1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu cẩm nang xuất khẩu hàng gia dụng, vải,…vào nhật bản từ đó phân tích yếu tố tâm lý, pháp luật, và văn hóa trong đàm phán

21 24 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu cẩm nang xuất khẩu hàng gia dụng, vải,…vào Nhật Bản từ đó phân tích yếu tố tâm lý, pháp luật, và văn hóa trong đàm phán
Tác giả Nhóm 3, Đỗ Hương Giang, Phùng Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Hồng, Hoàng Thị Hồng, Nguyễn Tiến Hùng, Trần Thị Huệ, Phạm Thị Mừng, Nguyễn Thị Phương Thảo
Người hướng dẫn PTS. Trương Thị Hương
Trường học Trường Đại Học Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế xuất khẩu, Quản trị kinh doanh
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 271,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu về cẩm nang xuất khẩu gia dụng, vải vóc và đồ dùng cá nhân vào Nhật Bản Để thiết thực và cụ thể hóa 3 nền móng này, nhóm em thông qua “ Cẩm nang xuất khẩu sang Nhật Bản đối vớ

Trang 1

8 Nguyễn Thị Phương Thảo

Hà Nội, Ngày 3 Tháng 5 Năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

Lời mở đầu 2

Giới thiệu về cẩm nang xuất khẩu gia dụng, vải vóc và đồ dùng cá nhân vào Nhật Bản 3

Phần I – Tâm lý trong đàm phán 4

1 Các quá trình tâm lý 4

2 Các đặc điểm tâm lý cá nhân 6

Phần II – Văn hóa trong đàm phán 8

1 Sự ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa đến đàm phán 9

Phần III – Pháp luật trong đàm phán 12

1 Đối với người Nhật Bản 12

2 Đối với đối tác của Nhật Bản 15

Phần IV- Kết Luận 17

Phần V- Câu hỏi và Trả Lời 17

Trắc nghiệm 17

Trang 3

Lời mở đầu

Đại văn hào Gorki đã từng nói :” Con người vốn bản tính là nghệ sĩ’ Trong mỗi chúng ta đều chanchứa 1 chất nghệ sĩ đó chứ , chẳng phải chúng ta tự tạo ra , xây dựng và lí tưởng cuộc sống củachính mình hay sao ?Tạo hóa sắp đặt ra cho chúng ta những sự vật, sự việc đơn sơ, nguyên thủy Đểcải thiện và phát triển từ những nguyên liệu đó là từ bàn tay và bộ não của con người

Câu nói của ông bà ta ngày xưa vẫn là bất hủ cho đến bây giờ : “ Biết người biết ta, trăm trận trămthắng” Nắm rõ bản thân mình (theo mô hình SWOT- Strengths (thế mạnh), Weaknesses (Điểmyếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức) và cùng đối chiếu qua đối thủ/ đối phương/bên muốn hợp tác thì sự lớn hay bé cũng thành mà thôi Cái hay của việc đàm phán / thương lượng

đó là mối quan hệ win-win , đôi bên đều có lợi , mang lại giá trị cho nhau Một mối quan hệ tôntrọng ,văn minh , mà còn đem về “lợi nhuận “ không chỉ cho việc làm ăn mà là” lợi nhuận” về trithức, phong cách và ứng xử Có ba yếu tố then chốt cho một cuộc thương lượng đó là : tâm lí, vănhóa và pháp luật Ta hãy ví ba yếu tố này như là nền móng, cách diễn đạt là gạch, và mái nhà chính

là thắng lợi của 1 cuộc đàm phán Suy cho cùng, để có đạt được cuộc đàm phán thành công, chúng

ta giống như là nghệ sĩ và nghệ nhân hiện diện song song vậy

Giới thiệu về cẩm nang xuất khẩu gia dụng, vải vóc và đồ dùng cá nhân vào Nhật Bản

Để thiết thực và cụ thể hóa 3 nền móng này, nhóm em thông qua “ Cẩm nang xuất khẩu sang

Nhật Bản đối với mặt hàng đồ nội thất và gia dụng ,vải vóc ,đồ dùng cá nhân”, đi sâu vào quá

trình và tổng quan của việc xuất nhấp khẩu sang Nhật Bản ( Đông Nam Á) , từ đó nghiên cứu và lọc

ra những điểm nổi bật và thông tin thiết yếu cho một cuộc thương lượng về việc được phép nhậpkhẩu vào Nhật Bản đối với tất cả các nước trên thế giới

