1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH ĐẾN CHỈ SỐ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH DỆT MAY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

40 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của đòn bẩy tài chính đến chỉ số lợi nhuận của doanh nghiệp ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả Vương Đình Dũng
Người hướng dẫn PGS.TS.Nguyễn Việt Hùng
Trường học Trường đại học kinh tế quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 699,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (8)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (8)
      • 1.1.1 Đòn bẩy tài chính (8)
      • 1.1.2 Lợi nhuận (9)
      • 1.1.3 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (0)
    • 1.2. Tổng quan nghiên cứu (11)
      • 1.2.1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài (11)
      • 1.2.2. Tổng quan nghiên cứu trong nước (12)
  • CHƯƠNG 2 T ỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM (15)
    • 2.1. T ổng quan ngành dệt may (15)
    • 2.2. Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay (17)
  • CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH T ÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH ĐẾN CHỈ SỐ LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM (21)
    • 3.1 Chỉ định mô hình và giả thuyết nghiên cứu (21)
      • 3.1.1 Mô hình nghiên cứu (21)
      • 3.1.2 Giả thuyết nghiên cứu (21)
    • 3.2. Dữ liệu nghiên cứu (22)
    • 3.3. Kết quả nghiên cứu (0)
  • CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP (28)
    • 4.1 Định hướng phát triển ngành dệt may trong thời gian tới (0)
    • 4.2 Đề xuất giải pháp phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam (28)

Nội dung

Untitled 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN  CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH ĐẾN CHỈ SỐ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH DỆT MAY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG[.]

Trang 1

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Trang 2

2

GIỚI THIỆU 7

Tính cấp thiết của đề tài 7

M u ̣c tiêu nghiên cứu……… 8

Câu hỏi nghiên cứu 8

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

Đối tượng nghiên cứu 8

Phạm vi nghiên cứu 8

Phương pháp nghiên cứu 9

Cấu trúc đề tài nghiên cứu 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 10

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.1.1 Đòn bẩy tài chính 11

1.1.2 Lợi nhuận……….12

1.1.3 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản……… 13

1.2 Tổng quan nghiên cứu 16

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài 16

1.2.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM 19

2.1 Tổng quan ngành dệt may 19

2.2 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay .20

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH ĐẾN CHỈ SỐ LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM .23

3.1 Chỉ định mô hình và giả thuyết nghiên cứu 23

3.1.1 Mô hình nghiên cứu………23

3.1.2 Giả thuyết nghiên cứu……….23

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 24

3.3 Kết quả nghiên cứu 25

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 30

4.1 Định hướng phát triển ngành dệt may trong thời gian tới 30

4.2 Đề xuất giải pháp phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam……… 30

Trang 3

3

4.3 Hạn chế nghiên cứu……… … 31

Kết luận……… ……34

Tài liệu tham khảo……… 35

Phụ lục……….37

Trang 4

4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

HOSE Ho Chi Minh Stock Exchange UpCOM Unlisted Public Company Market

TTCK Thị trường chứng khoán TSCDHH Tài sản cố định hữu hình

Trang 5

7

GIỚI THIỆU

 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành công nghiệp dệt may đang giữ vị trí then chốt đối với nền kinh tế khi

có sự phát triển nhanh chóng về quy mô Năm 2018, tổng giá trị thị trường dệt may

sẽ là 1,462.2 tỷ USD, tương đương 1.7% GDP thế giới Theo dự báo thị trường trong năm 2018 của CTCP chứng khoán VIS, quy mô ngành hàng dệt may thế giới

sẽ duy trì tăng trưởng ổn định ở khoảng 4.6 % mỗi năm từ 2016 đến 2021 và có doanh số ước tính 1,659.5 tỷ USD năm 2021 Quy mô ngành dệt may thế giới đang phát triển mạnh do thị trường tiêu dùng sản phẩm này ở Trung Quốc và Ấn Độ gia tăng nhanh chóng Chính sự phát triển này sẽ cung cấp thêm công ăn việc làm cho người tiêu dùng, tạo thu lợi nhuận, đồng thời XK cũng mang về lượng ngoại tệ khổng lồ cho đất nước giúp tăng cao đời sống và bình ổn kinh tế xã hội Công nghiệp dệt may giữ vị trí chủ chốt trong sự phát triển của các quốc gia và luôn phải gắn bó với thời kỳ của tăng trưởng đầu tiên của nền kinh tế thị trường

