Contents BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN NGUYÊN LÝ PHÁT TRIỂN TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG QUẢN TRỊ BẢN THÂN NGƯỜI HỌC Họ tên người viết Trần Thị Thúy Mã học viên.
Trang 1Contents
B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGƯỜI HỌC
H ọ tên người viết: Trần Thị Thúy
Mã h ọc viên: CH310557
L ớp: K31-BT-CQ3 Khoá: 31
TI ỂU LUẬN TRIẾT HỌC
(H ệ cao học)
- Hà Nội, tháng 10/2022 -
Trang 2M ỤC LỤC
PH ẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do c ần nghiên cứu phát triển trong hoạt động quản trị bản thân 2
2 L ịch sử nghiên cứu 3
3 N ội dung nghiên cứu 4
PH ẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Qu ản trị bản thân 5
1.2 Nguyên lý, phát tri ển, nguyên lý phát triển theo quan điểm triết học Marx-Lenin 7
1.3 Nguyên lý phát tri ển trong quản trị bản thân 7
PH ẦN II VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA MARX-LENIN TRONG QU ẢN TRỊ BẢN THÂN CỦA NGƯỜI HỌC 12
2.1 V ận dụng nguyên lý phát triển trong quản trị bản thân 12
2.2 Qu ản trị bản thân hiệu quả 14
PH ẦN KẾT LUẬN 18
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 19
Trang 3PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do c ần nghiên cứu phát triển trong hoạt động quản trị bản thân
Sự phát triển của các sự vật, hiện tượng là không ngừng nghỉ Tri thức, kiến
thức của thế giới xung quanh thay đổi với tốc độ nhanh chóng Chưa kể đến việc phát triển, việc tồn tại và thích nghi với môi trường sống xung quanh cũng bắt buộc mỗi chúng ta thường xuyên trau dồi, nâng cao và cải thiện chính bản thân để phù hợp với
xã hội
Ngày nay, con người không còn là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế
nữa, khoa học kỹ thuật đã dần dần thay thế và trở thành lực lượng trực tiếp thay thế cho con người Tuy nhiên, với vị thế là lực lượng sản xuất hàng đầu của nền kinh tế, con người cũng đang dần biến đổi, thích nghi để phát triển xã hội theo mục tiêu mong
muốn Vấn đề ở chỗ, không phải mọi người đều có sự cố gắng, nỗ lực, phát triển cùng tốc độ với nhau và cùng tốc độ với sự phát triển của xã hội Để tiếp thu được
những cái mới, để bắt kịp được tốc độ phát triển ấy, mỗi cá nhân đều cần tự thúc đẩy
sự phát triển cua bản thân, thích nghi với xã hội Nếu không bắt kịp, việc đào thải
hoặc đứng bên lề sự phát triển của xã hội, của kinh tế là điều tất yếu Khi đó, cá nhân không có quyền lựa chọn, mất đi khả năng linh hoạt, sự thích nghi với sự phát triển không ngừng của xã hội là không còn nữa
Chính vì vậy, việc nghiên cứu nguyên lý phát triển của triết học Marx Lenin và
vận dụng vào bản thân một cách phù hợp sẽ định hướng tạo nền móng cho mỗi cá nhân quản trị bản thân thành công
Quản trị bản thân được hiểu là quá trình tìm hiểu bản thân, ra quyết định, định hướng để đạt được mục tiêu của bản thân trong cuộc sống Việc quản trị bản thân được xem như là trách nhiệm, nhiệm vụ cần thiết của mỗi một cá nhân Quản trị bản thân còn là hoạt động tự kiểm soát các hành vi của bản thân trong công việc, trong đời sống cá nhân, trong các mối quan hệ xã hội để đạt được những mục tiêu cá nhân phù hợp với sự phát triển xã hội xung quanh
Đối với lứa tuổi trưởng thành (từ 18 đến 40 tuổi) thì việc quản trị bản thân hiệu
