ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN ————————— PHAN BĂNG TUYẾT TRÂM YẾU TỐ BI KỊCH TRONG TIỂU THUYẾT TÂY DU KÝ CỦA NGÔ THỪA ÂN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƢ PHẠM NGỮ VĂN TRÌNH ĐỘ ĐÀO[.]
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
—————————
PHAN BĂNG TUYẾT TRÂM
YẾU TỐ BI KỊCH TRONG TIỂU THUYẾT
TÂY DU KÝ CỦA NGÔ THỪA ÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN
TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 6 NĂM 2020
Trang 2
ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
—————————
PHAN BĂNG TUYẾT TRÂM
YẾU TỐ BI KỊCH TRONG TIỂU THUYẾT
TÂY DU KÝ CỦA NGÔ THỪA ÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN
TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS LÊ ĐÌNH KHANH
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 6 NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học
Ngoài những trích dẫn là thành quả nghiên cứu
đã được phát biểu của các nhà khoa học khác, những kết quả nghiên cứu hoàn toàn mang tính trung thực
và là nghiên cứu độc lập của chúng tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình
Tác giả khóa luận
Phan Băng Tuyết Trâm
Trang 4Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô của ngành Sư phạm Ngữ văn khoa Sư phạm Khoa học Xã hội, trường Đại học Sài Gòn đã trang bị cho tôi những kiến thức và kỹ năng cần thiết trong suốt những năm học tại trường
Tôi gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè – những người không ngừng động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu đề tài này Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót
và hạn chế, rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô để đề tài được đầy đủ, hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả khóa luận
Phan Băng Tuyết Trâm
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BI KỊCH VÀ TIỂU THUYẾT TÂY DU KÝ 1.1 Một số vấn đề về bi kịch 12
1.1.1 Khái quát về bi kịch 12
1.1.2 Yếu tố bi kịch trong văn học nghệ thuật 13
1.2 Một số vấn đề chung về tiểu thuyết Tây du ký 15
1.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội đời Minh 15
1.2.2 Tình hình phát triển tiểu thuyết trường thiên đời Minh 19
1.2.3 Ngô Thừa Ân và tiểu thuyết Tây du ký 21
Chương 2 YẾU TỐ BI KỊCH TRONG TÂY DU KÝ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 2.1 Bi kịch trong cuộc chiến vì tự do 27
2.1.1 Bi kịch trong khát vọng thoát khỏi ràng buộc thần quyền 27
2.1.2 Bi kịch trong khát vọng thoát khỏi ràng buộc của thiên mệnh 33
2.2 Bi kịch trên con đường tranh đấu vì dân chủ và công bằng 40
2.2.1 Bi kịch trong việc khẳng định quyền bình đẳng 40
2.2.2 Bi kịch trong thực hiện công lí 46
2.3 Bi kịch trong cuộc chiến đấu chống cái xấu 51
2.3.1 Dục vọng con người 51
2.3.2 Thiên nhiên khắc nghiệt 54
Trang 6Chương 3
YẾU TỐ BI KỊCH TRONG TÂY DU KÝ
NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT
3.1 Về cách lựa chọn đề tài 59
3.2 Nghệ thuật xây dựng kết cấu tác phẩm 62
3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 66
3.4 Các thủ pháp nghệ thuật khác 72
3.4.1 Sử dụng yếu tố kỳ ảo 72
3.4.2 Thủ pháp châm biếm, hài hước 74
3.4.3 Ẩn dụ - tượng trưng 77
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong lịch sử văn học Trung Quốc, vào thời đại Minh - Thanh cùng với sự suy tàn của các thể loại văn học chính thống như thơ, từ, tản văn là sự phát triển rầm rộ của văn học thông tục như tiểu thuyết và hí khúc Đây là thời kỳ mà tiểu thuyết được phát triển đỉnh cao về cả nội dung và hình thức với hàng trăm tác phẩm lớn nhỏ Nói đến đỉnh cao của tiểu thuyết thời kì này, trước hết phải nhắc
đến bốn bộ tiểu thuyết nổi tiếng được xem là tứ đại danh tác: Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du ký của Ngô Thừa Ân và
Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần Những bộ tiểu thuyết này đã truyền tụng qua
lịch sử mấy trăm năm và cho đến ngày nay vẫn được độc giả trên thế giới hoan nghênh đón nhận và nghiên cứu
Tây du ký ra đời vào giữa đời Minh, cho đến nay đã có hơn bốn trăm năm
Trong khoảng thời gian dài lâu đó, tác phẩm đã không ngừng được truyền bá trên
thế giới và được dịch ra nhiều thứ tiếng Tây du ký có ảnh hưởng lớn đến nền văn học nghệ thuật Trung Quốc Sau sự thành công của Tây du ký đã có nhiều tiểu thuyết khác ra đời như Tây du bổ, Hậu du ký, Tục tây du,… và cho tới bây giờ Tây
du ký vẫn là ngọn nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ nghệ sĩ chuyển thể thành âm
nhạc, vũ đạo, điêu khắc, hội họa, kịch bản sân khấu, kịch bản phim truyền hình hoặc tác phẩm điện ảnh có giá trị Không chỉ ảnh hưởng trong phạm vi Trung
Quốc, Tây du ký còn ảnh hưởng đến văn học các nước trên thế giới trong đó có
Việt Nam Ở Việt Nam không ai không biết đến một Tôn Ngộ Không với bảy mươi hai phép biến hóa; một Trư Bát Giới ham ăn, mê gái, lười biếng; một Đường Tăng có tấm lòng từ bi; một Sa Tăng cúc cung tận tụy để thỉnh được chân kinh,… Tất cả những nhân vật đó đều rất gần gũi với nhiều thế hệ độc giả, khán giả Việt Nam
Mỗi tác phẩm văn học luôn là tấm gương phản chiếu hiện thực khách quan
cũng như những tư tưởng tình cảm của xã hội mà nó ra đời Tây du ký ra đời ở thời
kỳ nền kinh tế xã hội và chính trị đã mục nát, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt cùng với với chế độ cai trị chuyên chế lỗi thời, chính sách văn hóa tàn bạo Trong
xã hội ấy nhân dân Trung Quốc sống lầm than, chìm ngập trong máu và nước mắt,
mà bản thân Ngô Thừa Ân cũng là một người có cảnh ngộ như hàng triệu con
Trang 8người khác trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ Bối cảnh đời sống như vậy đã chi phối đến tư tưởng tình cảm của con người Ở đó con người khát khao, ước mơ tới một xã hội mới, một xã hội công bằng tự do, dẹp sạch mọi bất công trong xã hội
Trong Tây du ký, tác giả Ngô Thừa Ân đã dùng chuyện tiên, chuyện thần, chuyện
Phật, chuyện yêu quái ma quỷ ở thế giới hoang đường xa xôi để nói chuyện cuộc sống con người Trung Quốc trong xã hội đương thời
Đối với Tây du ký người đọc có thể nghiên cứu tác phẩm qua nhiều góc độ
Trong quá khứ nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu tác phẩm qua đề tài, tư tưởng, chi tiết, hình tượng nhân vật, nghệ thuật, triết lý,… nhưng thật thiếu sót nếu chúng
ta không đề cập nhiều đến yếu tố bi kịch trong tác phẩm Tây du ký là câu chuyện
thỉnh kinh kì diệu với kết cấu đồ sộ khắc họa nên hình tượng anh hùng lý tưởng đậm đà màu sắc sử thi Những cuộc xung đột, mâu thuẫn giữa nhân vật anh hùng Tôn Ngộ Không với những nhân vật đại diện cho các nhóm thế lực khác nhau xảy
ra xuyên suốt tác phẩm Có thể nói xuyên suốt 100 hồi của tiểu thuyết là cuộc đấu tranh bất tận đầy bi tráng giữa nhân vật Tôn Ngộ Không và các thế lực thần quyền, cường quyền, giữa lực lượng tiến bộ và phản tiến bộ Cho nên tính bi tráng, yếu tố
bi kịch là một phần quan trọng trong tư tưởng nghệ thuật của Tây du ký, thế nhưng
cho đến hiện tại khi bàn về thiên tiểu thuyết nổi tiếng này nhiều người vẫn chưa chú ý tới, hoặc có chú ý nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu thỏa đáng về vấn đề
này Đi sâu vào vấn đề yếu tố bi kịch trong Tây du ký chúng tôi mong muốn đi sâu
khám phá một ý nghĩa nghệ thuật giàu tính nhân văn, nhân bản cũng như sẽ lí giải được vì sao hàng trăm năm qua công chúng văn học luôn cảm thông và dành tình cảm nồng nhiệt đối với nó
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ khi ra đời, Tây du ký được xem một tác phẩm văn học đạt tới đỉnh cao
nghệ thuật, có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử phát triển của thể loại tiểu thuyết thần ma, tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc Dù là ở Trung Quốc hay các quốc gia
khác kể cả Việt Nam, việc nghiên cứu tiểu thuyết Tây du ký đã có lịch sử lâu dài
và đạt được nhiều thành tựu trân quý
Qua sưu tầm tài liệu, tìm hiểu các công trình nghiên cứu và tài liệu liên
quan khác nhau, chúng tôi thấy vấn đề yếu tố bi kịch trong Tây du ký cũng đã
Trang 9được đề cập trong nhiều công trình Đầu tiên ở Đại lục Trung Quốc, các công trình nghiên cứu xuất hiện dày đặc từ đầu thế kỉ XX Nổi bật như công trình nghiên cứu của Sở nghiên cứu văn học thuộc viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, và nhiều tác
giả khác được lưu hành phổ biến ở Việt Nam như: Lịch sử văn học Trung Quốc:
Văn học Nguyên – Minh – Thanh (Nhà xuất bản Giáo dục, 1995) của Dư Quan
Anh chủ biên; Văn học sử Trung quốc (Nhà xuất bản Phụ nữ, 2000) của Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh; Lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002) của Lỗ Tấn; Văn học Trung Quốc (Nhà xuất bản Tổng
hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2013) của Diêu Đan, Đặng Cẩm Huy, Phương Phong; Trong các công trình trên yếu tố bi kịch được điểm qua cụ thể như sau:
Trong lời nói đầu ở đầu cuốn tiểu thuyết Tây du ký Ngô Thừa Ân (Thụy
Đình dịch, Chu Thiên hiệu đính, Nhà xuất bản Văn học, 2018) nhắc đến hình tượng Tôn Ngộ Không được xây dựng là hình tượng lí tưởng hóa của nguyện vọng nhân dân thông qua các hành động đấu tranh nhưng đáng tiếc lại bị khuất phục bởi bàn tay Như Lai, gợi ra bi kịch của một vị anh hùng khiến người ta cảm thấy nuối
tiếc: “Tôn Ngộ Không tuy có phép cân đẩu vân một bước đi xa được mười vạn tám
nghìn dặm nhưng không thoát khỏi tay Phật Tổ Như Lai nên phải chịu nhốt dưới núi Ngũ Hành Cái kết cục khiến người ta than tiếc đã khái quát như lối ngụ ngôn tấn bi kịch lịch sử của những cuộc khởi nghĩa nông dân bị thất bại trong xã hội phong kiến” [5, tr.7] Ngoài ra còn bàn về nguyên nhân sự thất bại trong trận đại
náo thiên cung dũng cảm nhất, triệt để nhất của Tôn Ngộ Không là do hạn chế về
thời đại và sức mạnh của thế lực thống trị phong kiến: “Ở một mức độ nhất định,
tác giả đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng chính thống phong kiến, tư tưởng định mệnh, không lối thoát nên chỉ xếp đặt được kết cục như thế” [5, tr.7]
Trong Lịch sử văn học Trung Quốc, tác giả Dư Quán Anh chủ biên đã nêu lên được tư tưởng chủ đạo của Tây du ký là phản ánh tinh thần khắc phục khó
khăn, sự phản kháng cũng như mong muốn tiêu diệt được cái ác của nhân dân Trung Hoa Đặc biệt khi đi sâu bàn về tư tưởng chủ đề và hình tượng nhân vật