Đối với tất cả các công ty, đặc biệt là lĩnh vực may mặc của Việt Nam, việc

mở rộng này đã đặt thêm rất nhiều thách thức và khó khăn mới Ngành dệt may của Việt Nam là ngành sử dụng lao động lớn nhất của đất nước, nó đã giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng tổng lượng hàng xuất khẩu mà quốc gia này nhận được Các ngành

mới nhờ việc nước này ký kết các hiệp định thương mại với rất nhiều quốc gia lớn mạnh trên thế giới với mục tiêu là tạo ra cơ hội có lợi cho hoạt động xuất khẩu những mặt hàng dệt may của Việt Nam trên phạm vi thế giới Những lợi thế mà ngành may mặc của Việt Nam cần có thì ngành cũng đang đương đầu với nhiều thách thức trước sức cạnh trạnh gay gắt của nhiều đối thủ cực lớn về vốn, công nghệ, con người và chuỗi cung ứng cũng như tính chuyên nghiệp hóa trong quá trình sản xuất từ các nước khác

Trong khi hệ số sinh lời của lĩnh vực này đang ở mức thấp và đang có xu hướng giảm do Chính sách " Zero COVID-19 " tại Trung Quốc do nguồn cung xơ sợi cho thị trường gặp khó khăn, nên công ty cũng không thể tăng sản lượng theo kì vọng, kèm theo đó chi phí vận tải cũng đã cao hơn 30% so với trước và áp lực tỷ giá bởi lạm phát thì vấn đề đánh giá đòn bẩy tài chính cùng ảnh hưởng của công cụ đó đến tỷ suất lợi nhuận là đặc biệt quan trọng Việc thiếu sử dụng đầy đủ các đòn bẩy tài chính có thể là nguyên nhân của điều này Đòn bẩy tài chính là một chiến lược để

Trang 6

8

thu được tiền mặt thông qua các khoản vay từ các nguồn khác ngoài công ty Nhờ những lợi ích "đặc biệt" của việc vay vốn, đây là lựa chọn phổ biến của hầu hết các doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề Mục tiêu chung của nhiều doanh nghiệp là gia tăng lợi nhuận Nghiên cứu cũng sẽ giúp cho quản lí tài chính doanh nghiệp biết

rõ cơ cấu vốn tác động thế nào lên thu nhập của công ty và làm gia tăng hiệu suất sử dụng vốn để có thêm lợi nhuận nhằm thực hiện những mục đích với nhiều chiến

chính để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra, khi lãi suất đang

có xu hướng tăng cao sẽ tác động tiêu cực đến chi phí tài chính của các doanh nghiệp dệt may khiến cho tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ rủi ro cao Nhiều dự

án nghiên cứu dựa trên lý thuyết và thực tiễn về mối quan hệ giữa lợi nhuận và lợi nhuận đã được thực hiện ở Việt Nam và khắp toàn cầu nhằm thấy được vai trò to lớn của việc dùng công cụ kinh tế để gia tăng thu nhập thông qua dùng đòn bẩy tài chính

Nhận thấy từ vấn đề này và nhận thức được sự cần thiết của vấn đề, nên đề tài

nghiệp dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” đã được lựa

chọn để nghiên cứu nhằm tìm hiểu, đánh giá và xác định những thách thức mà các doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may phải đối mặt khi sử dụng đòn bẩy tài chính để thúc đẩy lợi nhuận

 Mu ̣c tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu với mục tiêu là để xác định mức tác động của đòn bẩy tài chính tới tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của các doanh nghiệp dệt may đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

 Câu hỏi nghiên cứu

Đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng lên tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của doanh nghiệp dệt may không?

Các công ty dệt may cần làm thế nào sử dụng hiệu quả công cụ đòn bẩy tài chính trong việc gia tăng lợi nhuận?

