1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết cấu truyện ngắn Cứu đất cứu mường Tô Hoài

10 593 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết cấu truyện ngắn Cứu đất cứu mường Tô Hoài
Trường học Trường Đại Học Sài Gòn
Chuyên ngành Lý Thuyết Văn Học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 314,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

i ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN ————————— TIỂU LUẬN THI PHÁP HỌC – LÝ THUYẾT VÀ ỨNG DỤNG ĐỀ TÀI KẾT CẤU TRUYỆN CỨU ĐẤT CỨU MƯỜNG CỦA TÔ HOÀI Người thực hiện Phan Băng Tuyết Trâ.

Trang 1

i

ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

—————————

TIỂU LUẬN THI PHÁP HỌC – LÝ THUYẾT VÀ ỨNG DỤNG

ĐỀ TÀI: KẾT CẤU TRUYỆN CỨU ĐẤT CỨU MƯỜNG

CỦA TÔ HOÀI

Người thực hiện: Phan Băng Tuyết Trâm

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 3 NĂM 2022

Trang 2

1

1 MỞ ĐẦU

Tô Hoài là một gương mặt tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại Hơn nửa thế kỷ sáng tác, Tô Hoài đã để lại cho nền văn học nước ta nhiều tác phẩm lớn nhỏ khác nhau Cách mạng tháng Tám đã đánh dấu một bước chuyển

rõ rệt trong tư tưởng và sáng tác của Tô Hoài Trong giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám ông viết nhiều về đề tài miền núi và gặt hái nhiều thành công, tiêu

biểu là tập Truyện Tây Bắc (1953) Tập truyện gồm ba truyện ngắn: Cứu đất cứu

mường, Vợ chồng A Phủ, Mường Giơn Truyện ngắn Cứu đất cứu mường viết về

nỗi đau thương của người dân bị áp ức trong xã hội thực dân nửa phong kiến nhưng họ vẫn luôn hướng tới ánh sáng của niềm tin và hi vọng Phân tích truyện

từ góc độ kết cấu truyện, ta sẽ hiểu hơn về tài năng sáng tạo của Tô Hoài và nội dung tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm

2 NỘI DUNG

2.1 Kết cấu cốt truyện

Không mở đầu trực tiếp đi thẳng vào vấn đề kể về nhân vật, Tô Hoài đã lựa chọn cách miêu tả hình ảnh con chim kỳ Mở đầu tác phẩm tác giả đã đưa ra

hình ảnh con chim kỳ xanh biếc với tiếng hót rộn ràng “ít ai trông thấy con chim

kỳ, chỉ nghe tiếng nó thánh thót cao thấp như tiếng kèn gọi phường săn Nghe tiếng người ta bảo điềm lành”, tiếng hót của chim kỳ là tiếng hót báo điềm lành

Xuyên suốt câu chuyện hình ảnh con chim kỳ xuất hiện đi xuất hiện lại khoảng năm lần Mỗi lần xuất hiện là mỗi lần dự báo, là dấu hiệu cho sự thay đổi, niềm tin, sự may mắn của cuộc đời nhân vật Lần đầu tiên là mở đầu tác phẩm, là lần báo niềm vui, là dấu hiệu của hi vọng, của may mắn trong kháng chiến Lần thứ

hai là “trong sương mù lại nghe tiếng vượn vừa chạy vừa hú và tiếng chim kỳ

Trang 3

2

kêu, càng xa thăm thẳm”, lần thứ ba là lúc Nhấn đón bà Ảng lên ở với mình, bà

Ảng đồng ý ở lũng trông nương, tiếng chim kỳ xuất hiện thánh thoát “Những

đêm mưa tầm tã trên núi, tưởng không bao giờ dứt, cũng đã qua Đám mấy lốm đốm xám như đuôi con sóc bay quẩn sát ngọn cây, lê thê đi mãi, bây giờ cứ loáng thoáng nhạt dần, thỉnh toảng đứt quãng, đã thấy lồ lộ đằng xa một bức vách đá trắng toát Tiếng chim kỳ lại thánh thoát gọi mưa tạnh, trong khoảng trời dịu xanh quang, tạnh ráo.” Tiếng chim xuất hiện là báo hiệu sự đổi mới,

