B� GIÁO D�C VÀ ĐÀO T�O 0 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Học phần LOGIC HỌC Đ Ề TÀI Phán đoán phân liệt và vận dụng các công thức đẳng trị của phán đoán phân liệt vào các tình huống suy luận[.]
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: LOGIC HỌC
Đ
Ề TÀI :
Phán đoán phân liệt và vận dụng các công thức đẳng trị của phán đoán phân liệt vào các tình huống suy luận trong học tập và cuộc sống.
Giảng viên hướng dẫn : Võ Minh Tuấn
Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Chinh
Lớp : N18K24LKTC
Mã sinh viên : 24A4061980
Hà Nội, ngày 4 tháng 4 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
Đối tượng nghiên cứu 5
Phạm vi nghiên cứu 5
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
Cơ sở lý luận 5
Phương pháp nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: Phần lý luận 6
1.1 Khái niệm phán đoán phân liệt 1.2 Các công thức đẳng trị của phán đoán phân liệt Chương 2 : Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân 2.1 Liên hệ thực tiễn 2.2 Liên hệ bản thân KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Logic học là môn khoa học nghiên cứu về cấu trúc của sự suy luận chính xác Cùng với ngôn ngữ logic là phương tiện, là công cụ để con người hiểu biết trao đổi tư tưởng với nhau
Trong suốt quá trình sinh sống con người đã học được cách suy luận logic chặt chẽ và chính xác Trong nền tảng giáo dục nhất là ở môn Toán học, con người được rèn luyện về suy luận logic Tuy nhiên, vì thiếu những kiến thức có hệ thống về logic học nên một số người không ý thức rõ không phân tích được sự chính xác hay sai xót trong suy luận của chính bản thân mình và suy luận của người khác
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, từ việc nghiên cứu, phân tích lý thuyết phán đoán phân liệt trong logic học còn nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh Xuất phát từ lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “ Phán đoán phân liệt và vận dụng các công thức đẳng trị của phán đoán phân liệt vào các tình huống suy luận trong học tập và cuộc sống” làm đề tài tiêu luận
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài : nắm được khái niệm cơ bản của phán đoán phân liệt , công thức và giá trị logic của phán đoán phân liệt Từ đó xác định các công thức đẳng trị của phán đoán phân liệt và vận dụng vào trong các tình huống suy luận học tập và cuộc sống
Để thực hiện mục đích trên, đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ sau: làm rõ cơ
sở lý luận về phán đoán phân liệt, các công thức đẳng trị của phán đoán phân liệt Lấy ví dụ về các phán đoán đẳng trị với phán đoán phân liệt trong các tình huống suy luận trong học tập và cuộc sống Từ đó liên hệ đến bản thân về vai trò của phép đẳng trị trong học tập và cuộc sống, ý nghĩa của việc học tập logic học.
Trang 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu phán đoán phân liệt và vận dụng các công thức đẳng trị
của phán đoán phân liệt vào các tình huống suy luận trong học tập và cuộc sống.
Phạm vi nghiên cứu
Không gian: ở Việt Nam
Thời gian: Việt Nam giai đoạn hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Dựa quan điểm của logic học hình thức về hình thức và quy luật của tư duy
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học như: thống nhất lôgic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa,phương pháp hình thức hóa
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: giải quyết được những vấn đề lý luận về phán đoán phân liệt và các công thức đẳng trị của phán đoán phân liệt vào các tình huống suy luận trong học tập và cuộc sống.
Ý nghĩa thực tiễn: những nghiên cứu trên giúp chúng ta ứng dụng logic học vào những tình huống suy luận trong học tâp và cuộc sống.