Đây là cuốn sách gồm 71 trang bao gồm rất nhiều những thông số, quy định của hàng hóa đượcphép lưu thông vào Nhật Bản Trong đây chứa hàng loạt những lưu ý về kĩ thuật, số liệu chính xác

về từng loại mặt hàng Và hơn nữa trong đây cũng bao hàm rất nhiều những quy định về từng loạimặt hàng, các cơ quan cấp phép cho xuất khẩu hàng hóa vào Nhật Bản Cùng với đó là những lưu ý

Trang 4

riêng biệt về mặt hình dạng bên ngoài sản phẩm, cách dán nhẵn đánh số được lưu ý vô cùng kĩ càng.Trong cuốn cẩm nang này , mỗi phụ lục mặt hàng cụ thể sẽ có 2 điều kiện đi kèm : quy trình nhậpkhẩu và phân phối và thủ tục gắn nhãn Nhật Bản vốn được mệnh danh là “ nước Mỹ thứ hai” ởChâu Á và nước bạn cũng khét tiếng là đất nước “ khó tính’ không kém gì phương Tây Vậy đểthương lượng một vấn đề cụ thể ở đây là xuất nhập khẩu sang nước họ , họ đưa ra yêu sách và yêucầu như thế nào Trước hết , cùng thâm nhập và điểm qua 3 “nền móng”: Tâm lí , pháp luật, và vănhóa trong một cuộc đàm phán/ thương lượng với nhóm mình nhé.

Bản Như trong “Cẩm nang xuất khẩu sang Nhật Bản đối với mặt hàng Đồ nội thất và

gia dụng, vải vóc và đồ dùng cá nhân” ta có thể cảm thấy rằng người Nhật Bản có yêu

cầu rất cao về chất lượng Ta có thể nhận thấy được rất nhiều luật cũng như đạo luật được

quy định rất chặt chẽ được Nhật Bản yêu cầu khi nhập khẩu hàng vào nước họ như : Luật

kiểm soát hàng gia dụng có chứa chất gây hại, Luật Gắn nhãn mác đối với chất lượng hàng gia dụng, Đạo luật chống cách bán hàng có thưởng không chính đáng và cách trình bày gây hiểu lầm, Luật An toàn hàng tiêu dùng, Người Nhật rất quan tâm đến sự an toàn

vậy nên ta có thể nhận thấy hàng loạt những quy định về số liệu thống kê về cách chỉ số antoàn cho đồ gia dụng Ví dụ như người Nhật đưa ra rất nhiều quy luật, quy định trên các sảnphẩm nhập từ nước ngoài vào: Quy định pháp lý và thủ tục tại thời điểm nhập khẩu, Quyđịnh pháp lý và thủ tục tại thời điểm bán, Quy định về các chất độc hại trong các sản phẩm,

……

Một đặc điểm nữa của người Nhật Bản là coi trọng các tiêu chuẩn Nhật Bản, tiêu biểu làphải đáp ứng điều kiện về quy cách sản phẩm, quy chuẩn kỹ thuật, quy định ghi nhãn,Luậttiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) và Luật tiêu chuẩn xây dựng Chúng được coi trọng

Trang 5

hơn cả các tiêu chuẩn quốc tế Với hàng loạt những quy định đó sẽ khiến tâm lý người Nhậtcảm thấy an toàn, tin tưởng vào những sản phẩm từ nước ngoài nhập vào.

 Như vậy, Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật

và hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta Là cơ sở củanhận thức hiện thực khách quan và của hoạt động tâm lý Cảm giác cũng cho biết trạngthái bên trong của con người

b Tri giác

Về tri giác người Nhật rất biết chủ động quan sát toàn vẹn bề ngoài của sản phẩm Tri giáccủa họ là sự hứng thú, mục đích, tình cảm, kinh nghiệm, Họ luôn để ý đến từng tiểu tiếtnhư tỉ lệ của sản phẩm ( Số mũi khâu tại điểm may trên 16 mũi/3 cm (kim khâu cỡ 11-14)),hàng loạt cách thành phần phải được in rõ ràng và chính xác, các thông số về kĩ thuật phảiđược kiểm tra gắt gao; Ghế không đổ khi để nghiêng một góc 20 độ;