trong Tây du ký có nói đến sự thất bại cuộc đấu tranh của Tôn Ngộ Không trong bảy hồi đầu: “Đại náo thiên cung kết thúc bằng sự thất bại của Tôn Ngộ Không,
điều đó có liên quan đến những tư tưởng chính thống phong kiến mà tác giả phần nào bị ảnh hưởng Đồng thời cũng phải nói rằng, Tôn Ngộ Không bị đè dưới núi
Trang 10Ngũ Hành và sau đó quy y cửa Phật pháp cũng là đòi hỏi tất nhiên trong sự phát triển tình tiết câu chuyện…” [3, tr.323] Ở một trang khác tác giả lại nói: “Một nhân vật có năng lực và trí tuệ siêu việt như thế, thường không được người ta hiểu
rõ, và phải chịu sự ngược đãi bất công Do Quan Âm và Đường Tăng cùng nhau lập mưu lừa phỉnh, y phải đội vành vàng lên đầu” [3, tr.328] Ngoài ra không ít
lần tác giả cuốn sách đã nhắc đến và gợi ra yếu tố bi kịch có trong tiểu thuyết
Trong Văn học sử Trung Quốc, nhóm tác giả Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh ở phần bàn về tiểu thuyết Tây du ký có viết: “Trong Tây du ký bao gồm 2 đề
tài gốc về mặt văn học và hai mẫu chuyện có kết cấu tương ứng, đã tạo ra cái sườn chung của bộ tiểu thuyết Một đề tài gốc đầu tiên tương quan đến bản chất tự
do của nhân tính và mối mâu thuẫn từ hoàn cảnh khiến nó không thể không tiếp nhận sự ức chế”; hay có đoạn: “Có thể nói sự tự do một cách triệt để, sự thỏa mãn một cách đầy đủ dục vọng trong cuộc sống cũng như sự tôn nghiêm của cá nhân, chống lại với tất cả mọi thứ áp chế là điều không thể thực hiện được trong hoàn cảnh hiện thực, nhưng nó lại là những đòi hỏi cơ bản của nhân tính” [21,
tr.363] Hướng vào nhân vật Tôn Ngộ Không lại làm lộ ra sự thất bại, bi kịch của nhân vật
Đó là các công trình nghiên cứu ở Trung Quốc, ở Việt Nam đã có nhiều nhà
nghiên cứu đã nêu ra nhiều giá trị của tác phẩm Tây du ký như Trần Xuân Đề,
Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Huy Khánh, Lương Duy Thứ, Nguyễn Hiến Lê, Lê Anh Dũng, Trần Lê Bảo… và đã có nhiều nhà nghiên cứu khác có thành tựu đáng
kể được ghi nhận và kế thừa Tuy nhiên hầu như yếu tố bi kịch chỉ được điểm thoáng qua
Chỉ kể đến ở Việt Nam đã phổ biến các giáo trình, công trình do các giáo sư, các nhà nghiên cứu có tên tuổi đã từng điểm qua về yếu tố bi kịch trong tiểu thuyết
Tây du ký của Ngô Thừa Ân như: Giáo trình lịch sử văn học Trung Quốc (Nhà
xuất bản Giáo dục, 1963) của Trương Chính, Bùi Văn Ba, Lương Duy Thứ; Để
hiểu tám bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Nhà
xuất bản Mũi Cà Mau, 1990) của Lương Duy Thứ; Khảo luận tiểu thuyết cổ điển
Trung Hoa (Nhà xuất bản Văn học, 1991) của Nguyễn Huy Khánh; Văn học Trung Quốc (Nhà xuất bản Giáo dục,1998) của Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy
Trang 11Thứ; Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998) của Trần Xuân Đề; Giải mã truyện Tây du (Nhà xuất bản Trẻ, 2000) của Lê Anh Dũng;
Lịch sử văn học Trung Quốc văn học từ đời Nguyên đến văn học hiện đại (Nhà
xuất bản Đại học Sư phạm, 2014) do Nguyễn Khắc Phi chủ biên;… và các luận
văn luận án nghiên cứu như: Triết lý nhân sinh trong Tây du ký (Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn, 2000) của Trịnh Văn Đồng; Yếu tố kỳ trong Tây du ký (Luận
án tiến sĩ khoa học Ngữ văn, 2002) của Võ Hồng Hà; Không gian nghệ thuật trong
Tây du ký (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, 2000) của Nguyễn Hoàng Long,… cùng với
một số công trình nghiên cứu khác Các công trình nghiên cứu đã bàn về những vấn đề, các khía cạnh khác nhau có trong tác phẩm Tuy nhiên yếu tố bi kịch hầu như đều được ít nhắc tới, nếu được nhắc tới vẫn còn rời rạc, thoáng qua chưa thực
sự đi sâu vào nghiên cứu phân tích
Trong Giáo trình lịch sử văn học Trung Quốc của Trương Chính, Bùi Văn
Ba, Lương Duy Thứ đã dành một phần bàn về mặt tiêu cực có trong Tây du ký, có đoạn viết: “Đối với Như Lai, Quan Âm, tác giả vẫn tỏ vẻ tôn kính, cho như đó là
thế lực tuyệt đối, chi phối được cả thế giới này, biết được quá khứ, dự đoán được tương lai Tôn Ngộ Không dù có phép thăng thiên cũng không rời khỏi bàn tay của Như Lai và cuối cùng bị đè bẹp dưới núi Ngũ Hành Sơn” [9, tr.86] Từ đó gợi ra
yếu tố bi kịch trong tác phẩm
Trong Văn học Trung Quốc của Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy Thứ đã làm
nổi bật được những tư tưởng phản ánh có trong tác phẩm, những mâu thuẫn hạn
chế của tác giả tiểu thuyết Ngô Thừa Ân Trong đó đoạn nhắc tới: “Xét cho cùng
việc quy y Phật pháp của Tôn Ngộ Không là việc đương nhiên, không thể khác được Điều đó gắn chặt với những mâu thuẫn trong thế giới quan tác giả cũng như
do đề tài quy định Tác giả để 7 hồi đại náo thiên cung trên nhằm biểu dương tính cách nổi loạn của nhân vật cuối cùng quy y cửa Phật để dẫn đến chuyện thỉnh kinh Tất nhiên cách giải quyết đó cũng liên quan đến tư tưởng chính thống phong kiến của nhà nho Ngô Thừa Ân” [30, tr.54]
Trong Truyện và đời - Khảo luận tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa của Nguyễn Huy Khánh bàn về hình tượng nhân vật Tôn Ngộ Không lại có đoạn: “Tôn Hành
Giả có thể nhảy một cái muôn vạn tám nghìn dặm, nhưng không thể nào vượt khỏi
Trang 12bàn tay của Đức Phật Như Lai Và dù có cân đẩu vân đến tận chân trời lão Tôn vẫn không sao một mình đi đến Tây Phương Phải chăng tác giả muốn bảo rằng tài năng dù tuyệt vời cũng không thể nào vượt qua khỏi sự chế phục khắt khe định mạng mà tác giả Ngô Thừa Ân đã mặc nhiên công nhận” [24, tr.154]; “Tôn Ngộ Không, một nhân vật xuất sắc bị liệt vào hàng yêu quái tuy có mấy lần quật khởi, loạn thiên cung, nhưng rốt cuộc phải bị đè bẹp dưới Ngũ Hành Sơn và sau đó phải quy y Phật pháp, theo Tam Tạng thỉnh kinh” [24, tr.157]
Cuốn Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc của Trần Xuân Đề đã tập trung phân
tích những hình tượng nhân vật chính, đặc biệt khi phân tích nhân vật Tôn Ngộ
Không đã nêu ra quan điểm của mình: “Tác giả xây dựng hình tượng nhân vật
Tôn Ngộ Không, con người dồi dào tinh thần phản kháng nhằm phủ định tất cả những quan niệm lỗi thời rằng con người hãy phục tùng sự chi phối của số mệnh, hãy nhịn nhục, gắng gượng chịu sự đau khổ của kiếp này, hưởng vọng cuộc sống của kiếp sau.” [15, tr.97]
Hay trong Lịch sử văn học Trung Quốc từ văn học đời Nguyên đến văn học
hiện đại của Nguyễn Khắc Phi chủ biên có đoạn: “Từ hình tượng Tôn Ngộ Không, khát vọng về cuộc sống hợp lý tính và nhân tính và phê phán xã hội hắc ám hư ảo phi nhân tính đều được bộc lộ Cho dù Tôn Ngộ Không bị trấn áp, điều này do cốt truyện thỉnh kinh đã định sẵn, quan trọng hơn là hạn chế của lịch sử, thì bảy hồi đầu Tôn Ngộ Không vẫn là anh hùng phản nghịch đáng ca ngợi”; Lại có đoạn:
“Từ một Mỹ Hầu Vương tự do tự tại, một kẻ phản nghịch không hề khuất phục khi đại náo thiên cung, Tôn đã trở thành một đấu sĩ tiên phong mở đường trên con đường lấy kinh, trở thành một tín đồ thành tâm quy y đạo Phật, ở đây liệu có phải
là Tôn đã tuân theo cái mà chính hắn trước đây đã phản đối không” [29, tr.81]
Trong tiểu luận Tây du ký – Đệ tam danh tác của Đỗ Ngọc Thạch có nhắc tới: “Đại náo thiên cung kết thúc bằng sự thất bại của Tôn Ngộ Không là điều bất
khả kháng và điều đó càng làm tăng vẻ đẹp bi kịch của hình tượng nhân vật”
Như vậy vấn đề nghiên cứu yếu tố bi kịch trong Tây du ký tuy là “cũ” nhưng
cũng là “mới” “Cũ” ở đây là các nhà nghiên cứu trước nay đã đề cập tới vấn đề này nhưng chỉ là điểm qua một cách khái quát và sơ lược, không đi vào phân tích hay nghiên cứu chuyên sâu “Mới” là cho đến hiện nay vẫn chưa có một công trình
Trang 13nghiên cứu chuyên biệt, hình thành hệ thống rõ ràng về vấn đề này Trên tinh thần học tập, kế thừa thành quả nghiên cứu của các thế hệ đi trước, chúng tôi trân trọng những kết quả nghiên cứu trên Đó là những gợi ý quan trọng của các vị học giả đi trước gợi mở mà chúng tôi đã tiếp thu được và phát triển trong khi thực hiện đề tài này khóa luận
3 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận sẽ tìm hiểu, nghiên cứu giá trị thẩm mĩ của tiểu thuyết Tây du ký,
đặc biệt là yếu tố bi kịch trong tác phẩm Từ đó có thể hiểu hơn những tư tưởng, tình cảm, những trăn trở, khát vọng, ước mơ của nhân dân Trung Hoa đời Minh nói chung và tác giả Ngô Thừa Ân nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là yếu tố bi kịch trong Tây du ký của Ngô
Thừa Ân
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, chúng tôi sẽ khảo sát:
- Lí thuyết về bi kịch và yếu tố bi kịch trong văn học nghệ thuật nói chung
- Khảo sát yếu tố bi kịch có trong toàn bộ tác phẩm Tây du ký của Ngô Thừa
Ân (Thụy Đình dịch, Chu Thiên hiệu đính, Nhà xuất bản Văn học, 2018)
- Khảo sát trên tài liệu tìm được có liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ công tác nghiên cứu đề tài yếu tố bi kịch trong tiểu thuyết Tây du
ký của Ngô Thừa Ân chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật
gồm tình tiết, nhân vật, sự kiện, kết cấu, ngôn ngữ được đan cài xen kẽ, móc xích với nhau Việc chú ý tới hệ thống này, việc phân tích - tổng hợp sẽ giúp làm rõ mối liên hệ giữa các tuyến nhân vật, qua đó làm rõ hơn về yếu tố bi kịch trong tác phẩm
Trang 14- Phương pháp hệ thống cấu trúc: Sắp xếp, trình bày các chương, mục và nội
dung bên trong theo trình tự hợp lí, logic tạo tính khoa học, dễ hiểu, độ tin cậy cho khóa luận
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tây du ký là câu chuyện thần thoại
dùng câu chuyện ảo tưởng để nói chuyện của đời sống nhân dân đời Minh Ngoài
ra trong tác phẩm có nhiều yếu tố mang tính tôn giáo như Đạo giáo, Phật giáo, các
tư tưởng văn hóa khác của nhân dân Trung Hoa Vận dụng thao tác nghiên cứu của các ngành khoa học văn học, lịch sử, văn hóa, tôn giáo sẽ giúp ích cho việc phân tích bản chất yếu tố bi kịch của tác phẩm
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: Tây du ký là tác phẩm ra đời vào
đời Minh Đặt tác phẩm trong cảnh lịch sử xã hội thời kỳ này giúp hiểu được nhiều giá trị, ý nghĩa nghệ thuật chân thực
- Vận dụng các lí thuyết về lí luận văn học, thi pháp học và mĩ học để hiểu rõ nguyên lí sáng tác văn học, hình tượng nhân vật, các yếu tố nghệ thuật cũng như quan niệm thẩm mĩ về bi kịch trong tác phẩm
6 Cấu trúc nội dung khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, cấu trúc khóa luận gồm có ba chương như sau:
Chương 1: Khái quát chung về bi kịch và tiểu thuyết Tây du ký
Chương này sẽ làm rõ các khái niệm, những quan niệm thẩm mĩ của giới nghiên cứu về lí thuyết bi kịch Bàn về lí luận, nguồn gốc của bi kịch, bi kịch trong văn học nghệ thuật Tiếp đến chúng tôi khái quát về bối cảnh lịch sử Trung Quốc đời Minh cũng như những ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử đối với tình hình văn học thời kỳ này Trình bày những đặc điểm, sự phát triển của tiểu thuyết trường thiên đời Minh Cũng trong chương này đưa ra vài nét về tiểu sử và cuộc
đời, tính cách của tác giả Ngô Thừa Ân Vài nét tiêu biểu về cuốn tiểu thuyết Tây
du ký về quá trình hình thành và phần tóm tắt tiểu thuyết
Chương 2: Yếu tố bi kịch trong Tây du ký nhìn từ phương diện nội dung
Thông qua hình tượng nhân vật Tôn Ngộ Không, Chương hai làm rõ các yếu
tố bi kịch trong Tây du ký trên phương diện nội dung Phân tích bi kịch trong cuộc
Trang 15chiến vì tự do, cố gắng thoát khỏi sự ràng buộc các các thế lực thần quyền, chống lại sự ràng buộc của thiên mệnh Bi kịch của Tôn Ngộ Không trong cuộc chiến đấu tranh vì dân chủ công bằng khẳng định quyền bình đẳng, thực hiện công lí Cuối cùng là phân tích biểu hiện của bi kịch trong cuộc chiến đấu chống cái ác trong xã hội, không vượt qua được dục vọng và bất lực trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên
Chương 3: Yếu tố bi kịch trong Tây du ký nhìn từ phương diện nghệ
thuật
Trong chương này người viết đi vào phân tích những thành tựu nghệ thuật phục vụ cho việc biểu hiện yếu tố bi kịch trong tiểu thuyết Lần lượt sẽ đi từ đề tài, cốt truyện – kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật và các thủ pháp nghệ thuật khác như: sử sụng yếu tố kỳ ảo; thủ pháp châm biếm, hài hước; thủ pháp ẩn dụ,
tượng trưng Từ đó ta có thể làm rõ được yếu tố bi kịch có trong Tây du ký được
làm rõ ở phương diện nghệ thuật Có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề bi kịch
trong tác phẩm
Trang 16CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BI KỊCH VÀ TIỂU THUYẾT TÂY DU KÝ
1.1 Một số vấn đề về bi kịch
1.1.1 Khái quát về bi kịch
Trước khi nói về bi kịch người viết muốn làm rõ về cái bi Cái bi là “phạm
trù mĩ học xác định giá trị thẩm mỹ của những xung đột không thể giải quyết, được triển khai trong tiến trình hành động tự do của nhân vật, kèm theo xung đột này là sự đau khổ và sự tiêu vong của nhân vật hoặc sự mất mát các giá trị đời sống của nó” [18, tr.193] Trong Nghệ thuật thơ ca, Aristole có nhấn mạnh cái bi
là một hiện tượng quan trọng trong xã hội và bi kịch chính là đỉnh cao nhất của
nghệ thuật “Bi kịch là thể loại sử dụng triệt để sức mạnh của kịch nhằm phản ánh
cái bi như một trạng thái nhân thế để mang lại một ý nghĩa xã hội lớn lao.”[35,
tr.350]
Theo Hegel, bi kịch lại là kết quả của sự thâm nhập, tác động lẫn nhau giữa tính cách bi kịch và hoàn cảnh bi kịch Hoàn cảnh đó là hoàn cảnh chung gắn liền với một tình huống mang tính lịch sử Tính cách bi kịch không tự phản lại mình, không phản lại những nguyên tắc của mình, thậm chí còn coi nó cao hơn cả mạng sống [11, tr.99] Hoàn cảnh bi kịch gắn liền với hoàn cảnh xã hội, con người luôn
bị chi phối bởi hoàn cảnh xã hội Con người theo thời gian sẽ thay đổi quan điểm
tư tưởng, khi hoàn cảnh xã hội không đáp ứng thuận lợi được cho sự phát triển của con người, nó chống lại ước muốn của con người gây ra hậu quả xấu khiến cho con người rơi vào hoàn cảnh bi kịch Hoàn cảnh bi kịch và tính cách bi kịch cũng
là hai điều kiện tiên quyết dẫn tới hành động bi kịch của nhân vật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, bi kịch là một thể loại kịch dựa vào xung
đột bi đát của các nhân vật anh hùng, có tính chất bi thảm và tác phẩm đầy chất thống thiết Bi kịch là thể loại nghiêm ngặt đến khắc nghiệt; nó miêu tả thực tại theo lối nhấn mạnh, cô đặc các mâu thuẫn bên trong, phơi bày những xung đột sâu sắc của thực tại dưới dạng bão hòa và căng thẳng đến cực hạn, mang ý nghĩa tượng trưng nghệ thuật [18, tr.117]
Bi kịch có nội dung phản ánh những hành động, xung đột của nhân vật anh hùng với những lí tưởng to lớn, tư tưởng tiến bộ tuy nhiên lại không vượt qua
Trang 17được hoàn cảnh hiện thực mà dẫn đến kết cục bi thảm thất bại, tiêu vong Nó là sự thất bại của những khát vọng chính đáng, những cái mới, tiến bộ, những gì đáng trân trọng nhất của lực lượng chính nghĩa trước khả năng thực hiện và hoàn cảnh khách quan Từ đó thể hiện những bản chất mâu thuẫn xung đột bên trong xã hội mang ý nghĩa nghệ thuật
Ngoài các thi pháp về xung đột, hành động, nhân vật, ngôn ngữ, bi kịch có những đặc điểm riêng biệt mang đậm dấu ấn thể loại như lỗi lầm bi kịch, sự nhận biết, sự trả giá và sự thanh lọc… Đây là những yếu tố cơ bản để làm nên chỉnh thể cấu trúc của một tác phẩm bi kịch, còn tác phẩm chỉ đạt được một số ít các yếu tố trên thì không phải bi kịch hiểu theo nghĩa chặt chẽ khái niệm của thể loại này mà
ta gọi nó là tác phẩm có yếu tố bi kịch Trong lịch sử văn học thế giới, nhiều tên tuổi lừng lẫy để lại cho nhân loại nhiều kiệt tác bi kịch, chúng ta có thể kể đến như
Prômêtê bị xiềng của Etsylơ; Ăngtigôn, Vua Ơdip của Sophocles; Rômêô và Jiuliet, Hămlet, Vua Lia, Macbeth của Shakespeare;… Ở Việt Nam không thể
không nhắc tới là vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, Hồn Trương Ba, da
hàng thịt của Lưu Quang Vũ…
1.1.2 Yếu tố bi kịch trong văn học nghệ thuật
Ở thời Hy Lạp cổ đại, bi kịch xuất hiện khi hình thái nô lệ với sự hình thành nhà nước dân chủ - chủ nô tạo ra cuộc đấu tranh giữa thế lực dân chủ, tự do với những thế lực phú hào và đòi quyền sống của những người nô lệ diễn ra gay gắt Con người dần có khát vọng muốn nhận thức, lí giải những xung đột gay gắt của cuộc sống hằng ngày bằng thẩm mỹ, từ đó dần chuyển đổi sang hình thức nghệ thuật có khả năng tái hiện hiện thực một cách khái quát và sâu sắc Bi kịch ngày càng mở rộng những chủ đề mang ý nghĩa xã hội phổ biến Bắt đầu chú trọng các
đề tài lịch sử, phản ánh những lỗi lầm của cuộc đời, xây dựng các tính cách anh hùng và những tính cách đau thương Đây cũng là thời kỳ bi kịch bắt đầu xuất hiện hình thành lí luận bi kịch nhân loại, là cơ sở cho sự phát triển cho các thời kỳ sau Đối với thời bi kịch trung cổ phương Tây lại mang màu sắc tôn giáo rõ rệt, nó gắn với quan niệm về tuẫn giáo, khổ hình, sự dày vò, nhẫn nhục để mong con cháu đời sau tốt hơn Bi kịch thời Phục Hưng đặt các vấn đề nhân sinh một cách trực tiếp Mâu thuẫn chủ yếu bi kịch thời kỳ này là mâu thuẫn của bước quá độ chuyển từ
Trang 18phong kiến trong tư bản, mang nhiều mặt phát triển nhưng cũng hủy hoại nhiều giá trị đạo đức tinh thần của thế giới cũ Nghệ thuật bi kịch thời kỳ thế kỷ XVII phản ánh bi kịch giữa nghĩa vụ và dục vọng, những vấn đề đạo đức công lệ và danh dự Tuy còn hạn chế về giá trị nhận thức trực tiếp nhưng lại có đóng góp quan trọng về nghệ thuật xây dựng tính cách về lối tu từ và nghệ thuật kết cấu Bi kịch thời kỳ Khai sáng xuất phát từ những lý tưởng tiến bộ khách quan trong hiện thực, phản ánh những nồng nhiệt, khát khao, những đam mê, căm giận, đau đớn, tuyệt vọng và hy vọng, tình yêu và tuổi trẻ
Trong văn học nghệ thuật, bi kịch phản ánh mâu thuẫn giữa những khát vọng của con người và khả năng thực hiện nó trong thực tiễn Bi kịch lúc nào cũng không thể thiếu được những xung đột và mâu thuẫn, các xung đột mâu thuẫn trong nghệ thuật có tính chất tình huống đã diễn ra đa dạng với nhiều diện mạo khác nhau nhưng chung quy nó không nằm ngoài những khát vọng chính đáng của con người và khả năng thực tế thực hiện nó Những xung đột mâu thuẫn bi kịch chủ yếu như: bi kịch của cái mới cái tiến bộ, cái cách mạng đang trong thế yếu với cái cũ; bi kịch của cái cũ nhưng chưa hẳn là xấu xa, phản động, nó có thể ít nhiều mang sứ mạng lịch sử nhưng lại sớm bị tiêu vong, bi kịch giữa sự khát vọng chính đáng và khả năng hiện thực thực hiện; bi kịch của sự nhầm lẫn, kém hiểu biết, sự ngu dốt về nhận thức Bi kịch của những khát vọng chính đáng về một lí tưởng xã hội tốt đẹp là khát vọng mang luôn mang ý nghĩa trực tiếp, tích cực nhất Dù là khát vọng lí tưởng xã hội chính đáng của con người mang tầm vóc lịch sử hay là những khát vọng mang tính cá nhân thì nó đều thuộc về ý nghĩa xã hội rộng lớn
Bi kịch thường nhấn mạnh đến cái ngẫu nhiên, những việc chưa chắc đã xảy ra cho nên các tình tiết sự việc xảy ra đầy bất ngờ vừa gây ngạc nhiên vừa hợp logic
Bi kịch trong nghệ thuật có vai trò minh họa những câu chuyện bên trong lịch sử, những câu chuyện của những anh hùng kiệt xuất, hay những số phận đại diện cho những người hướng tới phong trào cách tân Nhân vật bi kịch thường là anh hùng, con người dũng cảm hay lương thiện mà ở đó họ đấu tranh vì mục đích tốt đẹp, vì lí tưởng cao quý, đấu tranh loại bỏ cái cũ,… nhưng vì điều kiện nào đó
họ không thực hiện được Nhân vật bi kịch được hiện lên chân thực với những hành động, suy nghĩ, hay nội tâm phức tạp, phong phú Tìm hiểu về bi kịch của nhân vật giúp hiểu sâu sắc hơn về tư tưởng của tác phẩm nghệ thuật có ý nghĩa lí
Trang 19luận và thực tiễn quan trọng trong nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật văn học
Bi kịch trong văn học nghệ thuật mang tính tất yếu lịch sử, có ý nghĩa phổ biến Kết thúc của bi kịch thường là sự thất bại, hay cái chết của nhân vật bi kịch nhưng
nó là đại diện cho một lí tưởng xã hội tốt đẹp, một khát vọng chính đáng của con người đã phấn đấu đến cùng vì nó Vẻ đẹp bi kịch thường là vẻ đẹp của những tư tưởng có giá trị nhân văn được rút ra từ trong hiện thực Nó không chỉ đơn thuần
để minh họa cho những khái niệm về công lý mà còn bày tỏ sự thương tiếc và nỗi
sợ hãi Đối với bi kịch, những gì mỏng manh, vụt vặt đều nhường chỗ cho những
khát vọng mãnh liệt nhất, chân thực nhất mang ý nghĩ phổ biến “Bi kịch chân
chính không bao giờ làm mất niềm tin vào sự vĩ đại của con người Cho nên bi kịch gợi dậy trong tâm hồn của độc giả và khán giả một tình cảm phức tạp, có nhiều đối nghịch, nhưng vô cùng mãnh liệt”[35, tr.350]
Như vậy, bi kịch là một trong những đỉnh cao sáng tạo của văn học, là một loại hình đậm chất triết luận, phản ánh nhiều khía cạnh trong cuộc sống hiện thực
Ở những tác phẩm có yếu tố bi kịch cho ta thấy nỗi đau khổ, sự thất vọng, thất bại trong những hành động cao cả, qua đó cũng khẳng định sức sống mãnh liệt của con người, của những tư tưởng tiến bộ của xã hội khi trải qua nhiều thử thánh Các
tác phẩm có yếu tố bi kịch như Sông Đông êm đềm của Sholokhop; Lão Arkhip và
cậu bé Lionka của Maxim Gorki; Người trong bao của Chekhop; Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia marquez; Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần,… Ở Việt
Nam có các tác phẩm như nổi tiếng như Truyện Kiều của Nguyễn Du; Chí Phèo,
Đời thừa, Lão Hạc của Nam Cao; Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh
Châu…
1.2 Một số vấn đề chung về tiểu thuyết Tây du ký
1.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội đời Minh
Chu Nguyên Chương là người lật đổ chế độ thống trị Mông Nguyên sau gần một thế kỷ bị thống trị và lập nên nhà Minh (1368 – 1644) Đây cũng là triều đại phong kiến Hán tộc cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc Nói về Chu Nguyên Chương, ông xuất thần từ tầng lớp tá điền nghèo khó, vì cuộc sống ông xuất gia đi
tu sau này vì sự chèn ép hạch sách của quan lại cùng với tính cách quật cường, có chí khí từ nhỏ ông kết giao với các anh hùng hảo hán, phất cờ khởi nghĩa Ông có
Trang 20tài lãnh đạo quân sĩ, đánh trận vừa dũng cảm vừa mưu trí, khí thế quân khởi nghĩa của Chu Nguyên Chương ngày càng tăng cao, thanh thế ngày càng vang dội, đến khoảng tháng Giêng năm 1368 Chu Nguyên Chương xưng đế, đặt quốc hiệu là Minh, trở thành vua Minh Thái Tổ Vì xuất thân từ tầng lớp nông dân hiểu được đời sống khó khăn của họ cho nên từ khi lên ngôi Chu Nguyên Chương đã thi hành các chính sách nhượng bộ để phát triển như khuyến khích khai hoang, giảm nhẹ thuế khóa, mở mang công trình thủy lợi, khuyến khích trồng trọt, khôi phục công thương nghiệp và thủ công nghiệp, cũng như ông luôn yêu cầu quan lại liêm khiết, cấm bóc lột nhân dân, tuân thủ pháp luật, không lạm quyền làm đời sống nhân dân ngày càng ổn định Nhờ đó kinh tế đời Minh cũng dần ổn định và có chiều hướng ngày càng phát triển, sức đóng góp của dân cũng được tăng lên Tuy nhiên Minh Thái Tổ lại là một người chuyên chế độc đoán lại có tính đa nghi Ông luôn nơm nớp lo sợ sẽ bị cướp ngai vàng, quần thần tạo phản, vì thế vào đời Minh Thái Tổ xuất hiện cơ cấu “Cẩm y vệ” giám sát các đại thần, đối với những quan chức đại thần nếu xuất hiện sự hoài nghi đều bị đánh đập có khi còn bị chém chết hết cả nhà, điều đó làm các đại thần dưới luôn lo sợ Tính độc đoán của ông đến mức ông thủ tiêu cả chức thừa tướng, tự mình đảm công việc thượng thư của các
bộ lại, lễ, binh, công Phế bỏ đại đốc phủ nắm binh quyền thay vào đó là năm đô đốc phủ tả, hữu, trung, hình, công giữ nhiệm vụ luyện binh Nếu có xuất quân ra trận thì cũng do chính bản thân hoàng đế trực tiếp chỉ huy hạ lệnh [13, tr.301] Quyền lực của nhà vua được tăng cao và tập trung chưa từng thấy Sự độc đoán, chuyên chế, tàn bạo của vua Minh Thái Tổ chính vì thế mà nổi danh lịch sử Nhân dân là bộ phận chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của chế độ cai trị dưới thời vua Minh Thái Tổ Đời sống tinh thần người dân dưới đời Minh dần trở nên ngột ngạt, nặng
nề
Từ giữa đời Minh về sau, sự ngột ngạt nặng nề đó càng trở nên nghiêm trọng trong đời sống tinh thần của người dân Các nhà vua đời sau tiếp tục làm suy yếu, thậm chí thu hồi tước phong của các vương để tăng cường chế độ tập quyền trung ương Không chỉ về mặt tinh thần, về mặt sinh hoạt vật chất của nhân dân trong thời kỳ này gặp nhiều khó khăn, chịu nhiều bất công trong xã hội Các nhà vua triều Minh về sau ăn chơi hoang dâm vô độ, quan lại chuyên quyền nhũng nhiễu xã hội, thi hành chính sách bóc lột nhân dân, xã hội ngày càng rối loạn, mâu
Trang 21thuẫn xã hội gay gắt Thành lập Đông xưởng, Tây xưởng quản lí nhân dân tàn khốc, biết bao nhiêu dân chúng bị chết oan Nhân dân lâm vào nạn đói, hạn hán, lũ lụt trong thời gian dài dẫn đến không có lương thực, dân phải đào đất ăn cả rễ cây bột đá, đã vậy quan lại vẫn không ngừng đốc thúc nộp tô cao thuế nặng, tiếng kêu oán giận của dân chúng vang dội cả kinh thành dẫn đến xảy ra nhiều cuộc nổi loạn
và các cuộc khởi nghĩa của nông dân Cho đến cuộc khởi nghĩa do Lý Tự Thành – Trương Hiến Trung lãnh đạo đã lật đổ được nhà Minh Vua Sùng Trinh (1628 – 1644) thắt cổ tự tử Khi chưa kịp củng cố chính quyền thì Ngô Tam Quế (một đại thần nhà Minh) đã đưa quân Mãn Châu vào cửa ải Chính quyền rơi vào tay Mãn Thanh, triều đại nhà Thanh bắt đầu từ đây Mâu thuẫn dân tộc ngày càng gay gắt, các cuộc đấu tranh chống Mãn Thanh tiếp tục xảy ra và kéo dài cho đến năm 1911 Nhìn chung sự thống trị của cả nhà Minh, cũng như nhà Thanh sau này, có
sự nô dịch về chính sách chính trị và văn hóa Đó là một chế độ chuyên chế lỗi thời, độc tài, thi hành các chính sách vô cùng tàn bạo Được luật pháp che chở nên quan lại và địa chủ trắng trợn bóc lột, cướp ruộng đất của nhân dân Thêm vào đó triều đại nhà Minh liên tục mở rộng các cuộc chiến tranh xâm lược như ở Tây Tạng, Tân Cương, Đài Loan, Việt Nam Chiến tranh kéo dài, sưu cao thuế nặng, phu phen tạp dịch Vì những lý do trên khiến cho đời sống nhân dân vô cùng khổ cực phải chống giặc trong lẫn giặc ngoài, mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt hơn
Về văn hóa, chính sách văn hóa “ngục văn tự” đã làm cho nhiều nhà văn, nhà thơ bị kìm hãm Làm sách không đúng ý nhà vua hoặc làm một câu thơ bị nghi kị
sẽ chém đầu, nếu chết rồi sẽ bị đào mộ, nhiều nhà thơ đã bị tàn sát vì chính sách
này Triều đại nhà Minh đề cao lý học Tống Nho như quốc giáo “Lý học là
Khổng giáo do Trình – Chu (Trình Hạo, Chu Hy người đời Tống) giải thích lại, nhằm phục vụ cho việc củng cố chế độ phong kiến tập quyền Về nhân sinh quan
nó đề cao tư tưởng mệnh trời, khuyên can con người an phận thủ thường; về luân
lý xã hội nó đề cao Tam cương – Ngũ thường khuyên con người phải khép mình vào khuôn khép, về cách sống nó đề cao chủ tĩnh, tránh suy nghĩ bậy bạ… Nó là một thứ lý luận “đào tạo nhân dân đào tạo nô lệ hiệu quả” [29, tr.39] Ngoài ra,
trong thời kỳ này Nho giáo có sự thay đổi, nó nghiêng về phía có lợi cho chính quyền, đi ngược với quyền sống của nhân dân Các quân vương thời kỳ phong kiến dùng Nho giáo để bảo vệ chính quyền, bảo vệ ngai vàng và duy trì sự phân
Trang 22biệt giai cấp trong xã hội Lễ giáo của Nho giáo đã đề ra những quy tắc, chuẩn mực khắt khe để gò ép thần dân vào khuôn khổ, thủ tiêu tinh thần phản kháng của nhân dân để củng cố trật tự phong kiến Những người có chức có quyền, thuộc giai cấp thống trị dựa vào những giáo lý của Nho giáo đề ra chính sách hà khắc, lạm dụng chức quyền bóp nghẹt dân chủ, dùng nhiều mánh khóe nhũng nhiễu, bóc lột,
áp bức dân chúng Không những thế bọn thống trị còn đề cao “bát cổ văn” dùng để thi cử, nó quy định thí sinh không được bàn về thời sự, quy định số câu số chữ không được tự ý thêm hay bớt Làm bài theo quy định trên làm triệt tiêu tự do tư tưởng, sáng tạo, thoát ly ra khỏi thực tế, mất ý thức đấu tranh, đào tạo ra “mọt sách” chứ không phải nhân tài thực sự Nhà Minh chỉ tập trung nhân tài để tra cứu sách cổ, tập trung làm từ điển, tự điển, sáng tạo ra sách mới mà quên mất thời cuộc
Trong bối cảnh đời Minh, về mặt buôn bán kinh tế ngày càng được mở rộng
ra nước khác ngày càng hưng thịnh Nhân dân ở thành thị dần chuyển sang thành thợ thủ công, buôn bán hàng hóa, các xưởng thủ công nhỏ ngày xuất hiện càng nhiều Công thương nghiệp nội địa phát triển, thúc đẩy quá trình trao đổi buôn bán với nước ngoài, đô thị ngày càng phát triển Nông dân nhập cư chuyển đến thành phố sống trở nên đông đúc hơn Thêm vào đó sự xâm nhập của các nước tư bản phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Hà Lan,… ngày một nhiều, tầng lớp thị dân càng trở nên đông đảo với nhiều đô thị sầm uất Tầng lớp thị dân nhờ đó có điều kiện giao lưu tiếp xúc với văn hóa bên ngoài, ngày càng được mở mang kiến thức Sự xâm nhập của khoa học phương Tây vào lúc này đã làm xuất hiện mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa nó gây ảnh hưởng nhất định đến kinh tế
và văn hóa Trung Quốc thời kỳ bấy giờ Bối cảnh xã hội lúc này là điều kiện nảy sinh ra ý thức mới chống lại ý thức phong kiến truyền thống, xuất hiện những tư tưởng về tự do, dân chủ bình đẳng, tinh thần vượt khó khăn hướng tới thực hiện lí tưởng xuất hiện trong tầng lớp thị dân này Thêm vào đó, do điều kiện sống mới tầng lớp này dần dần hình thành nhu cầu đời sống tinh thần riêng Khi sống trong bối cảnh nhà Minh bị kìm hãm bởi các giáo lý, lý luận của Khổng giáo, “ngục văn tự”,… càng khiến cảm thấy bức bối, cột chặt, nô dịch và tù túng Vì thế nhu cầu được giải phóng tinh thần, thoát li ra khỏi sự cai trị dưới thời Minh của tầng lớp này vô cùng mạnh mẽ Đầu tiên bắt đầu bằng giảng sách, trong lúc giảng sách
Trang 23người giảng đôi khi đề cập đến vấn đề triều chính và phê phán một số đại thần đương chức, đây là nền tảng cho tiểu thuyết chương hồi sau này phát triển Thể loại tiểu thuyết và hý khúc trong đời Minh hầu như là sản phẩm của tầng lớp thị dân
Tóm lại, bối cảnh xã hội về kinh tế, chính trị, văn hóa đời Minh đã ảnh hưởng rất lớn đến nền văn học Trung Quốc lúc bấy giờ Đời Minh là vương triều chuyên chế tập quyền trung ương, cực đoan, kìm hãm sự phát triển của xã hội tự
do, bình đẳng Đời sống tinh thần nhân dân bức bối cùng cực Chính trị lụn bại, giai cấp thống trị phong kiến thối nát, truy lạc, nhân dân túng quẫn đói ăn, đói mặc, đói tinh thần Văn học phát triển trong thời kỳ này hầu như đều bị chịu ảnh
hưởng và Tây du ký cũng nằm trong số đó Ngô Thừa Ân là một trong những nạn nhân trong số nhân dân đã dùng tác phẩm Tây du ký phản ánh vương triều đời
Minh và thể hiện những tư tưởng mới của nhân dân Trung Hoa thời kỳ bấy giờ
1.2.2 Tình hình phát triển tiểu thuyết trường thiên đời Minh
Lịch sử triều đại nhà Minh kéo dài khoảng 280 năm Trong thời kỳ này cuộc sống xã hội nhiều biến đổi, khắc nghiệt, khiến cho nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân bùng nổ Đời sống kinh nghiệm thực tế của các nhà văn cũng được trau dồi thêm Cùng với đó, nhờ các cuộc khởi nghĩa này nhà văn thấy được bản chất đen tối và mâu thuẫn của xã hội phong kiến Là thời kỳ mà lịch sử thế giới đang có sự thay đổi cơ bản Văn hóa và tri thức văn học châu Âu truyền bá vào Trung Quốc,
nó đánh thẳng vào nền thống trị và hình thái ý thức của chế độ phong kiến thời trung cổ Văn học đời Minh cùng với đời Thanh sau này là giai đoạn cuối cùng
của quá trình phát triển văn học cổ điển Trung Quốc “Đặc điểm nổi bật nhất của
giai đoạn văn học này sự suy tàn của dòng văn học chính thống và sự nổi dậy mạnh mẽ của văn học dân chủ và tiến bộ mang những yêu cầu và khát vọng của nhân dân và tầng lớp thị dân” [29, tr.42] Trong thời kỳ này nền văn học cũng bắt
đầu thay đổi Thơ, từ, tản văn truyền thống dần suy tàn, thay vào đó hý khúc và tiểu thuyết phát triển mạnh mẽ
Kế thừa kinh nghiệm hình thức giảng sử thuyết thoại dân gian có từ đời Tống – Nguyên Giảng sử thuyết thoại dân gian thường là kể một câu chuyện rất dài nên cần phân chia ra kể nhiều lần, mỗi đêm kể một đoạn, một phần và mỗi lần như vậy
Trang 24được xem là một hồi sau này Mặt khác, các câu chuyện trong giảng sử đều là những tình tiết sự việc, không chú ý nhiều đến miêu tả tâm lí, hình tượng nhân vật nhưng nó là tiền đề để hình thành nên đặc điểm tiểu thuyết trường thiên đời Minh Hơn nữa, trước hiện thực xã hội rộng lớn, sôi động có nhiều khía cạnh cần khai thác, cần được phản ánh của đời Minh với một tác phẩm có dung lượng nhỏ khó
có thể bao quát được một cách phong phú Vì thế để bao quát mọi mặt của hiện thực cần tìm đến thể loại có sức chứa lớn hơn, do đó tiểu thuyết trường thiên đã đáp ứng được nhu cầu này Bối cảnh xã hội đời Minh đã tạo điểu kiện cho tiểu
thuyết cổ điển phát triển như trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc - Từ văn học
đời Nguyên đến văn học Hiện đại có nhắc tới: “Muốn hiểu sự phồn vinh của tiểu thuyết Minh – Thanh, ta không thể không xem xét tới thời đại Minh – Thanh, mảnh đất đã nuôi dưỡng trào lưu tự sự này đơm hoa kết trái”[29, tr.34] Dưới tình hình
xã hội đương thời, để đáp ứng nhu cầu giải trí và thị hiếu thẩm mỹ của tầng lớp thị dân ngày càng được đổi mới, tăng cao, các ngành in ấn, xuất bản cũng bắt đầu phát triển Các tiểu thuyết với nội dung, đề tài phong phú được ra đời lưu hành ngày càng nhiều đáp ứng nhu cầu của đông đảo thị dân
Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc hay tiểu thuyết chương hồi đều chỉ cùng một đối tượng tiểu thuyết thông tục đương thời Sự phân chia các hồi là đặc trưng của thể loại này Mỗi hồi bao giờ cũng có tiêu đề để tóm lược nội dung được trình bày trong hồi Cuối mỗi hồi thường kết thúc bằng các câu như: “Muốn biết sự việc thế nào, hồi sau phân giải” hay “Muốn biết sự việc thế nào, hồi sau sẽ rõ” Hồi tiếp theo sẽ kể tiếp câu chuyện Đặc điểm của tiểu thuyết chương hồi là có tính khúc chiết, không giới thiệu dài dòng, phân đoạn rõ ràng, dễ hiểu, thiên về miêu tả hành động, tâm lí và tính cách nhân vật Đây là thời kỳ mà tiểu thuyết phát triển nhanh
về số lượng và đề tài gắn với cuộc sống thực tại rộng rãi Đời Minh là thời kỳ cho
ra đời nhiều cuốn tiểu thuyết mà cho đến bây giờ vẫn được lưu truyền và được độc
giả vô cùng yêu thích Các cuốn tiểu thuyết phải kể đến như: Tam quốc diễn
nghĩa, Thủy hử, Tây du ký, Kim bình Mai,… Theo Nguyễn Hiến Lê trong Đại cương văn học sử Trung Quốc tiểu thuyết đời Minh chia làm 4 loại:
- Tiểu thuyết anh hùng
- Tiểu thuyết lịch sử
Trang 25- Tiểu thuyết thần quái
- Tiểu thuyết diễm tình
Trong đó Tây du ký là tác phẩm đứng đầu của loại tiểu thuyết thần quái/thần
ma
Tiểu thuyết đời Minh do các văn nhân tổng hợp từ các thoại bản được lưu truyền trong dân gian qua nhiều thời đại khác nhau, kết hợp với việc thêm bớt chỉnh sửa sáng tạo làm cho nhân vật được sinh động hơn và nội dung hoàn thiện hơn Nội dung tiểu thuyết phản ánh rõ nét tư tưởng của nhân dân, chính vì thế được nhân dân đón nhận yêu thích Tiểu thuyết trường thiên đã phát triển đạt đến đỉnh cao của văn học về nội dung lẫn hình thức, đóng góp quan trọng trong kho tàng văn học của nhân loại
Nhìn chung, vào đời Minh, tiểu thuyết chương hồi đã có vị thế rất cao, nhiều cuốn tiểu thuyết ra đời có tiếng tăm, được lưu hành rộng rãi không chỉ trong biên giới Trung Quốc mà còn truyền xa đến nhiều quốc gia trong khu vực Đông Á Tiểu thuyết đời Minh được phát triển đầy đủ, tư tưởng cao sâu, kỹ thuật điêu luyện, tưởng tượng phong phú, mô tả khéo léo những chi tiết ly kỳ hấp dẫn, thu hút độc giả tìm đến và yêu thích
1.2.3 Ngô Thừa Ân và tiểu thuyết Tây du ký
1.2.3.1 Tác giả Ngô Thừa Ân
Ngô Thừa Ân (1500? – 1582?) tự Nhữ Trung, hiệu Xạ Dương Sơn Nhân, người phủ Hoài An, huyện Sơn Dương, tỉnh Giang Tô Cha ông là Ngô Nhuệ ham đọc sách, hiểu biết về Lục kinh và luận thuyết của Bách gia chư tử Ngô Thừa Ân
là người có tài văn chương ngay từ khi còn nhỏ Người đời sau có kể lại rằng ông
là người thông minh, lanh lợi, đọc nhiều sách, đặt bút xuống là thành thơ văn Tuy nhiên vì ông sinh trong thời kỳ mà nhân tài dùng “bát cổ văn” để thi cử cho nên con đường công danh của ông quá lận đận, mãi đến tuổi trung niên ông mới đỗ Tuế cống sinh Về sau vì mẹ già, nhà neo, ông đi làm huyện thừa ở Trường Hưng nhưng vài năm sau đó không chịu được sự luồn cúi nên từ quan về Kim Lăng (Nam Kinh) sinh sống và sáng tác thơ văn Tác phẩm của ông còn lưu truyền bao
Trang 26gồm Tây du ký và Vũ Đình Chí (người đời sau biên tập lại thành tập Xạ Dương
tiên sinh tồn cảo gồm 4 tập)
Ngô Thừa Ân là con người cuồng phóng, bướng bỉnh, là người không bao giờ chịu khom lưng gập đầu trước đồng tiền và các thế lực, luồn cúi trước bọn quan lại, tính cách lại hài hước, thích đọc và sưu tầm các câu chuyện dân gian thần
ma quỷ quái Trong bài nói đầu của Vũ Đình Chí ông có viết nội dung đại khái là
từ ngày còn nhỏ ông rất thích những câu chuyện kỳ quái, khi còn học ở nhà trường, thường kiếm những truyện dã sử ở chợ búa, nhưng sợ cha mẹ mắng, tìm chỗ kín mà đọc Đến lúc lớn lại càng thích đọc, thích nghe Sách tuy mang tên chí quái, nhưng tác giả không chỉ nói chuyện ma quỷ đời Minh, mà qua đó đề cập đến chuyện con người đương thời, ngày nay con người lại đổi thay nhiều, cho nên nó
có tác dụng khuyên răn giáo dục rất lớn
Sáng tác thơ văn khi ở tuổi già, chính vì thế mà vốn kinh nghiệm tích lũy, trải nghiệm của chính bản thân giúp ích trong văn ông viết văn, chín chắn trong tư tưởng Sinh ra trong nhà có tiệm buôn bán nhỏ cho nên ông được tiếp xúc với nhiều tầng lớp trong xã hội Trải qua nhiều lần thi cử, ông trải nghiệm được nhiều
về các khoa thi, tiếp xúc với quan trường Thêm vào đó, nghèo túng, ông lận đận nhiều nơi, ở Nam Kinh bôn ba tìm việc, ăn nhờ ở đậu, cuộc sống chật vật, đó cũng
là tình hình chung của người dân trong xã hội phong kiến Trung Quốc Năm sáu mươi mốt tuổi ông đi làm quan được khoảng vài năm thì ông từ chức, trong khoảng thời gian ngắn ông tiếp xúc, chứng kiến và trực tiếp trải nghiệm bất công trong bộ máy quan lại, bọn quan thượng cấp lấn hiếp, cá lớn nuốt cá bé Ông vốn
là người có niềm đam mê yêu thích với những chuyện thần thoại và truyền thuyết dân gian, các câu chuyện yêu ma quỷ quái lại thêm lận đận trong thi cử, bất bình với giai cấp thống trị Ngô Thừa Ân lại càng có thêm động lực, điều kiện để hoàn
thiện sáng tác Có lẽ vì vậy mà Trần Xuân Đề có nói Ngô Thừa Ân “tuy mang
nặng ý thức phong kiến, nhưng vết rạn nứt giữa ông và giai cấp thống trị khá sâu sắc Ông ước ao dùng con dao trừ tà dẹp sạch mọi bất công trong xã hội, nhưng ông không đủ sức Do đó ông gửi gấm hi vọng nhiệt tình vào hành động phản kháng của những nhân vật chính diện trong Tây du ký” [15, tr.93] Tuy nhiên, Ngô
Thừa Ân là một sĩ phu trong thời đại phong kiến cho nên ít nhiều tư tưởng ông vẫn
Trang 27bị ảnh hưởng, ràng buộc, tầm nhìn của ông bị giới hạn nhất định khi phản ánh và
lý giải nhiều vấn đề chính trị - xã hội đương thời
Nói cách khác, vốn là một “nạn nhân” trong xã hội phong kiến dưới đời Minh nên Ngô Thừa Ân có được vốn sống cũng như những trải nghiệm vô cùng quý báu Điều đó cộng với tài năng nghệ thuật thiên phú, Ngô Thừa Ân đã để lại một sự nghiệp văn chương vô cùng tác tuyệt, đặc biệt là tiểu thuyết trường thiên
Tây du ký
1.2.3.2 Tiểu thuyết Tây du ký
Tây du ký ra đời vào khoảng giữa năm Gia Tĩnh (1522 – 1567), Vạn Lịch
(1567 – 1619) đời Minh Tác phẩm có quá trình hình thành dài lâu, tiêu biểu cho
sự ra đời của hầu hết tiểu thuyết ra đời vào đời Minh Tác phẩm vốn tựa vào câu chuyện có thật về nhà sư Trần Huyền Trang quyết chí sang Ấn Độ nghiên cứu Phật pháp, sau đó về truyền tụng giáo lý nhà Phật cho nhân dân Trung Hoa Từ đó nhân dân Trung Quốc đã không ngừng thần thánh hóa sự thực vĩ đại đó và lưu truyền trong suốt thời Đường, Ngũ đại tập quốc, Tống, Nguyên đến đầu đời Minh Câu chuyện thỉnh kinh cơ bản hình thành vào cuối đời Nguyên Cuối cùng được Ngô Thừa Ân với sự thông minh và tài năng của mình đã tổng hợp các truyền thuyết trước đó về kỳ tích Trần Huyền Trang, sắp xếp, tổ chức lại thành bộ tiểu
thuyết trường thiên Tây du ký gồm một trăm hồi hoàn chỉnh vào năm Gia Tĩnh –
Vạn Lịch Đặc điểm của hai thời kỳ này là tư tưởng xã hội sôi nổi, khai phóng, sức
mạnh của tầng lớp thị dân tăng cao vì thế Tây du ký là một bộ tiểu thuyết có tính
giải trí thông tục đáp ứng nhu cầu thị hiếu của thị dân, là một sự tương quan về
mặt bối cảnh quan trọng Tây du ký là tác phẩm nghệ thuật văn học kiệt xuất, đúng như Vương Hồng Sển nhận xét: “Tây du ký diễn nghĩa là một bộ truyện thần
thoại; vừa tánh cách hài hước trào lộng vừa bao hàm những triết lý thâm cao”
[32, tr.242] và được quần chúng nhân dân trong mấy trăm năm yêu mến đón nhận
Từ sau khi ra đời, Tây du ký được đón nhận yêu thích, lưu truyền Trong quá
trình ghi chép, truyền khẩu trong dân gian có thể tự ý thêm bớt, người này thêm một ít, người kia bớt chút ít Tùy vào tài năng của mỗi người mà thêm bớt tạo ra nhiều bản khác nhau nhưng đồng thời làm hoàn thiện hơn cho tác phẩm Tác phẩm
đã tạo được sự chú ý trong công chúng và cho đến ngày nay vẫn còn được lưu
Trang 28truyền rộng rãi Tây du ký còn được chuyển thể thành phim, một số khác có lấy
những chuyện nhỏ trong tác phẩm để chuyển thể thành nhiều sản phẩm khác nhau đều được khán giả đón nhận
Nội dung Tây du ký là câu chuyện bắt đầu từ một con khỉ được sinh ra từ
hòn đá tiên ở núi Hoa Quả, sau đó có tên là Tôn Ngộ Không cùng với Bát Giới, Sa
Tăng phò Đường Tăng sang Tây thiên lấy kinh Tây du ký của Ngô Thừa Ân gồm
một trăm hồi và phân ra thành ba phần: Đại náo thiên cung, Đường Tăng ra đời, và Câu chuyện lấy kinh Cụ thể như sau:
- Phần 1: (Từ hồi 1 đến hồi 7) kể về lai lịch, con đường học đạo và ba lần đại náo thiên cung của Tôn Ngộ Không
Xuất thân từ hòn đá tiên ở núi Hoa Quả, nước Ngạo Lai, châu Đông Thắng Thần, sau đó nhờ sự thông minh nhanh nhẹn, dũng cảm mà tìm ra được động Thủy Liêm và được đàn khỉ ở đây tôn là Mỹ Hầu Vương Vì sợ luân hồi nên Tôn Ngộ Không từ giã đàn khỉ sang núi Linh Đài Phương Thốn, châu Tây Ngưu Hạ, tại đây được Tu Bồ Đề Tổ Sư nhận làm đồ đệ dạy bảy mươi hai phép thần thông biến hóa, tên Tôn Ngộ Không cũng là do Tổ Sư đặt Rồi quay về Hoa Quả Sơn, diệt trừ Hỗn Thế Ma Vương, luyện tập cho đàn khỉ bày binh bố trận, chế tạo vũ khí Sau đó, xuống Long Cung tìm vũ khí, Tôn Ngộ Không thu được cây gậy Như Ý nặng ba nghìn sáu trăm cân, có thể biến hóa tùy ý và một bộ quần áo xứng tầm Không hiểu vì sao Diêm Vương bắt nhầm, Tôn Ngộ Không xuống Âm Ty đại náo, xóa sổ sinh tử của bầy khỉ Diêm Vương và Long Vương kiện tới Ngọc Hoàng Ngọc Hoàng chiêu an Tôn Ngộ Không lần đầu phong cho chức Bật Mã Ôn, sau đó Ngộ Không phát hiện bị lừa phỉnh nên quay về núi Hoa Quả, tự xưng là Tề Thiên Đại Thánh Ngọc Hoàng sai chư thánh chư thần cùng nhiều thiên binh thiên tướng thu phục nhưng đều thất bại, bèn chiêu an lần hai và phong chức danh cho Tôn Ngộ Không - chức quan hữu danh không bổng lộc để giữ chân Phát hiện ra sự thực, Ngộ Không phá hỏng tiệc bàn đào, tiếp tục đại náo thiên cung Sau nhiều lần chiến đấu mới bị mười vạn thiên binh thiên tướng, Nhị Lang thần, Thái Thượng lão quân, Bồ Tát,… bắt về quy tội Sau đó Tôn Ngộ Không đập lò Bát Quái thoát ra ngoài đại náo thiên cung lần ba khiến cho cõi Trời một phen hỗn loạn Cuối cùng
Trang 29Ngọc Hoàng cầu viện tới Như Lai, thế là Tôn Ngộ Không bị Như Lai thu phục, chịu cảnh giam cầm dưới núi Ngũ Hành năm trăm năm
- Phần 2: (từ hồi 8 đến hồi 12) kể về lai lịch của Huyền Trang và nguyên nhân đi lấy kinh (Trần Huyền Trang là con trai của Trần Quang Nhị và Ân Kiều) Năm Trinh Quán thứ mười ba Trần Quang Nhị thi đậu Trạng nguyên phụng chỉ nhà vua cùng mẹ và vợ đến Giang Châu nhậm chức tri phủ Trên đường đi vì
mẹ già sức yếu nên để trọ lại ở Vạn Hoa Điếm Quang Nhị cùng vợ đến đò Hồng Giang thì bị Lưu Hồng hãm hại vứt xác xuống sông và được Long Vương ở sông cứu giúp, còn vợ bị Lưu Hồng chiếm đoạt Về sau Ân Kiều sinh ra đứa bé và thả xuống sông Đứa bé này lưu lạc đến chùa Kim Sơn quy y cửa Phật lấy pháp danh
là Huyền Trang Lớn lên Trần Huyền Trang quay về tìm cha mẹ, cả nhà đoàn tụ nhưng ông vẫn tiếp tục đi tu Cùng năm đó Kinh Hà Long Vương làm trái lệnh trời nhờ Đường Thái Tôn cứu nhưng cuối cùng cũng bị Ngụy Trưng chém đầu trong mộng Đường Thái Tôn bị Kinh Hà Long Vương kiện dưới Âm Ty nhưng được tra xét quay về trần thế Vua ân xá thiên hạ, tìm người lấy kinh Trần Huyền Trang vâng chỉ sang Tây Thiên
- Phần 3: (từ hồi 13 đến hết) kể về thầy trò Đường Tăng vượt qua tám mươi mốt kiếp nạn sang Tây Thiên bái Phật cầu kinh, thỉnh kinh thành công thắng lợi trở về
Đường Tăng vâng chỉ vua Đường Thái Tôn và Bồ Tát cùng hai đồ đệ lên đường đi lấy kinh Tới núi Song Soa Đường Tăng gặp nạn, hai đồ đệ chết Tới núi Lưỡng Sơn cứu giúp Tôn Ngộ Không vốn bị Như Lai thu phục năm trăm năm trước Được Đường Tăng giúp thoát khỏi núi Ngũ Hành, Tôn Ngộ Không bái Đường Tăng làm sư phụ Tuy nhiên trên đường đi lại xảy bất hòa, Tôn Ngộ Không muốn tiêu diệt cái ác, yêu ma quỷ quái nhưng bị Đường Tăng hiểu lầm, la mắng Tức giận Tôn Ngộ Không bỏ đi xuống Long Cung gặp Long Vương, lại nghe được câu chuyện ba lần dâng giày của Trương Lương nên quay về Tuy nhiên vì
để Tôn Ngộ Không nghe lời, Bồ Tát cùng Đường Tăng lừa gắn chiếc vành vàng lên đầu Tôn Ngộ Không Từ đó Tôn Ngộ Không không dám trái ý, một lòng phò
tá Đường Tăng Tới khe Ưng Sầu, núi Rắn Cuốn con trai Ngao Thuận Long Vương Tam Thái Tử hóa ngựa bạch, đến Cao Lão Trang thu nhận Bát Giới, sông
Trang 30Lưu Sa thu nhận Sa Tăng Từ đó bốn thầy trọ cùng ngựa bạch lên đường sang Tây Vượt qua tổng cộng tám mươi mốt kiếp nạn, phải đánh thắng thu phục nhiều loại yêu ma quỷ quái như yêu Gấu tinh (hồi 16,17); Hồng Hài Nhi (hồi 40, 41, 42); Linh Cảm đại vương (hồi 47,48,49); … Trong quá trình đó nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, lục đục nội bộ như trong lần đánh Bạch cốt tinh, hay lần tiêu diệt di hầu đóng giả Tôn Ngộ Không, tuy nhiên sau khi giải quyết được mâu thuẫn, thầy trò tiếp tục lên đường Với sự dẫn dắt của Tôn Ngộ Không, ý chí của Đường Tăng, sự giúp đỡ của Trư Bát Giới và Sa Tăng, đoàn thỉnh kinh vượt qua mọi nguy hiểm, trèo đèo lội suối rõng rã suốt mười bốn năm, đi qua nhiều nơi, nhiều nước khác nhau mới tới Tây Thiên thỉnh được kinh Phật mang về truyền bá cho nhân dân Trung Hoa thời bấy giờ Cuối cùng, thầy trò Đường Tăng cỡi mây trở về cõi Phật
tu thành chính quả
Tiểu kết chương 1
Qua chương một, ta có thể thấy được bi kịch là vấn đề quan trọng trong văn học nghệ thuật, lồng ghép yếu tố bi kịch vào trong tác phẩm thể hiện ước muốn tìm tới những lí tưởng cao đẹp, tư tưởng và tinh thần đấu tranh vì những lí tưởng
đó của con người Vấn đề về bối cảnh lịch sử xã hội đời Minh với chế độ phong kiến khắc nghiệt cùng với những ảnh hưởng của Nho giáo, các chính sách văn hóa, sự phát triển của tầng lớp thị dân đã ảnh hưởng ít nhiều đến nội dung, tư tưởng trong tác phẩm Trong thời kỳ này tiểu thuyết trường thiên phát triển mạnh
mẽ phong phú về nội dung và thể loại trong đó có tiểu thuyết Tây du ký của Ngô
Thừa Ân Ngô Thừa Ân đã dành thời gian cuối đời của mình để phát triển sáng tạo
lại Tây du ký với một trăm hồi và gửi gắm tư tưởng của mình vào trong đó Tây du
ký là bộ tiểu thuyết đồ sộ gồm nhiều nhân vật với cốt truyện sáng tạo, hấp dẫn
Những nội dung trên giúp ta có cái nhìn ban đầu về yếu tố bi kịch trong tác phẩm
văn học và cụ thể là ở tiểu thuyết Tây du ký
Ở chương tiếp theo người viết đi vào sâu trình bày những bi kịch trên con đường đi tìm tự do, xã hội lí tưởng của Tôn Ngộ Không
Trang 31CHƯƠNG 2
YẾU TỐ BI KỊCH TRONG TÂY DU KÝ
NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 2.1 Bi kịch trong cuộc chiến vì tự do
2.1.1 Bi kịch trong khát vọng thoát khỏi ràng buộc thần quyền
Trong xã hội phong kiến Trung Hoa, thế lực thần quyền, đã bao trùm đời sống văn hóa, sinh hoạt của nhân dân Vào đời Minh tôn giáo phát triển, lại ảnh hưởng của tín ngưỡng nguyên thủy, cho nên đời sống tâm linh của các tầng lớp nhân dân cũng bị ảnh hưởng Ở thời kỳ khoa học chưa phát triển để giải thích các hiện tượng, nhân dân tin rằng có thần linh, ma quỷ và đang chi phối đến cuộc sống của họ Cho rằng Trời, Phật là đấng cao nhất, con người phải thờ phụng và tin theo Xuất hiện “văn hóa thần quyền”, “quân quyền thần thụ” nghĩa là quyền vua
là do thần ban cho Thiên tử đại diện cho chư thần thực hiện thiên ý ở nhân gian, thần linh và con người luôn có sợi dây kết nối vô hình, con người chịu sự chi phối của thần Lúc sống chịu cai quản của trời, của vua, khi chết đi lại chịu cai quản của Diêm Vương Vì thế mà nhiều chùa chiền, đền miếu trong thời kỳ này được xây dựng và xuất hiện nhiều hơn Đời sống tâm kinh bao trùm trong cả công ăn việc làm trong cuộc sống thường ngày của nhân dân Sợ thần, sợ ma quỷ, làm sai lại sợ Thần, Phật trách phạt, làm việc gì cũng phải hỏi ý kiến thần linh Vua mê Đạo giáo mà bỏ quên việc triều chính, khiến nhân dân càng thêm khó khăn Hơn nữa những giáo lý của Phật giáo, Đạo giáo đã ảnh hưởng rất nhiều đến quyền tự do của người dân Như vậy, nhân dân đời Minh vừa chịu áp lực của cường quyền vừa bị chịu chi phối, sợ hãi của thần quyền, đời sống nhân dân ngột ngạt, tù túng và mong ước thoát li khỏi những ràng buộc vô hình ấy
Tây du ký là tiểu thuyết trường thiên vĩ đại, thành công nhất của Ngô Thừa
Ân trong tác phẩm được thể hiện tập trung ở hình tượng nhân vật Tôn Ngộ Không Tôn Ngộ Không trở thành nhân vật anh hùng lý tưởng với nhiều màu sắc thần kỳ tỏa sáng trong nền văn học Trung Quốc Khác với câu chuyện lưu truyền trong
dân gian trước đó, ở Tây du ký của Ngô Thừa Ân nhân vật Đường Tăng từ nhân
vật chính đẩy xuống thành nhân vật phụ và nhường chỗ cho Tôn Ngộ Không được thể hiện Tôn Ngộ Không trở thành nhân vật quan trọng dẫn đến sự thành bại trong
Trang 32toàn câu chuyện Nếu Tam quốc diễn nghĩa là nơi để thể hiện sự mưu trí của Gia Cát Lượng thì Tây du ký là chốn trổ tài của Tôn Ngộ Không “Tôn Ngộ Không là
nhân vật trung tâm của tác phẩm, là một hình tượng được miêu tả tập trung, thể hiện cao độ tư tưởng chủ đề và nội dung thẩm mỹ sâu sắc của tác phẩm” [29,
tr.77] Đại diện cho anh hùng lý tưởng đứng lên đấu tranh xóa bỏ các ràng buộc, tư tưởng lạc hậu, các thế lực của xã hội, hướng đến cuộc sống hạnh phúc, an nhiên tự tại Trước hết Tôn Ngộ Không đã chống lại, cố thoát khỏi các thế lực thần quyền nhưng thất bại
Đến với Tây du ký, thế giới thần, phật được hiện lên xuyên suốt toàn bộ tác
phẩm Các thế lực thần quyền được các nhân vật khác nhau trong tác phẩm đại
diện “Trong Tây du ký, Ngô Thừa Ân sáng tạo thế giới trời hết mực hoàn chỉnh
Ở đây có cả Thần, Đạo, Phật Nắm uy quyền tối cao của thế giới thần là Ngọc Hoàng Thượng Đế, kẻ thống trị sinh linh vạn vật của bốn đại châu Vị tổ của đạo
là Thái Thượng Lão Quân, tuy không ai thống trị ai, nhưng giữ uy quyền tuyệt đối Phật cũng là kẻ giúp việc đắc lực cho bọn thống trị thần quyền Thế giới này hoàn toàn đối lập với Tôn Ngộ Không Bằng sức lực và trí tuệ, Ngộ Không đột nhập vào thế giới đó” [15, tr.105] Nếu như Ngọc Hoàng là đấng tối cao nhất, cai trị mọi
sinh linh trên đời và được sinh linh vạn vật tôn thờ, kính trọng thì Như Lai được giới thiệu là người nhìn thấu mọi việc trong vòng trời, biết được các giống vật và hiểu rộng các chủng loại trong vòng trời đất Ngọc Hoàng Thượng Đế và Như Lai được xây dựng là hai nhân vật đứng đầu trời đất, thần phật với sức mạnh vô biên khó ai vượt qua được Trong tác phẩm, nhất là trong bảy hồi đầu xuất hiện xung đột trực tiếp giữa Tôn Ngộ Không và các thế lực Thần, Đạo, Phật Tôn Ngộ Không với bảy mươi hai phép thần thông chỉ một mình đã ba lần chống chọi với thế giới trời Tôn Ngộ Không không thừa nhận bất cứ uy quyền nào ở vương quốc thần Cầm quyết rẽ nước xuống Long Cung gặp Long Vương – người đứng đầu cõi nước, Long Vương cũng phải kính nể vài phần Long Vương cùng con rồng, chúa rồng, lính tôm tướng cá ra đón, đem binh khí là khối sắt dùng để dò sông bể nông sâu mà dâng cho Tôn Ngộ Không Nếu dám không dâng ra e rằng Long Cung một ngày khó yên Xuống cõi U Minh, Tôn Ngộ Không vẫn tỏ thái độ ngang tàng khiến cho Diêm Vương khiếp sợ Mười vua Diêm Vương để mặc cho Tôn Ngộ Không sai khiến đem sổ sách cho Ngộ Không xóa hết sổ sinh tử của loài khỉ
Trang 33mà không dám làm gì Đối với những người dân bình thường Long Vương và mười vua điện Sâm La là những vị thần linh trông coi việc mưa gió, cai trị cõi nước, quyết định sinh tử của con người thì đối với Tôn Ngộ Không những vị ấy lại
để cho Tôn sai khiến Khi lên cõi trời Tôn Ngộ Không vẫn giữ thái độ ngang tàng
ấy, không bị sự nghiêm trang của Nam Thiên Môn làm sợ hãi Ngộ Không vẫn giữ nguyên thái độ của mình Uy quyền của Ngọc Hoàng, chư thần chư thánh chẳng làm Tôn Ngộ Không nao núng, thay vào đó Ngộ Không tỏ thái độ khinh miệt Những nhân vật được nhân dân coi là thần linh, thần thánh, tôn trọng, lập miếu thờ phụng nhưng với Tôn Ngộ Không đó cũng là những nhân vật bình thường không chút quyền uy Gọi Thái Bạch Kim Tinh là cái lão gian trá, gọi Na Tra Thái Tử là thằng ranh con, không kính trọng Ngọc Hoàng, biến hóa thành cả Chân Quân vào miếu đóng giả Lưới trời bủa vây khắp nơi nhưng Ngộ Không vẫn một mình quyết chí đánh phá, gây rối loạn nhiều nơi trong thế giới thần tiên từ Long Cung, Âm Ty cho đến Bảo Điện của Ngọc Hoàng Với ba lần đại náo thiên cung Ngộ Không đã trực tiếp tuyên chiến trên tinh thần không sợ trời, không sợ đất với bao nhiêu thế lực thần linh Ở cái nơi được coi là thần thánh bất khả xâm phạm, trước sự xung kích hùng mạnh của vương quốc Thần, Tôn Ngộ Không can đảm đấu tranh thể hiện khí phách của người anh hùng Việc đại náo thiên cung của Tôn Ngộ Không khiến cho Ngọc Hoàng phải sai Cự Linh Thần, Lý Thiên Vương, Na Tra cùng với mười vạn thiên binh thiên tướng vây bắt Mười vạn thiên binh thiên tướng giăng thiên la địa võng cũng không bắt nổi Tôn Ngộ Không Ngọc Hoàng phải nhờ tới Nhị Lang Thần cùng với sự giúp đỡ của Lão Quân, chư tiên chư thánh khác mới bắt Ngộ Không về chịu tội Không phải đấu riêng lẻ một đối một mà các thế lực này đã cùng nhau liên kết lại để bắt Tôn Ngộ Không Trong hồi thứ sáu, Nhị Lang Thần sau khi được Bồ Tát tiến cử đã theo lệnh của Ngọc Hoàng đuổi bắt Tôn Ngộ Không Không phải là một đối một với Nhị Lang Thần mà các nhân vật khác đều góp một phần công sức để chống lại một mình Ngộ Không Lúc Tôn Ngộ Không tìm cách thoát thân sau lần biến hóa thành miếu bị phát hiện, Nhị Lang lại được
Lý Thiên Vương và Na Tra giơ kính chiếu yêu giúp sức tìm kiếm Nhờ đó mà Nhị Lang Chân Quân mới phát hiện Ngộ Không đã chạy về Quán Giang, đóng giả làm chính mình Tiếp đó Tôn Ngộ Không trong khi đang khổ chiến với bảy vị thánh, bị vây giữa vòng vây siết chặt, Nhị Lang Chân Quân được Lão Quân và Bồ Tát giúp
Trang 34sức khiến cho Tôn Ngộ Không khó có đường lui Lão Quân có cái vòng thần kỳ là kim cương rèn luyện, biến hóa phi thường, nước lửa không làm gì được gọi là vòng Kim Cương Tôn Ngộ Không bị cái vòng ấy ném vào đầu đứng không vững
bị ngã, nhân đó mà chó của Nhị Lang cắn lê trên đất, thế là Tôn Ngộ Không bị bắt Như vậy trong trận chiến này Tôn Ngộ Không phải cùng lúc chống chọi với cả một liên thánh thần hùng hậu Mỗi thần một nhiệm vụ, bày binh bố trận hướng tới mục đích là bắt cho được Tôn Ngộ Không Trong trận đánh này nếu như một trận chiến bình thường thì mỗi nhân vật thần thánh giữ một vị trí khác nhau trong một thế trận chặt chẽ Người đứng đầu trận chiến là Ngọc Hoàng, Bồ Tát như quân sư hiến kế sách, Nhị Lang Chân Quân như tướng quân xông pha trận mạc, Lão Quân
là lực lượng giúp đỡ tiếp viện, còn các chư thánh chư thần khác như ba quân tướng sĩ mà đối thủ thì chỉ có mỗi một Tôn Ngộ Không Thực là một trận đánh không hề cân bằng!
Cả ba thế lực Thần, Phật, Đạo bằng mọi cách, mọi binh khí và những bảo bối thần diệu, cùng nhau ra sức bắt Tôn Ngộ Không và thế là Tôn Ngộ Không đã không thể chiến thắng và bị bắt về trị tội Tôn Ngộ Không bị các thế lực thần linh trị tội, đem ra chém đầu lột xác nhưng vẫn không chết, lửa đốt không cháy, roi sét đánh cũng chẳng mảy may, bỏ vào lò Bát Quái đun bảy bảy bốn chín ngày nhưng Tôn vẫn đánh vỡ lò bay ra ngoài đại náo thiên cung Náo động cả ba cõi trời, biển, đất, gây mất rối loạn cả thiên đình vậy mà cuối cùng vẫn không thắng nổi Như Lai Tôn Ngộ Không có nhiều tài nghệ, bản lĩnh, thông minh, nhanh nhẹn có bảy mươi hai phép biến hóa, lại biết phép cân đẩu vân nên Tôn Ngộ Không cho rằng Như Lai cũng như bao người khác, Tôn Ngộ Không có thể đánh bại Tiếc thay, kết quả không như Tôn nghĩ dù có phép cân đẩu vân nhún một cái bay được mười vạn tám nghìn dặm vẫn không bay ra khỏi bàn tay của Như Lai, kết cục bị đè dưới núi Ngũ Hành năm trăm năm Tôn Ngộ Không cuối cùng cũng không vượt qua được bàn tay của Phật – bàn tay tượng trưng cho các thế lực thần quyền Là nhân vật được xây dựng với ý chí tự do triệt để của nhân tính, không sợ trời, không sợ
đất, “sung sướng ở nơi phúc đất tiên, động cổ, châu thần; không chịu sự cai quản
của phượng hoàng và cũng không bị sự câu thúc của ma chúa nhân gian, tự do tự tại” [5, tr.26], “từ thuở bé đã nên trang hảo hán, không biết lễ ai hết, cả đến Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân cũng chỉ có một lời chào mà thôi” [5,
Trang 35tr.239]; “Ở Hoa Quả Sơn, động Thủy Liêm, nổi tiếng anh hùng, thu phục yêu ma
bảy mươi hai động, thủ hạ có bốn vạn bảy nghìn tiểu yêu quái, đầu đội mũ tử kim quan, mình mặc bào đỏ, lưng thắt đai lam điền, chân dận giày bộ vân, tay cầm gậy Như Ý, thực là đáng mặt” [5, tr 411] mà giờ đây lại phải chịu cảnh bị đè dưới
núi Ngũ Hành mất tự do năm trăm năm, sau được Đường Tăng cứu thoát ra vẫn bị lừa và chịu khống chế bởi cái vành vàng trên đầu Đúng như Trần Xuân Đề có nói:
“Trong Tây du ký, Tôn Ngộ Không được sáng tạo thành hình tượng nhân vật anh
hùng thần thoại hoàn chỉnh; nhưng tiếc thay, người anh hùng có bảy mươi hai phép thần thông biến hóa, làm những việc phi thường ở thế giới trời, đất, làm rối loạn tôn ti trật tự của vương quốc thần lại không thể nào nhảy khỏi bàn tay của Đức Phật tổ Như Lai, không thể nào thoát khỏi cái mũ đội đầu của Quan Thế Âm
Bồ Tát” [15, tr.188] Và dù Ngộ Không có tài trí, có bảy mươi hai phép thần thông
cũng phải khuất phục bởi vòng vành vàng trên đầu mà Bồ Tát và Đường Tăng cùng nhau lừa phỉnh gắn lên Sau mỗi lần trừng trị cái ác, Tôn thường bị Đường Tăng cho rằng lòng không hướng thiện, Tôn Ngộ Không tức giận bỏ đi Để Tôn Ngộ Không khuất phục, nghe lời, Đường Tăng cùng với Bồ Tát đã bày mưu lừa Tôn Ngộ Không Bồ Tát đưa cho Đường Tăng cái mũ dát vàng để lừa đội lên đầu cho Tôn Ngộ Không
“Hành Giả nói:
- Áo mũ này sư phụ mang ở Đông Độ sang đấy ư?
Tam tạng thuận miệng trả lời:
- Áo mũ ấy ta vẫn đội, vẫn mặc lúc còn nhỏ Đội mũ ấy, không phải dạy kinh, cũng biết tụng kinh; mặc áo ấy, không cần giảng lễ, cũng biết làm lễ
Trang 36khống chế bằng câu thần chú khiến cho Tôn Ngộ Không đau đầu dữ dội Đau đến nỗi làm cho Tôn phải ôm đầu, tay bắt chuồn chuồn, mình chồng lộn ngược, tía tai
đỏ mặt, mắt húp mình tê Không chịu nổi được cái đau ấy Tôn Ngộ Không bị khuất phục và hứa không hỗn láo và nghe theo lời Đường Tăng
Cái vành vàng cùng với Khẩn cô kinh đã buộc Tôn Ngộ Không phải nghe theo vâng lời Đường Tăng (đây cũng chính là công cụ khống chế Tôn Ngộ Không của Đường Tăng) Mỗi lần muốn Tôn làm việc gì thì cả Bồ Tát và Đường Tăng đều dọa sẽ đọc Khẩn cô kinh Và cứ y mỗi lần như vậy Tôn đều nói “đừng đọc, đừng đọc” rồi cam tâm chấp nhận hành sự Như trong việc tìm lại áo cà sa đã bị trộm (hồi thứ mười sáu); bị hiểu lầm trong khi đánh diệt Bạch Cốt Tinh (hồi hai mươi bảy); cứu sống ở nhân gian nhà vua nước Ô Kê (hồi ba mươi tám, ba mươi chín), Bồ Tát muốn lấy lại nhạc vàng (hồi bay mươi mốt)… Vì muốn Tôn Ngộ Không quy thuận một lòng theo Đường Tăng mà lừa phỉnh đeo chiếc vành vàng trên đầu, trói buộc Tôn Ngộ Không Ngộ Không dù có sáng suốt, mưu trí đi chăng nữa thì cũng phải chịu phục dưới bàn tay vạn dặm của Như Lai, cái vòng Kim Cô của Bồ Tát Rõ ràng Ngộ Không đã thất bại trước thần thánh, phật pháp vô biên Cho đến cuối tác phẩm khi đã đặt chân được tới đất Phật thỉnh được chân kinh,
Tôn Ngộ Không có nói: “Sư phụ ạ, bây giờ con đã thành Phật, cũng được như
thầy, mà cứ phải đội mãi cái kim cô à? Thầy có còn phải đọc Khẩn Cô Kinh để thắt buộc con nữa đâu? Xin thầy đọc bài chú mở đai bỏ nó xuống, đập vỡ tan tành, không để cho Bồ Tát lại mang đi bắt hại kẻ khác”[7, tr.497] Lời lẽ lúc này
chứng tỏ Tôn Ngộ Không vẫn còn mang sự tức giận khi bị vòng vành vàng Kim
Cô khống chế trong suốt thời gian dài Tôn Ngộ Không làm rối loạn thế giới trời chính là tượng trưng cho con người xuất thân từ tầng lớp thấp hành động với khát khao cháy bỏng được cởi bỏ những ràng buộc vô lý, cũng là nơi phản chiếu các cuộc đấu tranh bền bỉ của người nông dân xưa chống lại các thế lực vô nhân để được sống tự do hạnh phúc Nhưng tiếc thay đây lại là cuộc đấu tranh không cân sức
Như vậy, với tinh thần đấu tranh giành tự do, thoát khỏi ràng buộc của các thế lực Thần, Phật, Tôn Ngộ Không đã có cuộc chiến vô cùng dũng cảm, ngoan cường Tôn Ngộ Không không công nhận bất cứ uy quyền nào trong thế giới Thần
ấy Thế lực tôn giáo gồm Đạo giáo, Phật giáo trở thành “trợ thủ” đắc lực cho luân
Trang 37lí Nho giáo khiến cho quyền tự do của nhân dân bị xâm phạm Là hiện thân của người anh hùng phản nghịch triệt Tôn Ngộ Không đã tự mình, thân cô thế cô đấu tranh với toàn bộ thế giới thần linh tối cao Qua đó, độc giả cảm nhận được khát vọng được giải phóng khỏi những ràng buộc, tìm thấy đời sống tự do của nhân dân cũng như của tác giả Ngô Thừa Ân Tiếc thay ước mơ ấy, hành động đấu tranh ấy
đã không thể thành công!
2.1.2 Bi kịch trong khát vọng thoát khỏi ràng buộc của thiên mệnh
Thiên mệnh là một khái niệm quan trọng trong văn hóa truyền thống Trung Quốc Cổ nhân cho rằng sinh tử có mệnh, phú quý tại trời, số mệnh là do trời định cho nên con người chỉ có thể vâng theo thiên mệnh Chính Trời là đấng chí tôn an bài vạn vật sống - chết, thành – bại, sướng – khổ,… Cái gì cũng có số mệnh, một hớp nước uống, một miếng ăn đều do định trước, vạn vật hình như bị một thứ lực lượng vô hình thống trị Theo như thuyết thiên mệnh của Khổng Tử thì cho rằng
sự chuyển biến trời, đất, sự sống chết của các sinh linh vạn vật trong tự nhiên từ con người đến loài vật đều là do Ngọc Hoàng nắm toàn quyền sinh sát Đó là mệnh trời nên được gọi là thiên mệnh Ngọc Hoàng muốn ai trong trời đất chết thì người đó trước sau không thể sống được, ngược lại nếu muốn ai đó sống thì kẻ đó
dù trải bao kiếp nạn mười phần hiểm nguy cũng không thể nào chết, thương người nào thì nhất định ban phúc cho người đó Con người phải biết mệnh trời mà tuân theo, không nên chống cãi, phải kính nể trời, không nên than vãn, trách cứ mà an nhiên theo mệnh trời Con người trong xã hội phong kiến phần lớn tin vào và nghe theo sự sắp đặt của số mệnh Đạo giáo có cho rằng mọi hoạt động của con người đều không cưỡng lại đạo trời – quy luật biến hóa của tự nhiên, từ đó sinh ra tư tưởng an phận, lánh đời Đây là những tư tưởng lạc hậu, ngàn năm kiềm tỏa tinh thần, chi phối hoạt động sống của con người Bên cạnh số quần chúng nhân dân trong thời kỳ phong kiến bị ràng buộc bởi định mệnh, số kiếp do trời định thì vẫn
có một số bộ phận những người có tư tưởng tiến bộ sáng suốt muốn thoát khỏi, xóa bỏ tư tưởng lạc hậu ấy
Thiên mệnh là quan niệm cổ xưa mà các tầng lớp nhân dân tin tưởng và chấp
nhận nó Trong Tây du ký, đại diện cho số người này là nhân vật Đường Tăng, nhân vật được hiện lên là con người tin vào số mệnh ở trời “Số mệnh ta ở trời,
Trang 38nếu đáng bị yêu tinh kia ăn thịt thì nó nấu nó nướng tránh cũng không khỏi” [5,
tr.409] Trên đường đi sang Tây lấy kinh, là con nhà Phật mỗi lần gặp tai nạn, bị yêu quái bắt đi, lâm vào hoàn cảnh khốn cùng Đường Tăng lại phó thác tính mệnh cho Trời, hoặc chỉ dám mong rằng sẽ có Thần, Phật tới cứu độ Tuy nhiên có lẽ Đường Tăng có chờ tới già mong sự cứu giúp chắc cũng chẳng vị thần linh, tiên gia phật tử nào quan tâm Cuối cùng người cứu giúp Đường Tăng cũng chỉ là Tôn Ngộ Không Chính Tôn Ngộ Không vất vả ngược xuôi tìm kiếm, cứu thoát cho thầy mình Tính mệnh ta tự ta cứu lấy, nếu chờ vào Thần, Phật, tin vào mệnh trời thì e rằng Đường Tăng sẽ không thể sang Tây lấy kinh được mà đã bị làm thức ăn cho yêu tinh nào từ lâu rồi
Bằng sức sáng tạo và sự mô tả cụ thể, Tây du ký đã phản ánh toàn bộ tinh
thần đấu tranh phản kháng đối lập với tư tưởng thiên mệnh Điều này được thể hiện rõ nhất ở nhân vật Tôn Ngộ Không Có thể nói, trên một số phương diện, Tôn
chính là “phản thân” của nhân vật Đường Tăng “Trong Tây du ký tác giả xây
dựng hình tượng nhân vật Tôn Ngộ Không, con người dồi dào tinh thần phản kháng nhằm phủ nhận quan niệm lỗi thời rằng con người hãy phục tùng sự chi phối của số mệnh, con người hãy gắng gượng chịu sự đau khổ của kiếp này, tưởng vọng vào cuộc sống của kiếp sau” [15, tr.183] Tôn Ngộ Không luôn không bằng
lòng với thực tại, luôn muốn bằng sức lực của chính mình vượt qua thiên mệnh sắp đặt sẵn để làm chủ cuộc sống của mình
Sinh mệnh của Tôn Ngộ Không bắt đầu từ việc sinh ra từ đá tiên không có tiền kiếp cho nên không bị một thế lực nào ràng buộc, vận mệnh do tự mình nắm lấy Mới sinh ra có đủ tay chân mặt mũi, nhờ vào khí thiêng sông núi, cảm thụ tinh hoa của trời đất liền học cào, học chạy, vái lạy bốn phương, có hai mắt hào quang sáng rực làm kinh động đến cả Ngọc Hoàng Bằng sự thông minh và nhanh nhẹn của mình, Tôn từ là con khỉ đá vô danh lại tìm ra và làm chủ động Thủy Liêm, tự
do tự tại, lúc nào cũng cảm thấy vui vẻ hạnh phúc
“Xuân hái trăm hoa về ăn uống
Hè tìm mọi quả để sinh nhai
Thu đào rau củ qua ngày tháng
Trang 39Đông bới hoàng tinh đợi tết xài” [5, tr 26]
Sống ở nơi:
“Gió có nơi ẩn náu
Mưa được chốn trú thân
Sương tuyết không lo sợ
Sấm sét chẳng ngại ngần
Mây đẹp thường soi sáng
Điềm lành vẫn xoay vần
Tùng trúc quanh năm tốt
Hoa lạ ngày cùng xuân” [ 5, tr.25]
Ngày nào Tôn Ngộ Không cũng chơi vui thích ở động Thủy Liêm, quây quần bên đàn khỉ cùng nhau một lòng, không đi theo loài muông chim chạy, độc lập xưng vương thì sướng gì bằng Cũng không bị chúa nhân gian nào cai quản, tự do
tự tại, làm chủ chính mình Như vậy, từ khi sinh ra Tôn Ngộ Không đã có tinh thần tự do, làm chủ bản thân, không thích sự ràng buộc sắp định sẵn Mặc dù thế nhưng Tôn Ngộ Không nghĩ sợ tuổi già sức yếu phải chịu sự cai trị của Diêm Vương, không tránh khỏi luân hồi Trong buổi tiệc với đàn khỉ Ngộ Không vẫn tỏ thái độ buồn rầu, vì nếu một mai chết đi lại chẳng phải phí cả phúc trời, uổng công sinh ở thế gian Số phận của Tôn Ngộ Không lại phải chịu cai quản bởi Diêm Vương, tới ngày đã định phải chết sao có thể dám không chết, vẫn phải chịu cảnh
bị quỷ sứ bắt đi như những sinh linh khác Lúc này ý chí vượt lên cái chết, xóa bỏ
sự sắp đặt số phận đã bắt đầu xuất hiện trong suy nghĩ của Tôn Ngộ Không Được nghe các đấng Phật, Tiên, Thần Thánh có cái phép trường sinh bất lão Ngộ Không
đã quyết tâm dù bốn bể chân trời quyết tìm được các đấng ấy để học phép vượt qua khỏi vòng luân hồi, thọ ngang với trời đất, quyết định số mạng Học được cái phép ấy rồi Tôn Ngộ Không chẳng cần phải sợ cái lão Diêm Vương mo me, chầu chực bắt đi nữa Đây cũng là thời điểm Tôn Ngộ Không bắt đầu đấu tranh chống lại định mệnh mà trời sắp đặt sẵn Ước mơ thoát khỏi vòng luân hồi, vượt qua cả
sự quy định của thiên mệnh trong Tây du ký không chỉ có ở Tôn Ngộ Không mà ở
Trang 40nhiều nhân vật khác đều ý thức muốn có được Mấy con yêu tinh muốn bắt Đường Tăng để ăn thịt không chỉ là tai nạn do Phật bày ra để thử thách hành trình lấy kinh của bốn thầy trò (cho đủ 81 kiếp nạn) mà còn là vì chúng muốn được trường sinh bất lão Đường Tăng nguyên là đệ tử của Như Lai đã tu được mười kiếp, chỉ cần được ăn một miếng thịt của vị ấy thì đã giúp trường sinh mà chẳng cần phải tu luyện Cũng vì thế mà đi tới đâu thầy trò Đường Tăng lại gặp nạn tới đó, mấy con yêu tinh tìm mọi cách, mọi mưu kế để có thể nếm được mùi vị thịt Đường Tăng khiến cho bản thân có thể trường sinh bất tử mà chẳng phải qua mấy kiếp tu thân Lại có mấy ông vua ở dân gian cũng muốn sống lâu, sợ mất giang sơn mà lại làm hại dân chúng Khát vọng muốn vượt qua cái chết, vượt qua định mệnh được Ngô Thừa Ân lồng ghép, xuất hiện xuyên suốt mạch truyện tác phẩm
Quay lại với nhân vật Tôn Ngộ Không,“tính cách Tôn Ngộ Không đã mang sắc thái tự do tự tại, khác với mọi ràng buộc của bọn thống trị phong kiến với con người trong hiện thực Không bằng lòng với thực tại, dựa vào sức lực bản thân để duy trì phát triển cuộc sống” [29, tr.78] Vì muốn vượt qua luân hồi Tôn Ngộ
Không đã quyết chí tìm sư học đạo, học cái phép sống mãi không già tránh nạn Diêm Vương Tôn Ngộ Không từ khi sinh ra đã mang một ước vọng được tự do, được trường sinh bất lão Nhưng đâu phải muốn học là học được cái phép ấy, hành trình Tôn Ngộ Không tìm đường học đạo cũng không hề dễ dàng Một mình một
bè đi qua châu Nam Thiên Bộ ròng rã suốt tám năm không thu hoạch được gì mới sang châu Tây Ngưu Hạ Hỏi tin tức, tìm kiếm, dò la khắp nơi mới tìm được vị Tổ
Sư, bắt đầu chăm chỉ khổ luyện Trong suốt quá trình khổ luyện, Tôn Ngộ Không phải học những việc nhỏ nhất như quét nhà, quét sân, thưa gửi, đi lại, vun hoa, sửa cây, kiếm củi, gánh nước cho tới học bảy hai phép thần thông, phép cân đẩu vân Hết tám năm tìm kiếm thầy truyền đạo, bảy năm học lễ nghi, năm năm học phép thần thông, tổng cộng hết hai mươi năm mới có thể luyện thành tài Trong khoảng thời gian dài lâu ấy, chỉ một mình tìm kiếm, trôi dạt, cố gắng tu tâm học đạo đã thể hiện lòng quyết tâm đấu tranh của nhân vật Trở thành một Tôn Ngộ Không có thể
tự do đi lại cõi đất, trời; không sợ lửa đốt, nước ngâm, có thể tắm trong dầu sôi, không ăn không ngủ cũng không biết mệt, tự chủ con người mình Tôn Ngộ Không vô cùng chăm chỉ luyện tập, cố gắng phấn đấu, vượt qua bản thân, thuyết phục được Tổ Sư truyền cho cái phép trường sinh Sự vất vả, khó khăn vẫn không