CÁC KIỂU CÂU (CÂU THEO CẤU TRÚC VÀ THEO MỤC ĐÍCH NÓI) I. CÂU THEO CẤU TRÚC 5 1. Câu đơn, câu ghép 5 1.1. Câu đơn 5 1.2. Câu ghép 6 2. Các kiểu câu còn lại 7 2.1. Câu đặc biệt 7 2.2. Câu rút gọn 7 2.3. Câu phức 8 2.4. Câu chủ động, bị động 9 II. CÂU THEO MỤC ĐÍCH NÓI 9 1. Câu trần thuật 9 2. Câu nghi vấn 12 3. Câu cầu khiến 14 4. Câu cảm thán 15 5. Câu phủ định 16 III. KẾT LUẬN 16
Trang 1MỤC LỤC
I CÂU THEO CẤU TRÚC···5
1 Câu đơn, câu ghép···5
1.1 Câu đơn···5
1.2 Câu ghép···6
2 Các kiểu câu còn lại···7
2.1 Câu đặc biệt···7
2.2 Câu rút gọn···7
2.3 Câu phức···8
2.4 Câu chủ động, bị động···9
II CÂU THEO MỤC ĐÍCH NÓI···9
1 Câu trần thuật···9
2 Câu nghi vấn···12
3 Câu cầu khiến···14
4 Câu cảm thán···15
5 Câu phủ định···16
III KẾT LUẬN···16
Trang 2CÁC KIỂU CÂU (CÂU THEO CẤU TRÚC VÀ THEO MỤC ĐÍCH NÓI)
BẢNG TỔNG HỢP
Câu theo cấu
trúc
Câu theo
mục đích nói
I CÂU THEO CẤU TRÚC
1 Câu đơn, câu ghép
1.1 Câu đơn
- Ở SGK Tiếng Việt lớp 5 (tập 2), tuần 19 (trang 8) – Câu ghép Các em HS được học
và làm bài tập về câu đơn, cách đặt câu đơn sau đó áp dụng các kiến thức về câu đơn để học về câu ghép.
Trang 3- Đến chương trình Ngữ Văn 7 (Tập 2) HS sẽ được học thêm và làm bài tập về câu rút gọn và câu đặc biệt Kiểu câu này cũng có dạng câu đơn nhưng lại không có đầy đủ bộ phận như câu đơn, ý nghĩa và cách sử dụng cũng khác nhau
1.2 Câu ghép
- Ở SGK Tiếng Việt lớp 5 (tập 2), tuần 19 (trang 8) ở phần Luyện từ và câu các em HS được học về câu ghép Trước khi đi vào định nghĩa câu ghép là gì, các em HS sẽ đọc 1 đoạn văn ngắn và trả lời các câu hỏi về cách xác định chủ - vị, sắp xếp câu đơn, ghép
và tách mỗi cụm chủ - vị thành một câu đơn Sau khi làm bài tập xong các em sẽ được
rút ra định nghĩa câu ghép “là do nhiều vế câu ghép lại” và có phần Luyện tập ở cuối
bài để ôn tập lại về câu ghép Đến phần Luyện từ và câu tiết tiếp theo các em sẽ được học cách nối các vế câu ghép Cấu trúc cũng giống như phần học về câu ghép Mở đầu các em sẽ đọc 1 đoạn văn ngắn và trả lời câu hỏi, sau đó rút ra định nghĩa/ nội dung, cuối cùng là phần Luyện tập củng cố Ngoài ra ở phần Luyện tập của bài Cách nối các
vế câu ghép HS còn được ôn tập cả câu trần thuật
- Ở SGK Ngữ Văn lớp 8 (tập 1), tuần 11 (trang 111) các em HS được học về đặc điểm của câu ghép, cách nối các vế câu ghép và ở cuối bài học sẽ có phần Luyện tập để củng
cố lại kiến thức Ở chương trình Ngữ Văn 8 thì các em không nhắc lại định nghĩa về câu ghép nữa mà sẽ đi vào phần bài tập thực hành về đặc điểm, cách nối các vế câu ghép luôn Sau mỗi phần sẽ có phần ghi nhớ để các em nắm chắc kiến thức về từng phần học Đến tuần 12 (trang 123) các em sẽ được học tiết 2 về câu ghép Ở tiết học này các em sẽ được học về Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu và Luyện tập Những bài tập ở tiết học này có độ khó cao hơn so với tiết thứ 1, ngoài các bài tập liên quan đến câu ghép cũng sẽ có một số những câu hỏi liên quan đến câu đơn
Trang 42 Các kiểu câu còn lại
2.1 Câu đặc biệt