 Năng lực quan sát là tri giác cao nhất mang tính tích cực chủ động Tri giác là mộtquá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật,hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta Tri giác củacon người còn phụ thuộc vào bản thân chủ thể tri giác: nhu cầu, hứng thú, tìnhcảm, mục đích, động cơ, kinh nghiệm Vì thế nên cùng một hiện thực khách quannhưng mỗi người lại có các tri giác khác nhau

c Trí nhớ

Chúng ta thấy các em bé Nhật thường chơi trên sàn nhà tự do, và bố mẹ của các bé rất khắtkhe cho sự an toàn của bé Sản phẩm có nguồn gốc sinh học, an toàn với trẻ nhỏ sẽ là ưutiên trong lựa chọn của người Nhật Bản để làm nội thất cho nhà của mình

Tiêu biểu thể hiện qua những đặc điểm tiêu chuẩn công nhận SG cho mặt hàng của trẻ em

Ví dụ, Ghế trẻ em có 2 Loại l: Là loại ghế không có khung đỡ gắn vào thân ghế Thuật ngữ

“khung đỡ” sử dụng trong tài liệu này là chỉ phần bàn gắn liền với thân ghế để ngăn khôngcho trẻ ngã hoặc tương tự Loại 2: Là loại ghế có khung đỡ gắn vào thân ghế Trong trườnghợp là ghế thuộc loại 2 bên trên, mặt trên của khung đỡ phải phẳng và trơn, không có cácvết sần nhỏ Khoảng cách từ mặt sàn cho đến điểm giữa của thanh xà trước của mặt ghếkhông được vượt quá 260 mm Chiều cao của lưng ghế không nhỏ hơn 200mm

 Vì vậy, Trí nhớ là quá trình tâm lý có vai trò to lớn trong đời sống tâm lý của con

người Không có trí nhớ thì không lưu giữ, tái hiện lại được những kinh nghiệm đã

có về các sự vật, hiện tượng Mà không có kinh nghiệm thì không có hoạt động

Trang 6

đàm phán, nếu không muốn nói là không có bất kỳ một hoạt động nào, cũng nhưkhông thể hình thành nhân cách

d Tưởng tượng

Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệmcủa cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có.Hay nói cách khác, con người tạo ra những hình ảnh mới trên những chất liệu của tri giáctrước đó được trí nhớ ghi lại

e Tư duy và ngôn ngữ

Chúng ta có thể nói rằng không có dân tộc nào nhạy bén về văn hoá của nước ngoài nhưngười Nhật Bản Họ không ngừng theo dõi những biến động tình hình bên ngoài, đánh giá

và cân nhắc những ảnh hưởng của các trào lưu và xu hướng chính đang diễn ra đối vớiNhật, và nếu như họ phát hiện ra trào lưu nào đang thắng thế thì họ có xu hướng sẵn sànghọc hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó Và chính tinh thần thực dụng, tính hiếu kỳ và óccầu tiến của người Nhật là những động lực thúc đẩy họ bắt kịp với các nước tiên tiến Họkhông đặt vấn đề phê phán hay chọn lọc khi học mà bằng mọi cách học cho hết Sau đó họmới nghiền ngẫm tìm ra những yếu tố có thể cải biến Tại Nhật, việc này cần phải để ý hơn,bởi họ chú trọng nó trong cách nói chuyện

Về Ngôn ngữ, bạn dễ dàng bị hiểu lầm là đe dọa hay xúc phạm nếu không sử dùng đúngngôn ngữ cơ thể tại Nhật Bản Có những cử chỉ là hoàn toàn bình thường khi sử dụng tạihầu hết các quốc gia khác Tuy nhiên tại Nhật đó lại bị xem là thô lỗ, thiếu tế nhị Và nguyhiểm hơn, bạn có thể sẽ không có cơ hội để sửa sai lần thứ hai với người đó nữa Ví dụ điểnhình là những nhãn mác, kí hiệu sản phẩm đều được quy định chặt chẽ theo quy định củapháp luật, Đạo luật chống cách bán hàng có thưởng không chính đáng và cách trình bàygây hiểu lầm,…

 Tư duy là sự nhận thức hiện thực khách quan một cách gián tiếp và khái quát Tư

duy giúp con người đưa ra những phán đoán suy luận và có được các phương ántrong đàm phán