Trang 5NỘI DUNG Chương 1 : Cơ sở lý luận chung về Phán đoán phân liệt
1.1 Khái niệm phán đoán phân liệt
“Phán đoán phân liệt (phép tuyển) là phán đoán thức thể hiện mối quan hệ
lựa chọn tồn tại giữa các đối tượng hoặc thuộc tính được phản ánh trong các phán đoán thành phần, trong đó nhất thiết phải có một tồn tại”
Tuy nhiên, sự lựa chọn tồn tại có thể xảy ra theo hai phướng án: tương đối là
lựa chọn trong đó tồn tại của đối tượng này không nhất thiết loại trừ tồn tại
của những đối tượng khác, chúng có thể cùng tồn tại; và tuyệt đối là lựa chọn
tồn tại, trong đó tồn tại của đối tượng này nhất thiết phải loại trừ tồn tại của những đối tượng khác, chúng không thể cùng tồn tại Do vậy, phán đoán phân liệt (phép tuyển) được chia thành hai loại:
*Phán đoán phân liệt tương đối (phép tuyển tương đối hay tuyển yếu) là
phán đoán phân liệt mà liên từ “hoặc” mang ý nghĩa liên kết giữa các thành
phần
Ví dụ 1: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình” – Điều 132 Hiến Pháp 2013
Ví dụ 2: “Một cặp vợ chồng chỉ nên có một hoặc hai con”
Ví dụ 3: “Kẻ phạm tội dùng vũ lực hoặc các thủ đoán khác nhau”
Trong ba ví dụ trên thể hiện tính chất của phép tuyển yếu, cho thấy sự lựa chọn có tính tương đối, phản ánh sự tồn tại của thuộc tính này không hoàn toàn loại trừ sự tồn tại của thuộc tính khác, hoặc có thể cùng tồn tại của các thuộc tính
Ở ví dụ 1: Bị cáo có thể tự bào chữa nếu có đủ khả năng bảo vệ mình hoặc
nếu không đủ kiến thức về pháp luật để bảo vệ mình có thể nhờ người khác bào chữa cho mình bằng cách thuê luật sư, trợ giúp viên pháp lí,…Trên thực tế
trong trường hợp bị cáo nhờ người khác bào chữa cùng lúc có thể được tự lên tiếng bảo vệ quyền lợi của bản thân mình
Trang 6Công thức tổng quát: Tab = a v b
Cấu trúc logic: (S1 V S2) là P; S là (P1 V P2); (S1 V S2) là (P1 v P2)
Trong ngôn ngữ tự nhiên liên từ tuyển thường là: hoặc; hay là; ít nhất
Giá trị logic của phán đoán phân liệt tương đối: có giá trị trân thực khi có một trong các thành phần, hoặc tất cả các thành phần chân thực Phán đoán này chỉ có giá trị giả dối khi có tất cả các thành phần đều giả dối
*Phán đoán phân liệt tuyệt đối (phép tuyển tuyệt đối hay phép tuyển mạnh)
là phán đoán phân liệt mà liên từ “hoặc” mang ý nghĩa tuyệt đối, nghĩa là nội
dung phản ánh sự lựa chọn một trong các thành phần
Ví dụ 1: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” – Điều 68 Hiến Pháp 2013
Ví dụ 2: “Bị cáo phạm tội hoặc không phạm tội”
Ví dụ 3: “
Trong ví dụ trên thể hiện tính chất của phép tuyển mạnh, phán đoán phân liệt tuyệt đối phản ánh sự tồn tại của một thuộc tính mà gạt bỏ sự tồn tại của các
Ở ví dụ 1 Công dân không thể cùng lúc vừa theo và vừa không theo một tôn
giáo nghĩa là chỉ có một phán đoán thành phần là đúng (theo hoặc không theo một tôn giáo) mà thôi
Công thức tổng quát: Tab = a v b
Trong ngôn ngữ tự nhiên liên từ tuyển thường là: hoặc, hoặc…
Giá trị logic của phán đoán phân liệt tuyệt đối: có giá trị chân thực khi có một trong các thành phần chân thực, phán đoán này sẽ giả dối khi có tất cả các thành phần đều chân thực hoặc giả dối
Căn cứ vào đặc trưng của phép tuyển mạnh thì giá trị logic của nó là đúng chỉ khi có một phán đoán thành phần là đúng và sai khi các phán đoán thành phần cùng đúng hoặc cùng sai
Trang 7*Kết cấu chung của các phán đoán phân liệt: phán đoán phân liệt có các
dạng:
Dạng 1: S1 v S2 là P; S1 v S2 là P.