quả được xem như phương thức để xác định con đường phát triển của cá nhân đó trong các giai đoạn sau này Quản trị bản thân hiệu quả cũng là một biểu hiện cụ thể cho tính độc lập, sự thành công cá nhân của mỗi người Đối với mỗi một cá nhân,
nếu quá trình định hướng, lập kế hoạch, xây dựng mục tiêu cho bản thân phù hợp thì
việc chủ động hoàn thiện các kỹ năng, thái độ, kiến thức của từng cá nhân mang nhiều tính khả thi hơn, đồng thời, mỗi cá nhân có thể nhận thức rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của chính minh trong việc kiểm soát, điều chỉnh hành vi của bản thân để việc phát triển năng lực cá nhân thực sự mang lại ý nghĩa Thông qua việc quản trị
bản thân, cá nhân mỗi người đều có thể thực hiện việc phát triển các khía cạnh nội tại bản thân ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào trong mọi hành động của bản thân
Trang 42 L ịch sử nghiên cứu
Sự phát triển của con người nói chung nhận được nhiều sự quan tâm của nhiều phân ngành khoa học như sinh học, xã hội học, nhân chủng học, giáo dục và y tế Quan điểm về sự phát triển luôn luôn phản ánh nền văn hóa xuất phát của các quan điểm ấy Triết học cũng không phải ngành khoa học ngoại lệ
Nh ững thảo luận phương Tây từ thế kỷ 17 đã xuất hiện những nền tảng tư tưởng cho các nghiên cứu về phát triển tư duy, nhận thức, ý thức của con người, đặc biệt là trong các giai đoạn phát triển theo độ tuổi John Loke [1632-1704] nổi
bật với Lý thuyết về tâm trí Tác phẩm của Loke được coi là nguồn gốc của những quan niệm hiện đại về bản sắc và cái tôi, được mô tả nổi bật trong tác phẩm của các triết gia sau này như Jean-Jacques Rousseau, David Hume và Immanuel Kant Loke cũng được coi là người khởi xướng của lý thuyết học tập hiện đại [4]
Jean-Jacques Rousseau [1712-1778] với được nhìn nhận như cha đẻ của tâm lý
học phát triển cổ điển, bênh vực những đặc điểm bẩm sinh của cá nhân mỗi người ngay khi còn nhỏ, đồng thời khẳng định, sự phát triển của mỗi cá nhân trải qua các giai đoạn khác nhau Với tác phẩm Về giáo dục (1762) của ông là một chuyên luận giáo dục về vị trí của cá nhân trong xã hội
Ngoài ra, có thể nhắc đến một số nhà nghiên cứu khác với các nỗ lực nghiên
cứu ban đầu về sự phát triern như nhà triết học người Đức – Dietric Tiedemann [1748-1803], nhà sinh học Wilhelm Preyer [1841-1897], nhà tâm lý học trẻ em Milicent Washburn Shinn [1858 –1940] Những lý luận của tâm lý học phát triển những năm cuối thế kỷ 20 cũng đóng góp không nhỏ cho những thành tựu nghiên
cứu về tâm lý cá nhân mỗi người như: Jean Piaget (1896 - 1980) với những công trình nghiên cứu về sự phát triển của trẻ em Lý thuyết về sự phát triển nhận thức và quan điểm nhận thức luận của Piaget được gọi chung là "nhận thức luận di truyền"
Những công trình của Lev Vygotsky [1896-1934] đã trở thành nền tảng lý luận
của nhiều nghiên cứu và lý thuyết về phát triển nhận thức cho đến ngày nay, đặc biệt
là lý thuyết về văn hóa xã hội Hay, học thuyết gắn bó của nhà phân tâm học John Bowlby [1907-1990] quan tâm đến sự hình thành hành vi con người thông qua các
tập tính Thông qua những nghiên cứu mang tính khoa học này, thì một vài chủ thuyết
về hình mẫu con người thành công cũng được các nhà khoa học, lý luận, chính trị gia Phương Tây hướng tới, chúng ta có thể kể đến một số thuật ngữ “đạo đức phẩm giá”, “đạo đức tính cách”, “chủ nghĩa khắc kỷ”, …
