua truyện của Dế Mèn khiến em hiểu vì Dế Mèn mới lớn, sống trong một thế giới nhỏ bé, quanh quẩn gồm những người hiền lành nên đã lầm tưởng sự ngông
Trang 5cuồng là tài ba của mình, có thái độ kiêu căng, tự phụ Đây cũng là những lỗi lầm
dễ mắc phải ở những người tuổi mới lớn vì họ chưa có nhiều hiểu biết về cuộc đời
- Trước những lỗi lầm, chúng ta phải biết nhận ra và sửa chữa những sai lầm mà mình mắc phải, phải tự trọng, biết nghiêm khắc trước những thiếu xót của mình
B Tóm tắt những nội dung chính khi soạn bài Bài học đường đời đầu tiên:
I Tác giả
1 Cuộc đời
- Tô Hoài (1920-2014) tên khai sinh là Nguyễn Sen
- Tô Hoài sinh ra tại quê nội ở thôn Cát Động, Thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ trong một gia đình thợ thủ công
- Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức
- Ông đã phải làm nhiều công việc để kiếm sống như dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn, nhưng có những lúc thất nghiệp
- Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc
- Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 2014 tại Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi
2 Sự nghiệp văn học
a Tác phẩm chính
Sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có gần 200 đầu sách thuộc nhiều thể loại khác nhau: Dế Mèn phiêu lưu kí (truyện, 1941); O chuột (tập truyện, 1942); Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953)
b Phong cách nghệ thuật
Trang 6- Hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có, nhiều khi rất bình dân và thông tục, nhưng nhờ cách sử dụng đắc địa và tài ba nên có sức lôi cuốn, lay động người đọc
II Tác phẩm
1 Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ:
- “Bài học đường đời đầu tiên” (tên do người biên soạn đặt) trích từ chương I của
Câu chuyện kể về một chàng dế thanh niên cường tráng có tính kiêu căng,
tự phụ về vẻ đẹp và sức mạnh của mình Trong một lần nghịch dại trêu chị Cốc,
Dế Mèn vô tình dẫn tới cái chết thương tâm của Dế Choắt - anh bạn hàng xóm yếu ớt, tội nghiệp Dế Mèn ân hận và rút ra bài học đường đời đầu tiên
4 Giá trị nội dung:
- Bài văn miêu tả Dế Mèn có vẻ đẹp cường tráng của tuổi trẻ nhưng tính nết còn kiêu căng, xốc nổi
- Do bày trò trêu chọc chị Cốc nên đã gây ra cái chết thảm thương cho Dế Choắt,
Dế Mèn hối hận và rút ra bài học đường đời đầu tiên cho mình
5 Giá trị nghệ thuật:
Trang 7- Cách kể theo ngôi thứ nhất tự nhiên, hấp dẫn
- Nghệ thuật miêu tả loài vật sinh động, đặc sắc
- Ngôn ngữ chính xác, giàu tính tạo hình
Giọt sương đêm
A Soạn bài Giọt sương đêm ngắn gọn:
Chuẩn bị đọc
Câu 1 (trang 90 SGK Ngữ văn 6 tập 1): Em đã từng thấy bọ dừa chưa? Em đã
biết gì về tập tính của bọ dừa? Nếu chưa biết gì về bọ dừa, em hãy hỏi người khác hoặc tìm hiểu thông tin từ sách và Internet
Câu 2 (trang 90 SGK Ngữ văn 6 tập 1): Đã bao giờ có một sự việc bất ngờ xảy
ra khiến em thay đổi quyết định của mình? Chia sẻ với các bạn về trải nghiệm ấy
Trả lời:
- Em từng xảy ra sự việc bất ngờ: một lần, em đã không nghe lời mẹ trốn đi chơi nắng cả buổi trưa và về bị sốt Từ đó, em rút ra bài học cần nghe lời người lớn, tránh đi chơi trời nắng gay gắt sẽ dễ bị ốm
Trải nghiệm cùng văn bản
Câu 1 (trang 92 SGK Ngữ văn 6 tập 1): Theo em, vì sao giọt sương lại làm cho
Bọ Dừa quyết định về quê?