Câu đặc biệt được giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn lớp 7 (Tập 2, tr27) sau khi HS
đã được tiếp cận với những kiến thức về các thành phần của câu, câu đơn HS sẽ được làm bài tập về “Thế nào là câu đặc biệt?” sau đó rút ra định nghĩa về câu đặc biệt
Sau khi được học về định nghĩa, các em HS sẽ được học về tác dụng của câu đặc biệt Và cấu trúc ở phần này cũng như phần học về định nghĩa Các em HS sẽ làm bài tập sau đó rút ra định nghĩa/ nội dung bài học ở phần ghi nhớ Cuối bài học sẽ có phần Luyện tập để các em ôn tập và củng cố lại kiến thức về câu đặc biệt Phần Luyện tập bao gồm thực hành viết đoạn văn có sử dụng câu đặc biệt Ngoài câu đặc biệt ra còn có nhận biết về cả
Trang 52.2 Câu rút gọn
HS được học câu rút gọn trong chương trình Ngữ Văn lớp 7 (Tập 2, tr15) Cũng theo như cấu trúc những bài học trước HS sẽ được làm bài tập “Thế nào là rút gọn câu?” sau đó sẽ rút ra định nghĩa/nội dung ở phần ghi nhớ, cách rút gọn câu Cũng giống như câu đặc biệt, phần câu rút gọn có cung cấp thêm một số bài luyện tập giúp học sinh nắm bắt được nội dung kiến thức chung của bài học
2.3 Câu phức
Trang 6HS sẽ được học về câu phức (câu mở rộng) trong bài “Dùng cụm chủ - vị để mở rộng câu” ở chương trình Ngữ Văn lớp 7 (Tập 2, tr68) Bài học được chia thành 3 phần: Thế nào là dùng cụm CV để mở rộng câu?, Các trường hợp dùng cụm CV để mở rộng câu
và Luyện tập Cấu trúc cũng giống như những bài học về câu khác Các em sẽ làm bài tập sau đó rút ra định nghĩa/ nội dung bài học ở phần ghi nhớ Cuối bài sẽ có phần Luyện tập cho các em ôn tập và củng cố lại kiến thức
2.4 Câu bị động/ Câu chủ động:
Đối với câu chủ động và câu bị động HS được học ở chương trình Ngữ Văn lớp 7 (Tập 2) Đối với câu chủ động và câu bị động các em HS sẽ được học 2 tiết : Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (tr57) và Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (Tiếp theo) (tr 64) Hai tiết học này sẽ được học cách nhau, khoảng cách giữa tiết 1 và tiết 2
sẽ có 2 tiết học khác Ở tiết học thứ 1, HS được học về định nghĩa của câu chủ động và câu bị động, mục đích của việc chuyển đổi câu chủ động và câu bị động Cấu trúc vẫn
là làm bài tập sau đó rút ra định nghĩa/ nội dung ở phần ghi nhớ Cuối bài học sẽ là phần Luyện tập giúp các em ôn tập và củng cố kiến thức
Ở tiết tiếp theo, đây là phần ôn tập nên sẽ không nhắc lại khái niệm mà chủ yếu sẽ là làm các bài tập thực hành Các em HS học 2 phần chính là cách chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động và Luyện tập
Trang 7II CÂU THEO MỤC ĐÍCH NÓI
1, Câu trần thuật