thay đổi cuộc sống của bà Ảng Từ bị xem là bà lão Ảng ăn mày giờ đây bà lại

có thể giúp đỡ mọi người, giúp giữ nương, góp phần của mình trong kháng chiến Lần thứ ba, tiếng chim xuất hiện khi tất cả xóm Mường, xóm Dao trong khu du kích di chuyển đi tìm nương mới, là khi Nhấn cõng ông Sênh đi trong mồng trăng vằng vặc sáng Tiếng chim kêu xuất hiện trong đêm trong không gian quanh năm trời bủa sương mịt mùng nhưng vẫn đầm ấm, giục giã, đồi hồi Không gian đó cũng chính là không gian tăm tối, khó khăn, bị thực dân áp bức

mà tiếng kêu thánh thót của chim kỳ là tiếng nói của niềm tin hi vọng hướng tới ánh sáng của con người Hình ảnh tiếng của con chim kỳ xanh biếc là hình ảnh

mở đầu tác phẩm cũng là hình ảnh kết thúc nó là dấu hiệu cho tương lai tốt đẹp Đây cũng là đặc điểm sáng tác của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám, dù trong hoàn cảnh nào đều luôn hướng tới những điều tốt đẹp, tương lai đổi mới Cuối tác phẩm hình ảnh tiếng chim kỳ không còn là tiếng chim kêu đêm, tiếng kêu gọi

mưa tạnh mà tiếng kêu ấy lúc này là “như kèn giục phường săn”, là tiếng kêu của “hồn mẹ và hồn em đi đến đâu cũng vẫn đuổi theo thăm hỏi Nhấn” trên đầu

rừng Tiếng kêu ấy là tiếng kêu giục giã, tiếng kêu niềm tin khao khát đổi đời Hình ảnh tiếng con chim kỳ xuất hiện nhiều lần xuyên suốt đã làm liên kết các sự kiện trong toàn bộ tác phẩm

Trang 4

3

Kết cấu truyện còn kết cấu từ không gian nhỏ hẹp với số phận nghèo, một mình đau khổ đến “cánh đồng đông vui” Đây là kết cấu quen thuộc trong văn học sau Cách mạng tháng Tám Truyện kể về cô Ảng đẹp nức tiếng vùng Mường Cơi nhưng lại chịu tủi cực, đau khổ, phải hầu quan từ quan lớn đến quan bé Rồi

bà mang thai nhưng không có quan nào chịu nhận, cô Ảng phải nộp vạ, cô đành bán đứa con trai và đau đớn nhìn đứa con gái phải đi vào cuộc đời giống mình Đến khi gần cuối cuộc đời, bà được Nhấn đón lên ở cùng và giữ nương để cung cấp lương thực cho bộ đội, cho dân làng Bà được góp một phần sức mình cho kháng chiến, cho việc giữ làng, đánh bọn thực dân và chúa đất Mặc dù cuối tác phẩm bà Ảng chết, nhưng bà chết trong niềm vui, niềm tin tưởng vào cuộc đời mới - cuộc đời rực rỡ hơn cuộc đời bà

2.2 Kết cấu trần thuật

Trong truyện, người kể là nhân vật “tôi”, người biết hết mọi sự việc, nhưng đọc hết tác phẩm ta vẫn không biết “tôi” ở đây là ai? Là tác giả tự xưng

“tôi” kể lại hay là một anh bộ đội giải phóng quân nào đó biết rõ câu chuyện “tôi

thấy đồng chí Sơn đi… đồng chí Sơn đi với mấy người đi đâu” Trong Cứu đất cứu mường, “tôi” chỉ xuất hiện một đoạn đầu ngắn câu chuyện rồi sau đó mất

hút, dường như câu chuyện lại được kể theo ngôi thứ ba Nhưng đến cuối tác phẩm người kể chuyện lúc này lại là “chúng tôi” Việc lựa chọn ngôi kể của tác

giả vừa tạo cái nhìn khách quan vừa tạo tính chân thực cho những sự việc được nhắc tới Điểm nhìn trần thuật cũng có sự thay đổi linh hoạt trong suốt xuyên suốt tác phẩm Điểm nhìn trần thuật lần lượt thay đổi linh hoạt, là điểm nhìn của

“tôi”, “chúng tôi”, của nhân vật Nhấn, ông Sênh, bà Ảng Theo sự thay đổi điểm nhìn trần thuật, không gian thời gian cũng có sự thay đổi theo đó Mở đầu là nhân vật “tôi” kể cuộc gặp gỡ giữa Sơn và Nhấn rồi kể lại quá khứ của bà Ảng,