Trả lời:
Vì khi giọt sương lạnh toát rơi bộp xuống cổ, ông sực nhớ quê nhà, bao nhiêu năm biền biệt đi xa, mải làm ăn, ông quên khuấy đi mất Vì vậy giọt sương đã làm cho Bọ Dừa quyết định về quê
Câu 2 (trang 92 SGK Ngữ văn 6 tập 1): Lời của cụ giáo Cóc có ý nghĩa gì? Trả lời:
Lời cụ giáo Cóc có ý nghĩa: những điều nhỏ bé đôi khi khiến chúng ta thao thức, trăn trở vì nó gợi về những kỉ niệm và yêu thương Vì một kỉ niệm trong quá khứ
ùa về khiến Bọ Dừa sực tỉnh, giật mình, suy nghĩ về những điều đã bỏ quên từ lâu đó chính là nỗi nhớ quê nhà
Suy ngẫm và phản hồi
Câu 1 (trang 93 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
Trang 8Đoạn văn được kể bằng lời của người kể chuyện
Câu 3 (trang 93 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
Câu 4 (trang 93 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
Trả lời:
Các biện pháp nghệ thuật được miêu tả trong đoạn văn trên:
- Điệp từ “anh” được lặp lại 9 lần ở đầu mỗi câu
- So sánh “ria dài như hai sợi ăng ten vắt vẻo”
- Liệt kê: “sống trên cây”, “đào hang”, “lặn sâu” ; “béo tốt”, “gầy còm”, “trọc đầu”, “ria dài” ; “hiền lành”, “ngổ ngáo”
- Nhân hóa : dùng từ ngữ chỉ người “anh” để gọi con vật
- Sử dụng các từ láy : nhẵn nhụi, mảnh mai, vắt vẻo, nhút nhát, ngổ ngáo
=> Qua đoạn văn cũng thể hiện đặc trưng của truyện đồng thoại là thể hiện đặc điểm sinh hoạt của thể loại đặc tính sinh hoạt của các loài vật
Câu 5 (trang 93 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
Trả lời:
Lí do khiến Bọ Dừa quyết định về quê sau một đêm mất ngủ: trong đêm thanh vắng, ông lắng nghe rõ được những âm thanh quen thuộc Đặc biệt là khi giọt sương rơi xuống cổ khiến ông sực nhớ quê nhà Những âm thanh, hình ảnh đó đã gợi nhắc ông về hình ảnh quê hương mà bao lâu nay ông bỏ quên
Câu 6 (trang 93 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
Trả lời:
Trải nghiệm của Bọ Dừa trong đêm ấy là ông đã ngủ ngoài trời và ông đã có cơ hội được ngắm nhìn trời mây, lắng nghe âm thanh của lá cây, côn trùng, tiếng gió, tiếng sương rơi
Trang 9Qua đó, tác giả muốn gửi đến chúng ta thông điệp: đôi khi vì cuộc sống bận rộn khiến chúng ta quên đi những điều thân thuộc, gần gũi với chính mình Vì vậy hãy biết trân trọng những giá trị của cuộc sống
Câu 7 (trang 93 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
B Tóm tắt những nội dung chính khi soạn bài Giọt sương đêm:
I Tác giả
1 Cuộc đời
- Trần Đức Tiến (1953)
- Quê quán: làng Cao Đà, xã Nhân Mỹ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
- Ông là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 1998 đến 2007
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1996
2 Sự nghiệp văn học
a Phong cách nghệ thuật
Trang 10- Trần Đức Tiến viết nhiều tác phẩm dành cho thiếu nhi, truyện đồng thoại của ông tinh tế, hồn nhiên
- Đoạn 1 (Từ đầu đến “làm nghề buôn”): Người khách trọ xin ngủ nhờ
- Đoạn 2 (Tiếp theo đến “Thằn Lằn gật gù”): Cuộc trò chuyện giữa Thằn Lằn và
Người khách Bọ Dừa đến xóm Bờ Giậu để xin nghỉ lại một đêm Vì
không muốn chui vào căn nhà của Thằn Lằn vì sợ bóng tối, chật hẹp Anh ta đã xin cho mình ngủ tạm dưới vòm trúc Ông trưởng thôn Cóc lo lắng vì đêm nay trời nhiều mây lá cây xào xạc, côn trùng rỉ rả mãi một điệu buồn nên khó mà Bọ Dừa ngủ ngon cho được Đúng thật vậy nửa đêm Bọ Dừa tỉnh dậy vì một giọt sương đêm Những cũng chính giọt sương và xóm Bờ Giậu này đã khiến Bọ Dừa đến quê nhà
mình sau bao năm xa quê, mải làm ăn, mưu sinh Và cuối cùng Bọ Dừa quyết định
khoác ba lô hành lý lên vai về quê
Trang 114 Giá trị nội dung:
Qua câu chuyện của những loài vật và đặc biệt là Bọ Dừa, tác giả vừa khắc họa thành công những đặc trưng của loài vật vừa thể hiện lời nhắc nhở con người
đừng vì cuộc sống xô bồ mà quên mất quê hương mình