Định hướng về việc rèn luyện bản thân, rèn luyện và phát triển mỗi cá nhân, ở
Phương Đông, tư tưởng này được hình thành và đề cập sớm trong nhiều lý luận
Trong Nho giáo, chúng ta có thể thấy dược quan điểm “tu thân” đóng một vai trò đặc biệt quan trọng Mạnh Tử cũng từng nói: “Người ta luôn nói “Thiên hạ, nước, nhà” Gốc của thiên hạ là nước; gốc của nước là nhà; gốc của nhà là cá nhân”(2)
Trang 5Tuy nhiên, khái niệm phát triển cá nhân trong tư tưởng Phương Đông mang đặc tính coi trọng truyền thống, có xu hướng nhìn về lịch sử, lấy lịch sử làm mẫu, là cao trào hướng tới chứ không mở rộng hoặc đột phá về cách nhìn nhận, Con người Nho giáo
là con người của số phận, định mệnh Trong Phật giáo, việc rèn luyện, tu thân của mỗi người được khuyến khích sử dụng năm nguyên tắc đạo đức để phát huy những điều thiện, loại bỏ bất thiện trong tâm thức, cải biến hành vi và suy nghĩ con người trở nên thánh thiện, hướng đến mục đích cuối cùng là giác ngộ giải thoát Con người
sử dụng các phương pháp về giáo lý, tu tập, thiền định để quản trị bản thân
Các quan điểm của Phương Đông về sự phát triển của con người tập trung vào khía cạnh “tính người”, đa phần đều đồng nhất cho rằng tính người có thể cải biến được, giữ được cái tốt (cái thiện) Điểm khác nhau là con đường cảm hóa con người,
có thể bằng giáo hóa đạo đức hoặc luật pháp [1]
Điều này khiến cho định nghĩa về quản lý/quản trị bản thân (self-management) được hiểu theo phạm vi nhỏ hơn so với nội hàm định nghĩa của nó Về khái niệm tại
nội dung nghiên cứu này, người viết sẽ trình bày chi tiết phạm vi tiếp cận ở các nội dung về tổng quan lý thuyết
Nhìn chung, các tư tưởng về phát triển con người (mang hàm ý cá nhân) đã xuất
hiện, củng cố, và được đánh giá là đa dạng ở góc nhìn, nền tảng nhận thức có cả yếu
tố duy vật và duy tâm (thậm chí có duy vật và duy tâm đan xen) Tuy nhiên, chỉ đến
cuối thể kỷ 20, đầu thế kỷ 21, khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tác động
mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã khiến hầu hết các quốc gia trên thế giới phải điều chỉnh, định hướng lại chiến lược phát triển, hướng trọng tâm đầu tư vào khoa học - công nghệ, đồng thời có chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc
3 N ội dung nghiên cứu
Do giới hạn về nguồn thông tin, thời gian, không gian, bài luận tập trung nghiên
cứu trình bày các nội dung với các giới hạn cụ thể như sau:
V ề lý luận: Tập trung phân tích các tính chất, vai trò và ý nghĩa nguyên lý về
sự phát triển của triết học Marx-Lenin và những khái niệm cơ bản của quản trị, quản
trị bản thân
M ục đích: Hiểu rõ hơn về nguyên lý phát triển trong đời sống thực tiễn, vận
dụng vào đời sống hiện nay của cá nhân người học
Trang 6PH ẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Quản trị bản thân
Qu ản trị
Để làm rõ nội hàm cũng như phạm vi của khái niệm “quản trị” được dùng trong bài phân tích, chúng ta có 02 khái niệm được sử dụng tương đồng nhau trong bối
cảnh hiện nay là “quản lý” và “quản trị” Hai khái niệm này thường được coi là một với góc nhìn là hệ thống công việc của người lãnh đạo (người quản lý) để vận hành doanh nghiệp, phòng ban, tổ chức theo định hướng đề ra Nếu như khái niệm quản
lý thiên về chức năng thi hành, vận hành, thừa hành các hoạt động thì quản trị thiên