Câu trần thuật được giảng dạy chi tiết đi sâu vào khái niệm, đặc trưng, chức năng trong chương trình Tiếng Việt 4 (Tập 2) và Ngữ văn 8 (Tập 2) Trong đó, các kiến thức được giảng dạy trong Tiếng Việt 4 đã làm nền tảng kiến thức cho các bài tập cơ bản ban đầu, Ngữ văn 8 sẽ củng cố và mở rộng kiến thức giúp HS hoàn thành các bài tập phức tạp hơn. Tuy nhiên từ chương trình Tiếng Việt lớp 2 (Tập 2) các em đã bắt đầu làm quen với các thành phần, yếu tố, các kiểu câu của câu trần thuật Ở phần Luyện từ và câu và Tập làm văn các em đã được làm các dạng bài tập liên quan đến trần thuật như kể lại một câu chuyện, tả cảnh vật,… Trong chương trình tiếng Việt 3 (Tập 2), HS sẽ được ôn tập lại các kiến thức về dấu chấm đã được học ở lớp 2 Chương trình lớp 3 có thêm phần tập làm văn giúp các em rèn luyện thêm cách đặt các kiểu câu của câu trần thuật và ghép chúng lại với nhau cho hoàn chỉnh Học sinh sẽ thực hiện đặt câu bằng cách trả lời các câu hỏi
có sẵn hoặc sẽ thực hiện viết các câu, đoạn văn miêu tả, kể về đối tượng mà đề bài yêu cầu. Tuy nhiên đến lớp 4, HS mới chính thức tiếp nhận các kiến thức về khái niệm câu trần thuật
Trang 8Trong chương trình Tiếng Việt 4 (Tập 2), HS sẽ được kết hợp những kiến thức về dấu câu, các kiểu câu trần thuật và các bài tập đặt câu theo yêu cầu từ chương trình lớp 2 và lớp 3 để có thể đúc kết lại thành kiến thức về câu trần thuật HS bước đầu tiếp cận với mục đích sử dụng câu và đặc trưng hình thức của câu trần thuật (câu kể)
Ở chương trình Tiếng Việt lớp 5 (Tập 2) và Ngữ Văn lớp 6 (Tập 2), HS sẽ ôn lại các kiến thức về câu trần thuật và các kiểu câu trần thuật thông qua các bài tập ở mức độ cao hơn
so với các lớp trước
Đến Ngữ Văn lớp 7 (Tập 2) tuy không có các bài tập riêng về câu trần thuật nhưng phần
Ôn tập Tiếng Việt có đề cập đến và cũng có bài tập để củng cố kiến thức về câu trần thuật
Trang 9Ở chương trình Ngữ văn 8 (Tập 2) HS được củng cố thêm kiến thức về đặc trưng hình
thức và chức năng của câu trần thuật
2, Câu nghi vấn
Các em HS sẽ được bắt đầu tiếp xúc với câu nghi vấn trong chương trình Tiếng Việt lớp
2, thông qua các bài tập để các em đặt câu và trả lời theo hướng dẫn HS sẽ được hướng
Trang 10dẫn và thực hành dựa trên các bức tranh được đưa ra, thực hiện các bài tập điền dấu câu vào ô trống, …
Ở chương trình Tiếng Việt lớp 3 (Tập 2), các em sẽ được ôn tập lại các kiến thức về dấu hỏi, các kiểu câu hỏi đã học ở lớp 2 Học sinh sẽ thực hiện các bài điền dấu câu, đặt câu hỏi theo kiểu câu đã được học để củng cố kiến thức.
Chương trình Tiếng Việt lớp 4 (Tập 2), đưa đến cho học sinh các kiến thức cơ bản về câu nghi vấn như là khái niệm, đối tượng hướng đến và các dấu hiệu cơ bản như dấu hỏi ở cuối câu, các từ nghi vấn.
Trang 11Trong chương trình từ lớp 5 và lớp 7, kiến thức về câu nghi vấn được đưa vào thông qua các dạng bài tập, ôn tập kiến thức tổng hợp giúp học sinh củng cố và nâng cao kiến thức.
Câu nghi vấn được giảng dạy mở rộng về nội dung kiến thức trong chương trình Ngữ văn
8 Câu nghi vấn được chia làm 2 bài, bài thứ nhất là để nhắc lại các kiến thức cũ mà học sinh đã được học từ lớp 4 và được ôn tập thông qua các bài tập.
Trang 12Bài thứ 2 về câu nghi vấn sẽ đưa đến học sinh các kiến thức mở rộng hơn về chức năng của câu nghi vấn Đây là kiến thức mới được mở rộng hơn so với những kiến thức về câu nghi vấn mà học sinh được dạy trong các lớp trước.
Kiến thức được giảng daỵ trong Ngữ văn 8 là kiến thức toàn diện về câu nghi vấn Từ đây, học sinh sẽ áp dụng kiến thức vào các bài thực hành làm văn, các bài tập có độ khó hơn khi lên học ở các lớp trên Chương trình giảng dạy từ lớp 9 – 12 hầu như không nhắc lại kiến thức cơ bản về câu nghi vấn, mà chỉ đưa ra các bài tập để học sinh
có thể tự củng cố và nâng cao kiến thức đã được học
3, Câu cầu khiến
Ở chương trình Tiếng Việt lớp 4 (Tập 2), câu câu khiến có 2 tiết học nằm trong tuần 27
Ở tiết thứ nhất (tr87) các em HS sẽ học về khái niệm câu cầu khiến và làm bài tập Luyện tập Ở tiết thứ 2 (tr93) các em HS sẽ học về Cách đặt câu cầu khiến và làm các bài tập Luyện tập để ôn luyện và củng cố kiến thức
Trang 13lớp 8 các em học về đặc điểm hình thức và chức năng của câu cầu khiến Ở phần ghi nhớ nhắc lại kiến thức về câu câu khiến và ở cuối bài sẽ có các bài tập ở phần Luyện tập để ôn luyện Mức độ bài tập ở chương trình Ngữ văn 8 cũng đòi hỏi mức độ khó hơn
4, Câu cảm thán
Câu cảm thán được học ở chương trình Tiếng Việt lớp 4 (Tập 2 tr120) Cấu trúc ở bài học về câu cảm thán cũng giống như những kiểu câu khác Phần I các em sẽ làm bài tập
và rút ra định nghĩa về câu cảm thán ở phần ghi nhớ (phần II) và phần III sẽ là phần Luyện tập Ở bài học này, bài tập luyện tập ngoài câu cảm thán các em HS còn được ôn tập lại về câu kể
Ở chương trình lớp 4 các em HS đã được học về khái niệm câu cảm thán nên đến chương trình Ngữ Văn 8, ở tập 2 (tr43) các em HS sẽ được học về đặc điểm hình thức và chức năng của câu cảm thán Tuy nhiên ở phần ghi nhớ vẫn nhắc lại khái niệm về câu cảm thán
Trang 145, Câu phủ định
Ở chương trình Ngữ Văn 8 (Tập 2, tr52) các em HS được học về Câu phủ định Bài học được chia thành 2 phần: Phần đầu sẽ học về đặc điểm hình thức và chức năng của câu phủ định sau đó rút ra khái niệm về câu phủ định ở phần ghi nhớ Phần II sẽ là bài tập Luyện tập về câu phủ định Đối với câu phủ định các em HS chỉ học 1 tiết ở chương trình Ngữ Văn 8 (Tập 2) và không nhắc lại ở những lớp học sau
III KẾT LUẬN:
Từ lâu, Việt Nam đã nhấn mạnh vai trò công cụ của tiếng Việt trong nhiều văn bản từ tiểu học đến THPT Nhưng trên thực tế dường như tiếng Việt chỉ được chú ý tập trung cao độ ở cấp tiểu học Bậc THCS cũng có được học đến nhưng khá ít và hầu như là nhắc lại kiến thức và làm bài tập củng cố Đối với bậc tiểu học, nếu không biết đọc, biết viết thì không thể học lên cao hơn Do vậy việc coi tiếng Việt như là công cụ, phương tiện là tất yếu, không có gì phải bàn cãi, tranh luận Tuy nhiên vấn đề chỉ xuất hiện khi HS càng học lên cao (THCS và THPT, ĐH-CĐ…) thì dường như tiếng Việt không được coi trọng
Trang 15không cần học tiếng Việt nữa cũng được, có nhiều người còn cho rằng vốn tiếng Việt của mình đã rất tốt Cũng bởi vậy mà tình trạng cứ nhìn vào mặt chữ trên trang giấy đọc được
ra tiếng Việt là coi như đã biết đọc, đã hiểu văn bản…khá phổ biến Rất nhiều người không phân biệt được “mù chữ” và “mù văn” Trong khi cuộc sống, khoa học- công nghệ vẫn phát triển liên tục, mạnh mẽ Để giao tiếp có hiệu quả trong thế giới hiện đại, các kỹ năng ngôn ngữ cần được trang bị và rèn luyện liên tục, không ngưng nghỉ Chính cuộc sống hiện đại đòi hỏi chương trình GD nhiều nước phải bổ sung thêm các kỹ năng mới, ngoài 4 kỹ năng cơ bản (đọc, nghe, nói viết) cần có thêm nhìn/quan sát (viewing) và trình bày (presenting) Không phải chỉ có đọc-hiểu, mỗi kỹ năng đều có nhiều thang bậc, yêu cầu, trình độ rất khác nhau mà literacy chỉ là tối thiểu, là bước khởi đầu Chương trình giáo dục nói chung và môn Ngữ văn Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử không phải là không thấy, không coi trọng vấn đề ấy, nhưng các giải pháp và chiến lược dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông từ trước tới nay lại chưa phù hợp, chưa có hiệu quả cao
Từ vị trí và vai trò quan trọng của việc dạy ngôn ngữ quốc gia trong CTGDPT, nhìn lại tổng quát hiện trạng dạy học tiếng Việt không thể không thúc đẩy việc đổi mới dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông
HẾT