5 Giá trị nghệ thuật:
- Truyện đồng thoại nhân cách hóa các loài vật kết hợp các biện pháp tu từ so sánh, liệt kê, điệp từ
- Nghệ thuật miêu tả loài vật sinh động, đặc sắc
- Ngôn ngữ chính xác, giàu tính tạo hình
Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ
A Soạn bài Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ ngắn gọn :
Câu 1 (trang 96 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
Trả lời:
Câu nói của nhân vật bố có thể hiểu: món quà chính là tình cảm, tấm lòng của người tặng đã gửi gắm vào đó nên món quà dù lớn hay nhỏ đều đẹp Cách chúng
ta nhận, trân trọng món quà của người tặng cũng thể hiện nét đẹp của chính mình
Câu 2 (trang 96 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
Trả lời:
Qua văn bản, em cảm nhận được tình cảm cha con gắn bó tha thiết, người cha đã thể hiện tình yêu thương với đứa con thông qua những bài học sâu sắc từ cuộc sống, biết yêu thương, lắng nghe và thấu hiểu từ thiên nhiên, biết trân trọng mọi thứ xung quanh mình
Trang 12Câu 3 (trang 96 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
Trả lời:
- Câu văn “những bông hoa chính là người đưa đường” cho ta hiểu “thế giới” chính là những điều thân thuộc, gần gũi với chính mình Khi nhắm mắt lại và cảm nhận bằng mọi thứ bằng mọi giác quan, bạn sẽ thấy con đường đi của riêng mình
- Qua đó, chúng ta thấy tác giả đã thể hiện thái độ trân trọng, yêu thương thế giới
- Từ đó em rút ra được bài học cho mình trong cách ứng xử: cần trân trọng, biết
ơn tình cảm, tấm lòng của người khác dành cho mình, Dù thích hay không thích món quà, chúng ta cũng không nên từ chối hay khước từ người tặng bởi đó là tình cảm, tâm huyết mà họ đã dành cho chúng ta
Câu 5 (trang 96 SGK Ngữ văn 6 tập 1):
Trả lời:
- Cách cảm nhận của nhân vật tôi trong câu chuyện đã dần dần thay đổi: ban đầu, nhân vật không thể đoán được tên loài hoa, dần dần đã thuộc tên và rồi khi nhắm mắt lại, ngửi mùi hoa cũng có thể đoán đúng tên Như vậy, nhân vật đã cảm nhận thế giới tự nhiên bằng nhiều giác quan và khi càng hiểu, nhân vật càng trân trọng
và thêm yêu thiên nhiên quanh mình
- Cách cảm nhận ấy đem lại sự tươi đẹp cho cuộc sống của chúng ta Khi ta cảm nhận bằng cả tâm hồn và tình yêu thương ta sẽ phát hiện được những vẻ đẹp, những giá trị từ những điều bình dị nhất
B Tóm tắt những nội dung chính khi soạn bài Vừa nhắm mắt vừa mở cửa
sổ:
I Tác giả
1 Cuộc đời
- Nguyễn Ngọc Thuần (1972) quê ở Tân Thiện - Hàm Tân, Bình Thuận,
- Là một nhà văn trẻ đầy triển vọng ở thể loại văn xuôi đương đại, là thành viên của Hội nhà văn Việt Nam
- Nguyễn Ngọc Thuần tốt nghiệp ĐH Mỹ thuật TP HCM, sau khi ra trường anh đầu quân cho Báo Tuổi trẻ
Trang 132 Sự nghiệp văn học
- Nguyễn Ngọc Thuần bước lên đỉnh cao thành công của văn chương, với hàng loạt các giải thưởng như:
+ Giăng giăng tơ nhện (giải thưởng Văn học tuổi hai mươi lần II)
+ Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, NXB Trẻ 2000
+ Giải nhất cuộc thi Văn học Thiếu nhi lần III, giải Peter Pan (giải thưởng của Thụy Điển dành cho tác phẩm thiếu nhi hay nhất
+ Một thiên nằm mộng - giải A cuộc vận động sáng tác văn học thiếu nhi của NXB Kim Đồng 2001-2002
II Tác phẩm
1 Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ:
- Đoạn trích trong SGK được trích từ truyện dài cùng tên Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ - NXN Trẻ, 2004
2 Thể loại: Truyện dài
3 Bố cục:
- Phần 1: Từ đầu đến “con mắt thần” (Những trò chơi của bố và bạn nhỏ)
- Đoạn 2: Tiếp theo đến “vì món quà đó” (Cách bố đón nhận món quà của Tý)
- Đoạn 3: Còn lại (Bài học của bố về cách cảm nhận thế giới tự nhiên)
4 Tóm tắt:
Câu chuyện kể về nhân vật tôi được bố dạy cách nhắm mắt và sờ những bông hoa rồi tập đoán, nhờ vậy mà nhân vật tôi có thể đoán được tất cả các loại hoa