về chức năng mang tính tư duy Các kế hoạch, chính sách, tầm nhìn, chiến lược của doanh nghiệp nói riêng thường được quyết định do các yếu tố xuất phát từ khả năng
tư duy – ý thức của con người Chức năng quan trọng nhất của quản trị là lập kế
hoạch Quản lý là hoạt động có tính chất thực hiện, thừa hành những kế hoạch, những phương hướng mục tiêu (kết quả của hoạt động quản trị), để nhằm biến những mục tiêu của hoạt động quản trị thành kết quả thực tế mà doanh nghiệp/cá nhân mong
muốn
Khái niệm quản trị và quản lý được phân biệt như sau: Quản trị (Administration)
là toàn bộ quá trình đưa ra các quyết định về chính sách, quy tắc, mục tiêu Đây là các hoạt động cấp cao Quản lý (management) là toàn bộ các hoạt động tiếp nhận,
kết nối, thi hành điều phối để hướng tới mục tiêu của quản trị Quản lý là các hoạt động cấp trung [3]
Qu ản trị bản thân
Quản trị bản thân với khái niệm hoàn thiện các kỹ năng, thái độ được sử dụng dưới nhiều thuật ngữ với ý nghĩa hàm ý tương đồng như “quản lý bản thân”, “quản
trị bản thân”, “lãnh đạo bản thân”… Với nghĩa hẹp, có tài liệu định nghĩa rằng quản
trị bản thân (hay còn gọi là quản lý bản thân) có nghĩa là khả năng điều chỉnh và
kiểm soát suy nghĩ, cảm xúc và hành động hiệu quả Mục đích chính của quản lý bản thân là giúp định hướng sự nghiệp và đảm bảo mọi người luôn nỗ lực tìm kiếm cơ
hội đến gần hơn với mục tiêu của mình Hay, quản trị bản thân /quản lý bản thân có nghĩa là việc kiểm soát, quản lý về tất cả mọi thứ của bản thân như: cảm xúc, suy nghĩ, hành động, lời nói,… Quản trị bản thân giúp việc định hướng rõ ràng và đảm
bảo nổ lực để tìm kiếm cơ hội đạt được mục tiêu của mình
Tuy nhiên, theo định nghĩa khái niệm quản trị đã nêu ở trên, quản trị bản thân
tại nội dung bài luận được định nghĩa như sau: “Quản trị bản thân là quá trình đưa
ra các quy ết định về định hướng và kế hoạch nhằm đạt được các mục tiêu phát tri ển của bản thân” Hoạt động phát triển bản thân hay hoàn thiện bản thân sẽ bao
gồm các hoạt động phát triển năng lực và tiềm năng của một người, xây dựng vốn nhân lực, tạo điều kiện, mở rộng cơ hội về khía cạnh việc làm, nâng cao chất lượng
Trang 7cuộc sống và hiện thực hóa ước mơ và khát vọng Quản trị bản thân nói riêng và sự phát triển cá nhân nói chung có thể diễn ra trong suốt cuộc đời của một cá nhân và không giới hạn trong một giai đoạn của cuộc đời một người
Nếu khái niệm quản trị phổ biến thường ưu tiên đánh giá sự phát triển được nhìn từ khía cạnh tổ chức thì quản trị bản thân lại được đánh giá từ khía cạnh “phát triển từ bên trong” Và khi hoạt động quản trị bản thân đó đạt được những mục tiêu bản thân người đó đã xác định thì được gọi là thành công Thành công (Success) là
tr ạng thái hoặc điều kiện hay kết quả đáp ứng được hoàn toàn hoặc một phần kỳ
v ọng Thành công là đạt được một mục tiêu hoặc những mục tiêu mà một người
đã đặt ra cho mình Thành công là làm được những gì mà mình dự định [8] David
Starr Jordan – chủ tịch sáng lập của Đại học Stanford từng khẳng định:“Không có sự
ưu tú đích thức nào mà lại không gắn với cách sống đúng đắn” [7] Để quản trị bản thân hi ệu quả, chúng ta thường gắn với khái niệm thành công của một cá nhân
Vậy, một cá nhân như thế nào được đánh giá là thành công?
Như đề cập trước đó về thuật ngữ “đạo đức phẩm giá” thì việc quản trị bản thân hiệu quả được bộc lộ qua một số tính cách của người thành công gồm: tính chính
trực, đức khiêm nhường, lòng trung thành, sự chừng mực, can đảm, công bằng, nhẫn
nại, cần cù, giản dị và Quy tắc vàng trong việc ứng xử Quan điểm này cũng khẳng định có tồn tại những nguyên lý để sống hiệu quả Mỗi cá nhân sẽ chỉ thành công đích thực và hạnh phúc vĩnh cửu nếu cá nhân chịu học hỏi để đưa các nguyên lý đó thành bản tính cá nhân
Tuy nhiên, sau thế chiến thứ nhất và ngay cả cho đến hiện nay, tư tưởng đánh giá thành công của cá nhân lại chuyên sang quan điểm “đạo đức tính cách” Nhiều tài liệu hoặc đầu sách hiện nay cũng đang chuyển theo xu hướng này Nghĩa là thành công cá nhân được nhìn nhận chủ yếu dưới giác độ tính cách, hình ảnh xã hội, thái
độ, hành vi, kỹ năng và chiêu thức để lấy lòng trong sự giao tiếp giữa người với người Quan điểm này tạo nên 2 xu hướng: một là những kỹ thuật giao tiếp xã hội
giữa người với người; hai là thái độ sống tích cực Điều này, về mặt bản chất thì chưa đầy đủ, nó dẫn đến một xu hướng cho việc sử dụng các kỹ thuật, các hướng dẫn về
kỹ năng nhằm thu phục lòng người, thao túng thậm chí lừa dối, giả vờ quan tâm đến người khác để đạt được mục đích, phần lợi cho mình; hoặc sử dụng quyền lợi, áp đặt cách thức nào đó lên người khác
Nếu như tư tưởng Đạo đức phẩm giá là những lý luận thiếu tính thực tiễn, còn đạo đức tính cách lại thiên về các kỹ thuật gây ảnh hưởng tức thì Câu hỏi đặt ra là
làm thế nào để quản trị bản thân một cách hiệu quả? Hoặc, bằng cách nào để có thể phát triển thành công cá nhân một cách bền vững? Trong đó, sự phát triển bền vững
là được định nghĩa ở đây sự phát triển về mọi mặt trong thời điểm hiện tại nhưng vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa
Trang 81.2 Nguyên lý, phát triển, nguyên lý phát triển theo quan điểm triết học
Marx-Lenin
Nguyên lý hay còn gọi là nguyên tắc lý luận Trong triết học, nguyên lý là
nh ững luận điểm xuất phát, những tư tưởng chủ đạo của một học thuyết hay lý luận
mà tính chân lý c ủa chúng là hiển nhiên, không thể hay không cần phải chứng minh nhưng không mâu thuẫn với thực tiễn và nhận thức về lĩnh vực mà học thuyết hay lý
lu ận đó phản ánh
Theo Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân:
Nguyên lý hay nguyên t ắc (principle) là những ý tưởng hoặc lý thuyết ban đầu, quan
tr ọng, được coi là xuất phát điểm cho việc xây dựng những lý thuyết khác
Theo [7], nguyên lý là các quy lu ật tự nhiên ở bên ngoài ta và quyết định kết
qu ả những hành động của những hành động mà ta thực hiện Nguyên lý luôn luôn
độc lập với con người, nguyên lý vẫn vận hành bất kể chúng ta có nhận thức, chấp
nhận, ưa thích, tin tưởng hoặc tuân theo chúng hay không Mỗi người/mỗi cá nhân,
mỗi tổ chức đều có hệ giá trị riêng Hệ giá trị của mỗi cá nhân quyết định hành vi
của mỗi người nhưng nguyên lý là thứ quyết định của kết quả của hành vi đó Cách lý giải trên đây để hiểu được vì sao xuất phát từ 02 nguyên lý là: nguyên
lý phát triển, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến lại hình thành các quan điểm về các
cặp phạm trù cơ bản của biện chứng duy vật gồm: Cái chung – cái riêng, nguyên nhân - kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng,
khả năng và hiện thực
Trong đó, nguyên lý về sự phát triển được thể hiện qua 3 quy luật cơ bản, cụ
thể: Quy luật mâu thuẫn chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển; Quy luật lượng - chất chỉ