 Ngôn ngữ là phương tiện để con người tiếp thu nền văn hóa xã hội, nâng cao hiểu

biết và kinh nghiệm của con người Không có ngôn ngữ thì không có tư duy.Ngược lại, không có tư duy thì ngôn ngữ không thể phát triển Trong đàm phán,việc chúng ta diễn đạt được những ngôn từ phù hợp để hai bên tư duy đúng, hiểuđược tư tưởng của nhau, tạo được thuận lợi trong quá trình đàm phán là rất cầnthiết

Trang 7

2 Các đặc điểm tâm lý cá nhân

a Khí chất

Khí chất của người tiêu dùng là thuộc tính tâm lý phức tạp biểu hiện cường độ, tốc độ, nhịp

độ của các hiện tượng tâm lý liên quan tới hoạt động tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của họ a/ Khí chất linh hoạt:

Biểu hiện ở người có tính chất này là: trạng thái xúc cảm dễ thay đổi, phản ứng nhanh, nhiệttình, lanh lợi, hiếu động, thiết lập quan hệ nhanh với người bán hàng, nói nhanh, cử chỉnhanh nhẹn hoạt bát, mua hàng và tính toán giá cả nhanh Họ thuộc loại hoạt động thần kinhlinh hoạt

b/ Khí chất điềm tĩnh:

Ở những người này xúc cảm ít thay đổi, hành vi mua hàng của họ bình tĩnh, thận trọng, chắcchắn khi mua hàng, nhưng họ hơi cố chấp, đôi khi đa nghi, hành động tư thế mua hàng kháung dung, từ tốn, ăn nói và cử chỉ thận trọng biết tự kiềm chế khi giao tiếp, họ thuộc loại hoạtđộng thần kinh cân bằng

c/ Khí chất sôi nổi nóng nảy:

Biểu hiện của người tiêu dùng có khí chất này là: xúc cảm, tâm trạng dễ thay đổi, dễ xúcđộng, hấp tấp khi mua hàng, biểu hiện ở nét mặt luôn rạng rỡ, mua nhanh Họ cũng dễ nổinóng khi không được quan tâm và phục vụ chu đáo của các nhân viên bán hàng Họ thuộcloại quá trình thần kinh hưng phấn chiếm ưu thế

d/ Khí chất ưu tư:

Người có khí chất này biểu hiện tâm tư trầm lặng, phản ứng chậm, do dự, thâm trầm, khôngthích ồn ào, đa nghi, kín đáo, tỉ mỉ, ăn nói và cử chỉ chậm chạp, ngượng nghịu Họ sống bằngnội tâm, không thích giao tiếp, ồn ào

b Tính cách

Người tiêu dùng Nhật Bản ưa chuộng sự đa dạng của sản phẩm Hàng hóa có mẫu mã đadạng phong phú thu hút được người tiêu dùng Nhật Bản Bởi vậy nhãn hiệu hàng có kèmtheo những thông tin hướng dẫn tiêu dùng là rất quan trọng để đưa hàng của bạn tới ngườitiêu dùng Người Nhật thường chỉ mua sản phẩm với số lượng ít vì không gian chỗ ở của

họ tương đối nhỏ và còn để tiện thay đổi cho phù hợp mẫu mã mới Người Nhật đặc biệt ưa

Trang 8

thích những hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo và thực sự được làm bằng phương pháp thủcông và chuộng các loại quà tặng và các sản phẩm trang trí nội thất được sản xuất bằng thủcông với các loại nguyên liệu tự nhiên, phản ánh truyền thống và văn hóa đặc thù của cácnước châu Á Tuy bị ảnh hưởng bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế và thiên tai nhưng trongcuộc sống, người tiêu dùng Nhật Bản vẫn luôn giữ thói quen thể hiện bản sắc riêng, trưngbày nội thất theo mùa, theo thời.