Trang 5

4

kế đến quay trở về hiện tại kể chuyện Nhấn quyết định dẫn mẹ lên ở chung, rồi

lại chuyển điểm nhìn cho ông Sênh “Ông quý Nhấn, ông biết nó đã lớn khôn…ừ,

tìm mẹ con bà Ảng lên đây; có một việc dễ thế mà mấy năm nay đã nhiều người dưới làng bỏ Tây lên núi ở, sao ông chưa nghĩ ra” Bà Ảng sau đó được việc giữ

nương cho đến khi bọn Cẩm Vàng tới, bà Ảng lại nhớ về quá khứ, lúc này điểm nhìn trần thuật là của bà Ảng Sau đó ta lại thấy điểm nhìn lúc này lại thay đổi về ngôi thứ ba Cuối cùng là chuyển điểm nhìn trần thuật cho “chúng tôi”- những anh bộ đội Người kể “chúng tôi” này khác với “tôi” kể trước đó vì “chúng tôi” không biết Sơn là ai Việc cuối tác phẩm sử dụng ngôi kể “chúng tôi” giúp gieo niềm vui hi vọng cho nhân vật Nhấn, đó cũng là cái nhìn của tập thể, của cộng đồng của sự đoàn kết, là sự đồng cảm, tin tưởng của toàn bộ nhân dân trong cuộc kháng chiến Dưới những điểm nhìn trần thuật này tác giả không chỉ là người dẫn chuyện, người kể mà đôi khi sẽ đồng hiện trong suy nghĩ của nhân vật từ đó bày tỏ quan điểm, thái độ, tình cảm chủ quan của bản thân

Thời gian trần thuật trong Cứu đất cứu mường cũng bị xáo trộn Quá khứ

và hiện tại được kể xen kẽ Người kể thường xuyên kể về quá khứ để giới thiệu,

kể về cuộc đời trước nhân vật Sau cuộc trò chuyện với anh Sơn, Nhấn đã nhớ

mẹ và cuộc đời mình, lúc này người kể lại kể về cuộc đời của bà Ảng từ thời đẹp nức tiếng cho đến khi bị trở thành bà lão ăn mày Ảng, rồi là cuộc đời của Nhấn

và em Nhấn Hay đoạn bà Ảng nhớ về quá khứ để cho người đọc biết về Cẩm

Vàng là ai? Thời gian được trần thuật trong truyện như “ngót nười mấy năm đọa

đầy Ảng” hay “mười mấy năm đã qua…chẳng mấy lâu người mường Cơi đều goi cô Ảng là bà lão Ảng, bà lão ăn mày Ảng.”, đây là lúc kể về quá khứ bà Ảng,

thời gian là mười mấy năm nhưng lại được dồn nén thời gian trần thuật lại chỉ khoảng chừng ba giây Mười mấy năm nay ngày nào cũng thế, cô Ảng xinh đẹp

Trang 6

5

bị đầy đọa, khổ cực và trở thành một người mà người dân gọi là bà Ảng ăn mày Thời gian được trần thuật trong một buổi sáng của bà lại được miêu tả chi tiết

“Trời đã tang tảng, bà kéo cái dây hạ chuồng gà trên cành cây xoan xuống Cho đến lúc có ánh nắng, bà Ảng mới thả đàn gà Rồi bà dạo xem qua các giàn bí đỏ, thấy quả nào đã già mặt, bà cắt đem phơi nắng trên các tảng đá Sau bà sang nương sắn để xem đêm qua có rím về đào sắn không Đây là những công việc đều đặn mỗi buổi sáng của người trông nương.”

2.3 Kết cấu hình tượng

Đối với thể loại truyện ngắn vì dung lượng nhỏ nên nhân vật ít và tập trung ống kính vào khoảng khắc của đời người của các nhân vật chính Trong truyện đã đưa ra kết cấu địch – ta, kết cấu quen thuộc trong văn học Cách mạng Trong đó địch là nhân vật Cầm Vàng, bọn lính Tây đồn, quan, bọn chúa đất, … (phe phi nghĩa, phe ác); bên ta là Nhấn, Sơn, bà Ảng, ông Sênh, bộ đội cách mạng (phe chính nghĩa, phe thiện) Phe ta tuy có sự hi sinh, mất mát nhưng bên địch vẫn bị đánh chạy tả tơi Kết truyện là một niềm tin về tương lai chiến thắng của ta Nhân vật Sơn là nhân vật chức năng xuất hện giúp Nhấn có thể định hướng được cuộc đời mình nên chỉ xuất hiện chớp nhoáng Các nhân phụ khác cũng thế Trong tác phẩm, tác giả tập trung vào các nhân vật chính như bà Ảng, Nhấn, tập trung khai thác vấn đề con người đau khổ đứng lên đấu tranh tìm ánh sáng cho bản thân