 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu:

- Về mặt nội dung: Bài nghiên cứu giới hạn đánh giá đòn bẩy tài chính tác động đến chỉ số ROA Thông qua chỉ số ROA, các nhà đầu tư và nghiên cứu sẽ đánh

Trang 7

- Về không gian: Nghiên cứu 12 công ty đang giao dịch trên ba sàn chứng khoán HOSE, HNX, và UPCOM tại TTCK Việt Nam

 Phương pháp nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này, đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, bằng cách sử dụng các mô hình cấu trúc vốn, xây dựng các giả thuyết và kiểm định giả thuyết bằng phương pháp hồi quy, kiểm định các vi phạm giả thuyết hồi quy như

là Wald Test, Hausman Test, kiểm định sự tương quan và kiểm định đa cộng tuyến, thông qua đó kiểm tra đòn bẩy tài chính có tác động đến chỉ số tài chính hay không Bên cạnh đó cũng sử dụng thêm một vài phương pháp khác như là phương pháp thống

kế mô tả, tổng hợp… để đánh giá cho đề tài nghiên cứu

 Cấu trúc đề tài nghiên cứu

Bài nghiên cứu có 4 chương:

 Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

 Chương 2: Tổng quan hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

 Chương 3: Phân tích tác động của đòn bẩy tài chính đến chỉ số lợi nhuận của các doanh nghiệp dệt may niêm yết trên TTCK Việt Nam

 Chương 4: Kết luận và đề xuất giải pháp

Trang 8

Đòn bẩy tài chính, còn được gọi là đòn bẩy nợ, là một công cụ tài chính trong

đó một công ty sử dụng vốn nhằm thanh toán tất cả những khoản nợ hoặc những chi tiêu hàng ngày của mình Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (D / E) là một số liệu phổ biến để xác định mức độ hiệu quả của đòn bẩy tài chính Khi vốn tự có của một công ty không đủ, họ sử dụng đòn bẩy tài chính để tạo ra một nơi trú ẩn về thuế và đáp ứng các yêu cầu về vốn của nó

toán cụ thể của công ty khi sử dụng đòn bẩy để mua lại một doanh nghiệp mới hay mua chứng khoán hoặc cổ tức trên sàn là nhằm phát triển công ty, doanh nghiệp của thời đại có sức mạnh kinh tế luôn luôn áp đảo Khi sử dụng đòn bẩy tài chính thành công thì có thể tạo ra rất nhiều lợi nhuận hơn so với khi doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy tài chính

của doanh nghiệp có thể tăng lên nếu mức nợ của doanh nghiệp đó cao hơn bình thường và khiến doanh nghiệp phải chịu đòn bẩy quá mức

Tỷ lệ nợ trên vốn tổng nguồn vốn (tỷ lệ D/C) của một công ty có thể được sử dụng để đo lường đòn bẩy tài chính của nó Để cung cấp cho các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà đầu tư hiểu biết thấu đáo về cấu trúc vốn của công ty, chỉ số này

đã được nâng cao từ chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E) Nó cho thấy tỷ trọng tổng vốn của công ty được đầu tư vào nợ so với nợ cho hoạt động Tỷ lệ này được tính bằng công thức :

Trang 9

11

𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ + 𝑉𝐶𝑆𝐻

=

𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛

Khi các tỷ số bằng nhau, bằng cách so sánh, công ty nào có tỷ số nợ trên tổng nguồn vốn càng cao thì chắc chắn sẽ càng nhiều rủi ro đi cùng Bởi vì nó phản ánh mối quan hệ của vay nợ nần và vốn thêm nên chỉ số trên sẽ là công cụ rất hữu ích cho những nhà đầu tư nhận định về một tổ chức đang có lợi nhuận giảm sút Vì nợ

và lãi suất phải trả đối với bên đi vay cao thì hoạt động vay vốn sẽ có nhiều nguy cơ

Do đó, những công ty có tỉ lệ nợ trên vốn cao sẽ được cho là an toàn hơn bởi vì họ phải giữ đúng mức doanh thu và tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ của mình Công ty sẽ có rủi ro trong cán cân tài chính do doanh thu bán hàng sụt giảm

Đây là một chỉ số quan trọng thể hiện kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp chỉ duy trì và tăng trưởng một khi nó sinh được lời, nếu họ làm ăn không có lãi hoặc thu không đủ bù chi đã bỏ ra là doanh nghiệp sẽ tự mình đi đến vỡ nợ, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế cạnh tranh xảy ra càng khốc liệt và khó lường lợi nhuận là nhân tố rất quan trọng và quyết định đối với việc sống còn của công ty

Lợi nhuận là khoản chênh giữa doanh thu của một tổ chức và chi phí phát

của công ty và sản phẩm tài chính cuối của quá trình hoạt động thương mại, đầu tư và nhiều dịch vụ khác

Để xem xét và đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi công ty, người ta dựa trên số lợi nhuận tối đa và tiền lãi trung bình các đơn vị thu về hàng tháng

Tuy nhiên, khi so với kết quả hoạt động chung của mỗi công ty thì chỉ tiêu lợi nhuận rất hiếm đươc dùng mà người quản lý vốn lại chú ý hơn vào chỉ tiêu ở mức thu nhập cơ bản (gọi là tỉ suất lợi nhuận)

Tỷ suất lợi nhuận phản ánh kết quả của những chính sách và quyết định của công ty Tỷ suất lợi nhuận là chỉ số cuối cùng cho câu hỏi các công ty làm ăn có hiệu quả không và là căn cứ chính giúp đo lường kết quả hoạt động sản xuất kinh

Trang 10

12

doanh của họ vào một thời điểm cụ thể Nó là kết quả sau cùng của kết quả hoạt động và là một căn cứ then chốt giúp những người quản trị có thể ra quyết định tài chính cho doanh nghiệp

ROA là hệ số sinh lợi trên tài sản Đây là hệ số đo mức độ lợi nhuận của một

cổ phiếu tương ứng với giá trị thị trường của nó Vì vậy, hệ số trên sẽ giúp xác định một doanh nghiệp dùng cổ phiếu có thể sinh lãi cao thế nào

ROA được tính theo công thức sau đây :

Tổng tài sản

 Đối với chủ doanh nghiệp

Dựa vào ROA, các nhà quản lý của doanh nghiệp sẽ biết được cần đầu tư bao nhiêu tiền và tạo ra bao nhiêu lợi nhuận ròng Công ty càng sử dụng hiệu quả các nguồn lực của mình, thì ROA của nó càng lớn

Ngoài ra, nhiều tổ chức dùng ROA làm một công cụ giúp họ đưa ra quyết định Khi so sánh mức lợi nhuận trong các quãng thời gian hay với những công ty có

mô hình tương đương hoặc đồng ngành nghề Các nhà quản lý cần điều chỉnh chiến lược hoạt động nếu ROA càng thấp Khi mà ROA càng cao thì công ty sẽ vẫn áp dụng mô hình hoạt động cũ Theo chuẩn trung bình của thế giới thì một công ty đuợc coi là có tiềm lực kinh tế nếu mức ROA cao trên 7.5%

 Đối với các nhà đầu

ROA càng cao khi so sánh các doanh nghiệp cùng ngành thì khả năng sinh lời càng tốt Nhưng nó cũng có nghĩa là giá cổ phiếu sẽ tăng Ngoài ra, bạn nên đánh giá ROA của doanh nghiệp so với các giai đoạn trước đó để xác định xem doanh nghiệp

có đang tăng trưởng hoặc có đang phát triển mạnh hơn được không

 Đối với ngân hàng

Bức tranh tổng thể phản ánh tình hình hoạt động của công ty mà chỉ số ROA

đã đưa ra Chỉ số này sẽ được ngân hàng sử dụng để đánh giá tình trạng tài chính của doanh nghiệp và xác định xem có nên cho vay tiền hay không

Trang 11

13

Chỉ số này với những công ty cổ phần cũng có nhiều thay đổi vì nó dựa theo từng ngành nghề hoạt động Vì vậy, nhiều chuyên gia khuyên cần dùng ROA khi đánh giá từng doanh nghiệp Cách tốt nhất là quan sát để đánh giá mức độ này của các doanh nghiệp theo mỗi năm Mặt khác, nên lựa chọn so sánh hệ số này của các

cổ phiếu tương đương với nhau theo khu vực và ngành kinh tế Trên thị trường cổ phiếu thì chỉ số này sẽ có giá trị Cổ phiếu của công ty càng có hệ số này cao sẽ trở nên hấp dẫn nhà đầu tư và được ưa thích hơn

Các nhà đầu tư cũng đặc biệt chú ý vào xu thế tăng/giảm của ROA ROA tiếp tục tăng trưởng, phản ánh tính bền vững của tình trạng tài chính của công ty Công

ty sẽ không hiệu quả nếu thị trường thay đổi lớn theo cả hai hướng Các nhà đầu tư cũng hay quan sát biến động ROA của doanh nghiệp trong ba năm liên tục Doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh là công ty đạt ROA> = 10%/năm trong 3 năm liên tục Các chuyên gia và nhà đầu tư cũng đánh giá cao những công ty như vậy

Một nghiên cứu phân tích đánh giá sự liên quan về cơ cấu vốn và tiềm năng kiếm lợi nhuận của những doanh nghiệp đại chúng ở Ghana trong năm 2005 đến năm 2009 được trình bày bởi Albert Amponsah Addae và các cộng sự thuộc Ngân hàng và Tài chính tại MUCG, Ghana Phân tích này do tác giả dùng khi tập hợp số liệu từ 34 công ty đại chúng trên Sở giao dịch chứng khoán GSE, gồm những người thuộc mảng năng lượng, khai khoáng, hoá chất, chế biến thực phẩm, tài chính & ngân hàng, bán lẻ, phân phối, công nghệ thông tin & truyền thông, bảo hiểm, kinh doanh & ngành công nghiệp xuất bản, và in ấn và phát hành Theo dữ liệu thống kê, khả năng sinh lời có sự liên hệ tích cực với nợ ngắn hạn và mối quan hệ tiêu cực với

nợ dài hạn, có thể so sánh với nghiên cứu của Joshua Abor (2005) về cùng chủ đề Tuy nhiên, trong sự tương quan tiêu cực về việc kiếm lãi và trả gốc thì các kết quả lại đối lập với nhau Ngoài ra, cũng chỉ rõ là nhiều tập đoàn lớn của Ghana quá phụ thuộc trên những món nợ ngắn hạn

Odongo Kodongo và các cộng sự vào tháng 7 năm 2014 đã thực hiện nghiên cứu về "Cấu trúc vốn, khả năng sinh lời và giá trị doanh nghiệp của các công ty niêm yết ở Kenya" và kết quả cho thấy các phát hiện cho thấy mặc dù đòn bẩy không

Trang 12

14

ảnh hưởng đến định giá của công ty, nó có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến lợi nhuận của nó Ngoài ra, quy mô của công ty và tăng trưởng tài sản hữu hình Khi đánh giá khả năng sinh lời của một công ty, doanh nghiệp là một thành phần quan trọng cần tính đến Tài sản hữu hình, tăng trưởng doanh thu và quy mô công ty đều ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số sinh lời

Nghiên cứu của Alghusin (2015) chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời ROA của các doanh nghiệp công nghiệp, trong khi đó qui

mô và tỷ số doanh thu trên tổng tài sản có tác động tích cực đến ROA Nghiên cứu của Odusanya và cộng sự (2018) cũng xem xét các yếu tố quyết định khả năng sinh lời của doanh nghiệp đối với 114 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch chứng

ngắn hạn và tỷ lệ lạm phát tác động tiêu cực đáng kể đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Bài nghiên cứu về tác động của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả hoạt động các công ty niêm yết ngành Xây dựng tại Việt Nam của tác giả Lê Thái Phong trên tạp chí Kinh tế Đối ngoại đã sử dụng các phương pháp hồi quy đa bội (Robust standard errors, Kiểm tra giả định Thử nghiệm Breusch-Pagan / Cook-Wei và White test nhằm phát hiện thấy mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và các chỉ số ROA, ROE, EPS và khả năng thanh toán nhanh của 45 doanh nghiệp trong thời gian 2007 -

2011 Kết luận chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính có tác động tích cực đến chỉ số ROE và EPS của doanh nghiệp trong khi lại ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số ROA và khả năng thanh toán nhanh

Tạp chí Khoa học Quản lý & Kinh tế đã phát hành một nghiên cứu của ba tác giả vào tháng 9/2017 với tiêu đề “Phân tích tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp cổ phần trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” Với mẫu 130 doanh nghiệp cổ phần trên địa bàn tỉnh từ năm 2010 đến năm 2014, Trần Thị Bích Ngọc và các cộng sự đã sử dụng mô hình hồi quy Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản là biến đại diện cho cơ cấu vốn và biến phụ thuộc là 3 chỉ tiêu ROA, ROE và EPS Tác giả cũng bao gồm thêm ba biến kiểm soát: quy mô, triển vọng tăng trưởng

và cấu trúc tài sản

Trang 13

15

Các phát hiện chỉ ra rằng cấu trúc vốn ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của công ty như được chỉ ra bởi ROE, ROA và EPS Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chứng minh rằng quy mô doanh nghiệp có tác động thuận lợi đến ROA và EPS Ngoài ra,

Những nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên tính sinh lời của doanh nghiệp, chủ yếu là chỉ số lợi nhuận của ngành này và đặc biệt là sự tương quan với cấu trúc vốn đầu tư và tiềm năng sinh lời của DN đang bị thiếu hụt tại Việt Nam Đặc biệt là trong quan hệ với cơ cấu vốn điều lệ của DN và những chỉ tiêu khác như doanh thu của công ty niêm yết