Vì vậy, khi tìm hiểu về sản phẩm nội thất, các nhà nhập khẩu lẫn người tiêu dùng luôn quantâm đến việc sản phẩm được chế tạo từ nguyên liệu gì, công nghệ sản xuất ra sao để đảmbảo độ an toàn khi sử dụng và đặc biệt sản phẩm có mang tính truyền thống, thể hiện đượcphong cách, nét độc đáo riêng hay không

Ví dụ như : Trong số các loại thảm, thảm có dây buộc (không phải là loại thảm nỉ) phải cónhãn liệt kê các chi tiết phù hợp theo quy định pháp luật Các sản phẩm sẽ không được bánnếu không có các nhãn mác này Bất cứ tấm thảm nào rộng hơn 2m 2 sử dụng trong các tòanhà (nhà cao tầng, các công trình ngầm, cửa hàng, rạp hát, nhà nghỉ hoặc bệnh viện) phảiđược Hiệp hội chất làm chậm cháy của Nhật Bản công nhận có sử dụng chất làm chậmcháy, dựa theo các quy định của Luật chống cháy

Tính cách, thái độ của người Nhật cũng ảnh hưởng ít nhiều đến phong cách nhập khẩu hànghóa của họ Thái độ kỉ luật tính trách nhiệm cao nên yêu cầu về độ chính xác và tỉ mỉ củahàng hóa cũng phải thế Những sản phẩm nhập vào chất lượng đề phải như nhau: giấy dántường phải qua kiểm duyệt bởi Hiệp hội Vật liệu dán tường của Nhật Bản; Các mặt hàngvải gia dụng phải đáp ứng yêu cầu về gắn nhãn của Luật gắn nhãn chất lượng hàng giadụng tại thời điểm bán hàng,…

Ngoài ra, người tiêu dùng Nhật Bản không thích sử dụng những sản phẩm mang phongcách của các nước ASEAN mà rất chuộng những dòng sản phẩm thể hiện văn hóa phươngTây, gắn với gu thẩm mỹ của châu Âu, châu Mỹ nhiều hơn nhưng lại thích kích cỡ nhỏ đểphù hợp với không gian sống không quá rộng Điều này được thể hiện rất rõ qua các tiêuchuẩn công nhận kí hiệu SG cho từng mặt hàng đồ nội thất Ví dụ, giường được phân loạithành giường tháo rời được và không tháo rời được, kích thức tiêu chuẩn phải đáp ứng đầy

đủ theo tiêu chuẩn,…

=>Qua khía cạnh về tâm lý, cảm giác nhóm em nhận thấy rõ tầm quan trọng của nó trong việc đàm phán Nắm rõ tâm lý hành động của đối thủ như giúp ta thêm tự tin chủ động và làm chủ

Trang 9

trong cuộc đàm phán Tâm lý như đòn bẩy chí mạng, công cụ hỗ trợ đắc lực để ta nắm bắt được phần thắng.

Phần II – Văn hóa trong đàm phán

Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình laođộng, được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách của từng tộc người

Dựa vào "Cẩm nang xuất khẩu hàng gia dụng, vải vào Nhật Bản, chúng ta có thể thấy vănhóa ảnh hưởng khá nhiều đến các lĩnh vực trong ngành kinh tế cũng như đàm phán.Ví dụ:người Nhật có nền văn hóa rất nghiêm khắc, luôn tôn trọng sự trung thực nên đặc biệt quantâm về chuẩn chất lượng; khi muốn xuất khẩu hàng hóa vào Nhật Bản thì phải tuân thủnghiêm ngặt nguyên tắc của họ, và họ đề ra chỉ tiêu chất lượng trong từng hạng mục nhỏnhất Quy trình cũng đi theo từng khâu trong sơ đồ , được quản lý chặt chẽ ( biểu đồ đối với

an toàn thiết bị điện Tr.30) Người Nhật rất tỉ mỉ và cầu kỳ nên từng phần kể cả là tem máchay hướng dẫn bảo quản đều phải làm chuẩn từng chi tiết ( có bảng kích thước cụ thể theotừng loại tem mác ) Họ đặc biệt tôn trọng sức khỏe nên luôn yêu cầu các loại hàng khônggây hại cho sức khỏe cũng như tạo ra chất thải gây hại cho môi trường Người Nhật cũng tôntrọng thời gian nên sử dụng hàng loạt ký hiệu thay vì diễn giải tránh mất thời gian

Ngoài ra, Văn hóa ảnh hưởng tới cách người ta xử lý thông tin, đặc biệt trong kinh doanh nóảnh hưởng tới cách đối tác của bạn đánh giá khả năng cạnh tranh, uy tín, thương hiệu cũngnhư nhận xét về những giá trị đạo đức kinh doanh của công ty bạn

1 Sự ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa đến đàm phán

a Ngôn Ngữ

Mỗi quốc gia dân tộc có những sắc thái ngôn ngữ khác nhau Dân tộc nào cũng có nhữngcấm kỵ về ngôn ngữ Vì vậy trước khi tiến hành đàm phán, bạn cần phải tìm hiểu những điềukiêng kỵ của họ để tránh vi phạm Nếu không cẩn trọng khi sử dụng ngôn ngữ bạn sẽ có thểgây ra những hiểu lầm đáng tiếc làm ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ và ảnh hưởng xấuđến kết quả của cuộc đàm phán

Ví dụ: Khi đàm phán với người Nhật, bạn hãy tránh nói “không” hoặc tránh đặt câu hỏi màcâu trả lời có thể là “không” Thay vì nói “không” một cách thẳng thừng thì người Nhật sẽ bỏlửng, hàm ý “chuyện đó khó nói lắm” Do người Nhật rất coi trọng vấn đề lịch sự, tế nhị

Trang 10

trong giao tiếp cho nên họ đã thiết lập cả một hệ thống quy ước để không để mọi câu chuyệnrơi vào thế khó xử Nếu bạn đưa ra những câu hỏi dồn ép đối tác hoặc trả lời không một cáchthẳng thừng, bạn sẽ có thể bị đánh giá là người thô lỗ, khiếm nhã Người Nhật sẽ khôngmuốn hợp tác với các đối tác như vậy

=> Ngôn Ngữ là phương tiê ̣n để truyền đạt thông tin và ý tưởng và cũng là mô ̣t trong nhữngyếu tố thúc đẩy hoă ̣c cản trở cuô ̣c đàm phán thành công hay thất bại Đă ̣c biê ̣t, nhờ biết ngônngữ của đối tác, người đàm phán có thể hiểu và thích nghi với văn hóa của họ Ngược lại,nếu không biết ngôn ngữ chung với đối tác, hoă ̣c biết nhưng không thạo thì người đàm phán

có thể gă ̣p nhiều khó khăn, trở ngại, rủi ro trong các cuô ̣c đàm phán

b Tôn giáo

Thần đạo là tôn giáo bản xứ của người Nhật Bản và cũng xưa như nước Nhật Đó là tôn giáo

chính của Nhật Bản bên cạnh Phật giáo.Tư tưởng của Thần đạo khác với những tôn giáo khác

ở chỗ không cấm hay buộc con người làm gì, mà chỉ khuyên nên hướng tới sự trong sáng vàtránh điều ác Giết chóc đối với Thần đạo là điều ác và không nên giết sinh vật trừ khi vì sựsống còn của bạn, nên trước khi ăn thường phải nói câu Itadakimasu

=> Tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến đời sống, niềm tin, giá trị và thái đô ̣, cách ứng xử của conngười và dĩ nhiên có ảnh hưởng quyết định đến hành vi ứng xử của các nhà đàm phán trongkinh doanh

c Giá trị và thái đô ̣

Nhâ ̣t Bản được biết đến là mô ̣t nước nền văn hóa chuẩn mực và mang tính nghi lễ cao Điềunày được thể hiê ̣n qua thái đô ̣ của mỗi người trong cách làm viê ̣c và ững xử hàng ngày Ví

dụ, Trong cẩm nang xuất khẩu sang Nhật Bản luật pháp Nhật Bản không yêu cầu nhãn mácđặc biệt nào Tuy nhiên đạo luật trống cách bán hàng có thưởng không chính đáng và cáchtrình bày gây hiểu lầm việc sử dụng nhãn mác của nơi xuất xứ gây lúng túng hoặc hiểu lầmđối với người tiêu dùng và do đó gây cản trở với cạnh tranh công bằng

=> Giá trị là những niềm tin và những chuẩn mực làm căn cứ để các thành viên của mô ̣t nềnvăn hóa xác định, phân biê ̣t đúng và sai, tốt và không tốt, đẹp và xấu, quan trọng và khôngquan trọng, đáng mong muốn và không đáng mong muốn Thái đô ̣ là sự suy nghĩ, đánh giá,

sự cảm nhâ ̣n, nhìn nhâ ̣n, cảm xúc và sự phản ứng mô ̣t sự vâ ̣t dựa trên các giá trị

d Phong tục,tâ ̣p quán và cách ứng xư

Ngày đăng: 31/01/2023, 20:08

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w