Ví dụ 1: “Đồng chí A hoặc đồng chí B đang công tác tại Binh chủng Tăng – Thiết giáp(phán đoán phân liệt liên kết)
Ví dụ 2: Chị A hoặc chị B hiện đang là Hiệu trưởng trường tiểu học X (phán đoán phân liệt tuyệt đối)
Dạng 2: S là P1 v P2; S là P1 v P2
Ví dụ 1: Công tác tại Binh chủng Tăng – Thiết giáp có đồng chí A hoặc đồng chí B (phán đoán phân liệt liên kết)
Ví dụ 2: Hiệu trưởng trường X hiện nay là chị A hoặc chị B(phán đoán phân liệt tuyệt đối)
Dạng 3: S1 v S2 là P1 v P2;S1 v S2 là P1 v P2
Ví dụ 1:Anh A hoặc anh B là sinh viên Học viện ngân hàng hoặc Học viện tì tài chính (phân đoán phân liệt)
Ví dụ 2: Chị A hoặc chị B hiện đang là Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng trường tiểu học X.
1.2 Các công thức đẳng trị của phán đoán phân liệt
Trong logic học các phán đoán có thể khác nhau về cấu trúc logic, nhưng giá trị logic của chúng luôn là như nhau với mọi biên thiên về giá trị logic của các phán đoán đơn thành phần Những phán đoán được diễn đạt bằng các công thức như vậy được gọi là các phán đoán đẳng trị (gần tương tự như hằng đẳng thức trong số học)
Ký hiệu:
Công thức: a v b 7a b
a v b 7b a
a v b 7(7a ^ 7b)
Trang 8Ví dụ:
Phán đoán phân liệt: “Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” (a v b) - Điều 132 Hiến Pháp 2013
Phán đoán đẳng trị với phán đoán phân liệt :
(7a v b): Nếu bị cáo không tự bào chữa thì bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa.
(7b a): Nếu bị cáo không nhờ người khác bào chữa thì bị cáo có quyền tự bào chữa.
a v b 7(7a ^ 7b): Không thể nói bị cáo không có quyền tự bào chữa cũng không
có quyền nhờ người khác bào chữa.
Như vậy ta có thể thấy việc tìm các phán đoán đẳng trị chính là việc tìm cách diễn đạt các phán đoán một cách tương đương sao cho cấu trúc của phán đoán diễn đạt thay đổi, nhưng không làm thay đổi nội dung ý nghĩa của câu
Trang 9Chương 2 : Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân 2.1 Liên hệ thực tế
* a v b 7a b
Phán đoán phân liệt (1):
“Cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc hiến
mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác, nghiên cứu y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác.” (a v b)
(Khoản 1 Điều 35 Bộ Luật Dân Sự 2015) Phán đoán đẳng trị với (1):
“Cá nhân không hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống thì cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác, nghiên cứu y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác” (7a v b)
* a v b 7b a
Phán đoán phân liệt (2):
“Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của tòa án.” (a v b)
(Khoản 4 Điều 213 Bộ Luật Dân Sự 2015) Phán đoán đẳng trị với (2):
“Tài sản chung của vợ chồng không phân chia theo quyết định của tòa án thì có thể phân chia theo thỏa thuận.” (7b v a)
*a v b 7(7a ^ 7b)
Phán đoán phân liệt (3):
“Vật tiêu hao là vật đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu.”(a v b)
(Khoản 1 Điều 112 Bộ Luật Dân Sự 2015)
Trang 10Phán đoán đẳng trị với (3): “Vật tiêu hao không thể không là vật đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng
sử dụng ban đầu.” (7(7a ^ 7b))
2.1 Liên hệ bản thân
Ngày nay, khi nhận thức khoa học đã phát triển đến một trình độ trừu tượng hóa rất cao thì các phép đăng trị nói riêng và logic học nói chung có ý nghĩa ngày càng quan trọng Logic học đã dùng những hệ thống khái niệm