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Trang 14

16

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong phần 1 đã nêu các khái niệm cơ bản đối với đòn bẩy tài chính, thu nhập và

hệ số khả năng sinh lời Đồng thời, trình bày tổng quan về các nghiên cứu trong nước cũng như các nghiên cứu nước ngoài nhằm tìm hiểu kết quả của những nghiên cứu đi trước, những hạn chế trong bài nghiên cứu của họ và làm rõ tính mới của bài nghiên cứu này

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Trang 15

17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM

Ngành Dệt may Việt Nam đã ghi nhận một dấu mốc vàng cho sự phát triển vượt bậc của năm 2018 vừa rồi, với con số 244.72 tỷ USD giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, trong đó lĩnh vực Dệt may đóng góp 14.8% tương đương khoảng 36,2 tỷ Bên cạnh các sản phẩm xuất khẩu thì ngành Dệt may cũng đang lọt trong nhóm những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn và là khoản thu ngoại tệ nhiều nhất cho đất nước Quần áo trẻ em, chân váy, tất và quần sooc là những sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao trên 700 triệu USD Các sản phẩm bao gồm áo jacket, áo phông và quần jean có giá trị xuất khẩu trên1 tỷ USD

Hình 1: Top 5 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới 2018

Hiệp định CPTPP đã chính thức ký kết với 11 quốc gia thành viên và có hiệu lực từ năm 2019, theo dó da giày cùng may mặc là hai ngành công nghiệp Việt Nam

sẽ được hưởng nhiều nhất Điều đó cũng tương ứng với việc mở rộng về khả năng xuất khẩu của nhiều nước thành viên khác nhu New Zealand, Canada hay Úc , nơi trước đây Việt Nam không có bất cứ hiệp định mậu dịch song phương nào giữa những thị trường đó Ký kết CPTPP cũng sẽ là cơ hội xuất khẩu của nhiều quốc gia sang Việt Nam tại những lĩnh vực mà thị trường này vẫn đang thiếu hụt như dệt nhuộm, sợi tổng hợp và nguyên liệu

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Trang 16

18

Hình 2: Tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa toàn nền kinh tế Việt Nam năm 2018 Đến năm 2021, giá trị xuất khẩu toàn ngành dệt may đạt 40,3 tỷ USD, tăng

đầu tư nước ngoài đạt 24,3 tỷ USD, tăng 17,8% so với năm trước, chiếm 60,3% tổng

Sản xuất của ngành may mặc Việt Nam có sự bứt phá vào các tháng cuối năm Năm 2021, sản xuất của hàng dệt tăng 8,3% so với năm 2020 và sản xuất trong ngành này đạt 7,6% Năm 2021, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của hàng may mặc

là 40,3 tỷ USD, tăng trưởng 15,2% so với năm 2020 Xuất khẩu sản phẩm may mặc của khối DN FDI là 24,3 tỷ USD, tăng trưởng 17,8% so với cùng kì năm trước Nó chiếm 60,3% kim ngạch xuất nhập khẩu chung của cả nước Hàng dệt may tăng 9,9% đạt 32,8 tỷ USD, trong khi ngành may mặc tăng 50,2% thành 5,6 tỷ USD

Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam giảm nhẹ so với giai đoạn trước dịch

khẩu chậm lại, đặc biệt là các tỉnh phía Nam đã phục hồi, bứt phá, phục hồi nhẹ Các thị trường chính của Việt Nam là Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hàn Quốc đều đang có tốc độ tăng trưởng mạnh, nhưng xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản vẫn giảm

Về nhóm hàng may mặc: Năm 2021, giá trị xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam đạt 32,8 tỷ USD, tăng 9,9% so với năm 2020 và xuất khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 20,1 tỷ USD, tăng 12,7% so với năm 2020 và chiếm tỷ trọng 61,5 % Tổng giá trị xuất khẩu của nhóm hàng này đã tăng từ 60% vào năm 2020 Trong giai đoạn này, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang phía Nam, Hoa Kỳ, EU, ASEAN và Nga tăng, trong khi xuất khẩu sang CPTPP và Đài

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Trang 17

19

Loan giảm Đặc biệt, xuất khẩu sang thị trường Mỹ và ASEAN đã và đang là động lực thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng này Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam được

dự báo sẽ tiếp tục phục hồi vào năm 2022 nhờ sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu,

tỷ lệ tiêm chủng sẽ tiếp tục tăng trên toàn thế giới và cuộc sống sẽ trở lại bình thường Sau một thời gian 'kìm hãm' vì dịch Covid-19, chi tiêu cho hàng may mặc 'mới' tăng

Về nhóm hàng xơ, sợi, dệt: Giá trị xuất khẩu sợi tiếp tục đà tăng trưởng tích cực trong quý IV/ 2021 Dịch bệnh đã giúp gia tăng nhu cầu thế giới đối với vải nhằm phục vụ các đơn hàng sản xuất những thiết bị bảo vệ cá nhân như khẩu trang Ngoài ra, Việt Nam cũng có thể được lợi nhờ việc chuyển dịch lượng đặt hàng dệt may sang Trung Quốc sau cuộc chiến thuế quan Hoa Kỳ - Trung Kết quả là, sản xuất vải và may mặc tăng trưởng 52,9%, với 1,5 tỷ USD Đáng lưu ý, Việt Nam đã vượt mặt Hàn Quốc để là nước xuất khẩu vải và may mặc đứng thứ sáu toàn cầu, với kim ngạch xuất khẩu ước khoảng 5.6 tỷ USD (+50,8% svck) trong năm 2021

Năm 2021, ngành sẽ có những lợi thế để XK Hàng may mặc Việt Nam đạt đươc nhiều đơn hàng hơn Thứ 1, đơn hàng chuyển sang một số thị trường bị khó về vấn đề kỹ thuật hay nội dung chính tố Thứ 2, xuất khẩu sản phẩm may mặc vào Mỹ,

EU và XK sơ sợi qua Trung Quốc thuận tiện Và cuối cùng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của thị trường quốc tế nhất là từ những nước bạn hàng truyền thống của Việt Nam như Mỹ và các nước Châu Âu tăng trưởng lại, do việc dãn thời gian thực hiện chương trình Covid - 19 Các quốc gia mở cửa lại đã làm tăng cầu với các sản phẩm may mặc

Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan, Tỷ trọng xuất khẩu ngành dệt may năm

giá trị kim ngạch đạt 15,9 tỷ USD (+ 14,3% svck) và bằng 40,7% giá trị sản phẩm vải XK của Việt Nam) Năm 2021 kim ngạch xuất qua khu vực EU và Trung Quốc

là 3,7 tỷ USD và 4,4 tỷ USD, tăng trưởng tương ứng 23,3% và 238,4% so với cùng

kì năm ngoái Trong khi đó, xuất qua khu vực Nhật Bản sụt giảm 28,5% svck và còn 2,5 tỷ USD cho năm 2021

2.2 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay

Việt Nam có sản lượng hàng dệt tự nhiên tăng 5,4% trong 9 tháng đầu năm

2019 so với cùng kỳ năm 2018 Ngược lại, sản lượng sợi thô hoặc tổng hợp và hàng dệt giảm lần lượt 2,4% và 10% Ngoài sản xuất trong nước, ngành may mặc Việt

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Trang 18

20

Xuất khẩu của toàn ngành dệt may đã tăng với tốc độ trung bình hàng năm là 5,6% từ năm 2016 đến năm 2020 Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 trên toàn cầu, các lô hàng của ngành, đặc biệt là trong năm 2020, đã giảm khoảng 10% so với năm

2019 Thị trường dệt may toàn cầu thường phục hồi trong những tháng đầu năm

2021 nhờ các chính sách kích thích kinh tế và dữ liệu đáng khích lệ về việc sử dụng vắc xin Covid-19 Đã có một số cải thiện trong nhu cầu về hàng hóa nói chung và quần áo nói riêng Trước sự chuyển hướng kinh doanh bất ngờ từ các đối thủ, đặc

tháng đầu năm 2020, năm 2021 sẽ không xảy ra vấn đề đứt gãy nguyên liệu đối với ngành dệt may Ngành dệt may Ngành may mặc của Việt Nam đang dần phục hồi, với doanh số xuất khẩu tăng hàng tháng cho đến giữa năm 2021, bên cạnh số lượng đơn đặt hàng cao và lợi ích từ các thị trường xuất khẩu

Trong những năm trở lại đây ngành dệt may của nước ta đang tăng trưởng tốt

cả sản lượng và giá trị Tốc độ tăng GDP ngành hàng may mặc trong thời kỳ

2017-2020 là 7,9%/năm, đến năm 2018 đạt trên 33% Năm 2017-2020, công nghiệp may mặc là một trong các ngành sẽ chịu nhiều ảnh hưởng bất lợi nhất của dịch Covid-19