Các không gian cũng được phân bố, đan cài vào nhau Không gian hoạt

động của bên địch “phía bên dưới đồn Tây dưới Mường Cơi cũng nhộn nhịp bắt

đầu những “công việc ngày mùa” của chúng”, được miêu tả bên cạnh không

gian bên các mường của ta “ở rừng sâu đâu đâu cũng đương tấp nập công việc,

các tổ tăng gia cứ tối tối lại họp để tính đổi công việc thuốc độc mới” tạo

Trang 7

6

không khí chiến tranh đối đầu nhau giữa hai bên Không gian thiên nhiên cũng được tác giả sắp xếp xen kẽ không gian cuộc sống con người Dường như thiên

nhiên cũng chính là đang phản ánh cuộc sống của người dân hiện tại: “Nhưng

hai bên sườn núi trong các lũng vẫn chỉ sừng sững một màu đá trắng xám ngắt, không đâu một chút vàng của lúa chín”; “Những ngày đêm mưa tầm tã trên núi, tưởng không bao giờ dứt, cũng đã qua Đám mây lốm đốm xám như đuôi con sóc bay quần sát ngọn cây, lê thê đi mãi, bây giờ cứ loáng thoáng nhạt dần, thỉnh toảng đứt quảng, đã thấy lồ lộ đằng xa một bức vách đá trắng toát.”, …

Thời gian trong Cứu đất cứu mường được đan xen vào nhau từ hiện tại –

quá khứ Đang ở hiện tại nhưng Nhấn lại quay về quá khứ nhớ lại cuộc đời nhân vật bà Ảng Một điều ta cần thấy dung lượng, thời gian kể, giới thiệu cuộc đời của các nhân vật là khác nhau Kể về cuộc đời, quá khứ của nhân vật Ảng được

kể dung lượng dài hơn sao với Cẩm Vàng Lí do dễ thấy được là Ảng là nhân vật chính, là nhân vật ảnh hưởng đến toàn bộ nội dung và tư tưởng tác phẩm, Cẩm Vàng là nhân vật phụ và trong vai phản diện nên chỉ kể ít hơn Lại nói, đoạn kể

về lai lịch của nhân vật Cẩm Vàng là để đẩy tâm lí của nhân vật Ảng Đưa sự căm giận của bà Ảng được đẩy lên cao dẫn tới những hành động những tiếp theo của bà Ảng khi đối đầu với Cẩm Vàng

Không gian, thời gian cũng tác động đến nhân vật Trong truyện, không

gian Mường Cơi đã khiến bà Ảng chịu đựng đau khổ, dần đà “con mắt bà không

còn lúc nào ngước trông ra cho thấy mùa nào có con chim nào đã về”, nhưng

khi được Nhấn cõng lên lũng mới bà Ảng trở nên vui vẻ hơn và thấy mình có ích, không gian ở lũng mới cũng khiến bà Ảng trở nên mạnh mẽ hơn chống lại bọn Cẩm Vàng Tuy nhiên cũng không thiếu phần bùi ngùi Không chỉ bà Ảng

mà ta có thể thấy trong thời gian không gian mỗi lần chuyển nương tới một

Trang 8

7

nương mới mọi người đều vui vẻ, phấn khởi nhưng vẫn có lo lắng Lo vì sợ ở lâu giặc sẽ lên tìm tung tích Chính vì thế mỗi năm dân làng lại chuyển nương một lần

2.4 Kết cấu ngôn từ - liên văn bản

Trong Cứu đất cứu mường cách phân bố các thành phần ngữ nghĩa trong

nội bộ tác phẩm cũng thật độc đáo Như đoạn tác giả sử dụng kết cấu tăng tiến để

miêu tả sự mong đợi bộ đội, cán bộ, dân công, … đứng lên đánh Tây “Nhưng ai

cũng lặng lẽ, hồi hộp, mong đợi, mong cái gì đó khác”; để thể hiện sự thay đổi

của cô Ảng so với trước khi, tác giả cũng sử dụng kết cấu này “Mười mấy năm

đã qua Rách quá, ốm quá, già quá, chẳng mấy lâu là người Mường Cơi đều đã gọi cô Ảng là bà lão Ảng…”, rồi là bà khi nhớ về quá khứ của bản thân mình khi