ra cách thức, hình thức của sự phát triển; Quy luật phủ định chỉ ra khuynh hướng của
sự phát triển Ba quy luật này còn có ý nghĩa trong nhận thức và hành động
Phát triển là cụm từ được sử dụng nhiều trong đời sống xã hội Bên cạnh nguyên
lý về mối liên hệ phổ biến thì phát triển là nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật Nguyên lý đó được trình bày như sau: “Phát triển là quá trình vận động từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn” [1]
Nguyên lý phát triển trong quản trị bản thân sẽ được hiểu một cách sơ bộ nhất
là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét hoạt động quản trị bản thân một cách khách quan, đồng thời phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của bản thân mỗi người)
1.3 Nguyên lý phát triển trong quản trị bản thân
Xuất phát từ việc nghiên cứu phép biện chứng (hay học thuyết về mâu thuẫn trong phép biện chứng duy vật, Marx đã phát hiện ra nguồn gốc và động lực của mọi
Trang 9sự phát triển, nó được đánh giá là chìa khóa để mở ra tất cả những phạm trù, nguyên
tắc của phát triển biện chứng
Như vậy, sự phát triển trong hoạt động quản trị bản thân cũng chịu sự chi phối
của các tính chất của nguyên lý phát triển gồm: tính khách quan của sự phát triển trong việc nghiên cứu quản trị bản thân con người Sở dĩ, có thể nói ngay riêng với
bản thân con người (đối tượng của hoạt động quản trị) cũng mang tính khách quan, bởi trong quá trình này, con người vừa là khách thể, vừa là chủ thể của hoạt động
quản trị Sự phát triển của cá nhân mỗi con người không chỉ chịu tác động do quá trình vận động của riêng bản thân người đó mà còn chịu tác động của xã hội, các mối quan hệ xã hội, quy luật xã hội chi phối đến tư duy, thái độ và hành vi của cá nhân
đó Học thuyết duy vật biện chứng về phát triển xã hội cũng đã chỉ ra sự chuyển hóa các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp lên cao hơn, tiến bộ hơn; bản thân mỗi cá nhân cũng có sự phát triển về các mặt trong đời sống
Ví dụ: theo mức độ tăng dần của độ tuổi, quá trình phát triển về thể chất, nhận
thức, xã hội và nhân cách của mỗi cá nhân cũng khác nhau
Xuất phát từ nguồn gốc của phát triển trong quá trình quản trị bản thân, cần lưu
ý các đặc điểm sau:
M ột là, sự phát triển trong quá trình quản lý/quản trị bản thân của mỗi cá nhân
cần xuất phát từ sự biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất (quy luật) Nguồn
gốc của sự phát triển của cá nhân cũng xuất phát từ chính bản thân con người Marilyn Ferguson đã từng viết “Không ai có thể thay đổi người khác Cánh cổng thay đổi của mỗi người chỉ có thể mở ra từ bên trọng Ta không thể mở cánh cổng của người khác,
dù bằng lập luận hay bằng cảm xúc[7]
Bằng việc nhìn nhận, tự trò chuyện với bản thân, xem xét các vấn đề (cả các thành công, cả các thất bại), mỗi cá nhân sẽ rút ra được những điểm mạnh, điểm yếu, nguy cơ, cơ hội mà mình đã/đang gặp phải Sống chủ động là một trong những lời khuyên góp phần mang lại hiệu quả cho hoạt động quản trị bản thân Điều này được
hiểu như sau, bản thân mỗi người được phép quyết định các hành vi do chúng ta tạo nên chứ không phải do các hoàn cảnh sống quyết định Việc đổ lỗi do các tác động
của hoàn cảnh sống (có thể có ít, nhiều), sẽ làm giới hạn khả năng của mỗi người thay vì quyền lựa chọn kết quả có được nếu áp dụng hành vi ấy vào cuộc sống
Hai là, sự phát triển trong bản thân mỗi cá nhân cũng được vận động theo quy
luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Có thể nhắc đến một khái niệm
hiện đại gần đây như mâu thuẫn nội tâm Phần mâu thuẫn này giống như tên gọi
của nó xuất phát từ những trải nghiệm đối lập nhau Trải nghiệm đó bao gồm niềm tin tâm lý, mong muốn, cơn bốc đồng và những cảm xúc Trong tâm lý học, tình
trạng mâu thuẫn nội tâm thường thấy là tình trạng "xung đột nhận thức", nói cách khác là hiện tượng có nhiều suy nghĩ, niềm tin và thái độ mâu thuẫn cùng tồn tại bên
Trang 10trong tâm trí một cá thể nào đó Chúng sẽ luôn đấu tranh để tìm ra một hướng đi, hướng quyết định cuối cùng Đối với cá nhân, mâu thuẫn này xuất phát từ những nguồn gốc khác nhau tạo thành: niềm tin và phép tắc được truyền dạy lại từ gia đình,
niềm tin tôn giáo, giáo điều hoặc tín ngưỡng được truyền bá; giá trị và quan niệm xã hội chúng ta chấp nhận nuôi dưỡng… Những mâu thuẫn và đối lập này là tất yếu trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân Với những tư duy, tư tưởng đó, qua quá trình vận dụng, ứng dụng, mỗi người sẽ sàng lọc được những quan điểm phù hợp với
bản thân, phù hợp với cách bản thân ứng xử với xã hội
Ba là, bản thân mỗi cá nhân tự nhận thức tự phát triển về ý thức, tư duy của chính mình, tự nhận thấy, đánh giá được những mâu thuẫn trong nội tại thông qua
việc phủ định trạng thái này bằng trạng thái khác Sự phát triển trong 3 nội dung này đối với từng cá nhân đều phản ánh được ở cả 3 khía cạnh gồm tri thức, ý chí và thái
độ, tâm trạng (trạng thái tâm lý)
Ví dụ, khi bạn thường xuyên trì hoãn trong công việc, nó dần dần trở thành thói quen và tạo nên một đặc tính trì hoãn trong bạn Thời gian hình thành trì hoãn càng nhiều, việc bạn sửa đổi một thói quen xấu đòi hỏi thời gian dài hơn nữa Để bỏ được thói quen xấu đó, ngoài việc bạn phải tự nhận ra vấn đề đó đang ảnh hưởng đến các phương diện khác trong cuộc sống như không được sếp tin tưởng, ảnh hưởng đến
thời gian hoàn thành tiến độ công việc khi làm việc nhóm, tạo thành nếp trong hầu
hết các hoạt động… Mục tiêu quản trị thời gian cá nhân hay tính cam kết trong công
việc của bạn cũng bị ảnh hưởng tiêu cực Bản thân cá nhân cần nhận ra được vấn đề trong phạm vi của mình, muốn thay đổi thì phải xuất phát từ chính cá nhân, việc nhắc
nhở, ghi nhận từ phía người khác/tổ chức chỉ là 1 tín hiệu để nhận thấy cần điều chỉnh, cần sửa đổi, và không phải là điều kiện có thể hoàn toàn thay đổi, điều chỉnh
nếu bản thân cá nhân đó thực sự không cảm thấy đó là vấn đề quan trọng Việc thay đổi thói quen xấu còn cần cả tri thức (về việc tiếp nhận phản hồi, ghi nhận vấn đề, phương án giải quyết), ý chí (mong muốn thay đổi, có xuất phát từ bản thân hay không, tính cần thiết của việc phải thay đổi), thái độ (tiếp nhận tích cực hay ép buộc), tâm trạng (vui, buồn)…
Với các lý luận về phát triển trong quản trị bản thân nêu trên, trong giới hạn bài
luận, nội dung vận dụng sẽ tập trung vào trả lời câu hỏi: “Làm thế nào quản trị bản thân theo hướng phát triển bền vững” Theo đó, các nội dung quản trị bản thân sẽ đi vào 4 khía cạnh là thái độ, kiến thức, kỹ năng và thói quen Trong đó, nền tảng là xây
dựng các thói quen để thay đổi, điều chỉnh, củng cố và phát triển các kỹ năng, thái
độ, kiến thức mang phong cách sống kiến tạo Mục tiêu hướng tới của quản trị bản thân là cá nhân chủ động thay đổi bản thân để hành xử phù hợp với hoàn cảnh xảy đến hoặc nỗ lực thích nghi với các xu thế xã hội – phù hợp với các quy luật khách