So với cùng kỳ năm ngoái, 9 tháng đầu năm 2021, nhiều công ty dệt may có nhiều dấu hiệu khởi sắc hơn Điều này có được nhờ sự phục hồi của chuỗi sản xuất nhờ các đơn hàng truyền thống gia tăng So sánh 9 tháng năm 2021 với cùng kỳ năm

2020, chỉ số sản xuất toàn ngành dệt may tăng trưởng, trong đó ngành sản xuất trang phục tăng 4,8% và chỉ số sản xuất toàn ngành dệt may tăng 7,8% So với cùng kỳ năm 2020, chỉ số sản xuất của nhiều mặt hàng trong 9 tháng đầu năm 2021 đều tăng trưởng như sản lượng dệt từ sợi thiên nhiên dự kiến tăng 3,9% lên 501,5 triệu m2

Trong 6 tháng đầu năm 2022, tổng thu nhập của các công ty may mặc đã tăng 28,3% svck, trong khi lãi gộp 6T22 là 38,7% svck Các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao nhất của 6T22 là: HTG (224,3% svck) , VGT (+ 43,1% svck) and TNG (+ 50,0% svck) Các công ty sản xuất sợi đã có lợi nhuận tốt trong 6 T 22 Ln gộp của VGT và HTG đã đạt 43,1% svck và 224,3% svck nhờ tồn kho sợi giá thấp trong tháng 1/2 2 và nhu cầu cao với hàng bông

TNG là một trong những công ty dệt may có hoạt động sản xuất tốt vào các quý 2 năm 2022 và 6 tháng đầu năm 2022 Doanh thu và LN gộp của TNG trong 6T22 đạt 36,7% svck và 50,0% svck bởi nhu cầu cao hơn và cải tiến quy trình sản

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Trang 19

21

xuất và bán ra

Ln ròng của MSH là 187 tỷ đồng (-13,4% svck) vì giá nguyên vật liệu đầu vào và logistic cao và thiếu hụt nhân công ở nhà máy SH 10 Trong khi LN ròng của ADS trong 6T22 nhích thêm 4,4% svck nhờ hoạt động kinh doanh chính (Trung Quốc) bị đóng cửa bởi Covid-19 tại Q 2/2 2

Nhìn chung, vị thế xuất khẩu của ngành may mặc vài năm trở lại đây cho thấy tốc độ tăng xuất khẩu của ngành chuyển động theo hướng với sự phát triển xuất khẩu chung của toàn nước Ngay cả khi dịch Covid-19 còn nhiều tác động tiêu cực, xuất khẩu của toàn ngành dệt may vẫn tiếp tục tăng nhanh (tăng trưởng hình chữ V) trong 9 tháng đầu năm 2021 Kết quả này là kết quả của những nỗ lực không ngừng của ngành dệt may Việt Nam để theo kịp các xu hướng toàn cầu hiện nay Sự chủ động của các doanh nghiệp là đáng chú ý nhất trong số này

Nhiều doanh nghiệp may mặc của Việt Nam đang ngày càng gia tăng năng lực cạnh tranh và nâng cao trình độ kỹ thuật tay nghề Từ hình thức may mặc chỉ có gia công chuyển qua hình thức nhà sản xuất tự cung cấp nguyên liệu và thiết kế, chế tạo hàng hoá Đặc biệt, việc nhiều DN không ngại đầu tư thiết bị, công nghệ hiện đại cũng là một trong các nhân tố quan trọng tạo nền tảng để doanh nghiệp may mặc kháng chịu với những sức ép lớn hơn về giá và sản lượng, về yêu cầu đòi hỏi thời gian giao nhận hàng hoá nhanh chóng,

Với những đột phá đầy triển vọng trên, doanh nghiệp Việt Nam đã tranh thủ tốt nguồn nhân lực trẻ có trình độ cao cùng lợi thế địa lý thuận tiện trong kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài Trong đó, ngành may mặc Việt Nam trong dài hạn sẽ đối mặt với thử thách khi ưu thế của lực lượng lao động dư thừa và chi phí nhân công thấp sẽ ngày càng giảm đi đôi Dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng này, doanh nghiệp may mặc Việt Nam phải cải tiến kỹ thuật, có kế hoạch tuyển dụng và chuyển giao nhân lực trình độ cao phù hợp

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Ngày đăng: 30/01/2023, 16:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w