đã lên giữ nương cho dân làng bà Ảng cảm thấy “những cái thật quen, mới đây

thôi, mà đã thật xa, thật xa lạ” Cuộc đời lắm những đắng cay của cô Ảng cũng

được thể hiện trong kết cấu đối sánh giữa con gái đẹp nhà quan và con gái đẹp

nhà dân “Chao ôi, những như con gái đẹp nhà quan thì càng làm đẹp cửa đẹp

nhà nhà quan hơn, còn con cái của dân trắng mà đẹp thì chỉ sinh lo sinh bệnh cho cha mẹ” hay giữa người ta về nhà chồng và cô Ảng về nhà chồng “Người con gái trong mường đi lấy chồng xa trở về làng, như người ta mong ước: chồng thì tay dắt trâu, vai gánh gà vịt, vợ thì quảnh ninh, quảnh nồi, lưng địu con nhỏ Nhưng cô Ảng ở nhà quan trở về làng chỉ đeo một túi quần nái và đi một mình”

Ngôn ngữ trong truyện cũng gợi nhiều liên tưởng, miêu tả thiên nhiên nhưng

dừng như là nói đến hoàn cảnh cũng thực tại con người “Nhưng hai bên sườn

núi trong các lũng vẫn chỉ sừng sững một màu đá trắng xám ngắt, không đâu một chút vàng của lúa chín” Trong khung cảnh Nhấn cõng ông Sênh đi trong

lúc tìm lũng mới, con người hiện tại đang trong cuộc sống khổ đau “quanh năm

Trang 9

8

trời bủa sương mù”, nhưng con người lại đi trong “mồng trăng sáng vằng vặc”

trăng trong chiến tranh đại diện cho hòa bình, cho cuộc sống no đủ, và lại “có

tiếng chim kỳ kêu đêm, đầm ấm, giục giã, đồi hồi” Trong truyện mỗi lần tiếng

chim kỳ xuất hiện là mỗi lần báo điềm lành, báo niềm tin về sự đổi đời Giữa lúc Nhấn đi canh lũng cho nhà phát nương thấy khe cứu nương đang bốc khói hàng

loạt câu hỏi trong đầu anh hiện ra, anh khẳng định “thế này tất có người đến

nương” rồi lại phủ định “lũng này chẳng có ai đã trở lại nương” rồi khẳng định

“chỉ một mình mẹ ta ở lại nương” Với kết cấu phủ định – khẳng định cùng với

lời độc thoại những tự hỏi tự trả lời của mình “Bên ấy bây giờ chỉ còn một mình

mẹ, ai đốt gì vậy? Hay là Tây lên nương?”; “Thế ư? Ai đi qua vách đá mà vượn

sợ chạy? Ai đốt khói to thế kia?” đã cho ta thấy tâm trạng lo lắng, bồn chồn

không yên của Nhấn trước sự việc trên

Cứu đất cứu mường là một trong ba truyện tập truyện Tây Bắc, khi đọc ta

thấy cốt truyện nó có mối liên quan với Vợ chồng A Phủ và Mường Giơn Các nhân vật (Ảng, Mị, A Phủ, Ích, Sạ, …) ban đầu đều là những người nông dân chịu khó lao động nhưng lại bị bọn chúa đất, bọn thực dân phong kiến đẩy cuộc đời vào tăm tối và chỉ khi họ tự mình đứng lên đấu tranh, nổi dậy mới tìm được hạnh phúc, đổi mới cuộc sống, thoát khỏi khổ đau Mở đầu tác phẩm tác giả đã

để lời đề từ bằng bài hát tiếng dân tộc Mường ở châu Phù Yên giúp người đọc có thể nắm được bối cảnh đất nước, bối cảnh hiện tại của cuộc sống con người Mường từ đó hiểu thêm về nhân vật cũng như gây ấn tượng ban đầu cho độc giả

3 Kết luận

Trang 10

9

Nhìn chung, không thể không nhìn nhận tài năng của Tô Hoài trong việc

xây dựng kết cấu, cách kể chuyện Kết cấu truyện Cứu đất cứu mương góp phần

tạo sắc đặc sắc cho nội dung câu chuyện Đây cũng là thế mạnh, là sở trường trong phong cách sáng tác, khiến cho các tác phẩm của ông để lại dấu ấn sâu đậm và có sức sống lâu dài trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ Với bảy mươi năm cầm bút, Tô Hoài đã cống hiến cho đời nhiều tác phẩm xuất sắc Ông xứng đáng

là cây đại thụ của nền văn học Việt Nam hiện đại

Ngày đăng: 30/01/2023, 10:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm