1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình quản lý thu - chi quỹ bảo hiểm xã hội huyện Văn Giang

75 630 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Quản Lý Thu-Chi Quỹ BHXH Tại BHXH Huyện Văn Giang
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Chính
Trường học Trường ĐHKTQD-HN
Chuyên ngành Kinh Tế Bảo Hiểm
Thể loại chuyên đề tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 223 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình quản lý thu - chi quỹ bảo hiểm xã hội huyện Văn Giang

Trang 1

Lời mở đầu

BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc ta góp phần đảm bảo

ổn định đời sống cho cán bộ, công chức, quân nhân và ngời lao động, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nớc, bảo vệ tổ quốc Chính vì vậy, từ khi thành lập nớc đến nay, Nhà nớc đã quan tâm thờng xuyên đến việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH đối với cán bộ, công chức, quân nhân và ngời lao động của các thành phần kinh tế

Để hoạt động BHXH tồn tại và phát huy đợc tác dụng của mình đối với ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc thì vấn đề đầu tiên là phải quan tâm đến hoạt động của quỹ BHXH vì quỹ BHXH là xơng sống của bất kỳ một hệ thống BHXH nào, muốn vậy cơ quan BHXH phải thực hiện tốt công tác thu-chi quỹ BHXH

Cơ quan BHXH huyện Văn Giang đợc thành lập và bắt đầu đi vào hoạt

động từ 1/01/2000 đến nay đã đạt đợc những thành tựu đáng kể về hoạt động thu-chi quỹ BHXH: nh thu quỹ BHXH ngày càng tăng, chi đúng đối tợng, chi kịp thời bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục, một số cơ

sở lợi dụng kẽ hở của pháp luật để trốn nộp BHXH, một số cơ sở nợ đọng BHXH điều này làm cho hiệu quả hoạt động của quỹ BHXH còn cha cao và còn phải nhờ vào Ngân sách Nhà nớc Nh vậy, vấn đề quản lý hoạt động thu-chi quỹ BHXH có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của hệ thống BHXH Việt Nam cũng nh BHXH các tỉnh, huyện trong cả nớc Do vậy, trong quá trình thực tập tại cơ quan BHXH huyện Văn Giang em đã chọn đề tài: “Tình hình quản lý thu-chi quỹ BHXH tại BHXH huyện Văn Giang” làm chuyên đề thực tập

Nội dung của chuyên đề ngoài lời mở đầu và kết luận bao gồm các phần sau:

Trang 2

điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bất ngờ ốm đau hay bị tai nạn trong lao

động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm v.v Khi rơi vào những trờng hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới nh: Cần đợc khám chữa bệnh và điều trị khi ốm

đau; tai nạn, thơng tật nặng cần phải có ngời chăm sóc nuôi dỡng v.v Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con ngời và xã hội loài ngời phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau nh: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau

Trang 3

trong nội bộ cộng đồng, đi vay đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nớc v.v Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không chắc chắn.

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mớn nhân công trở nên phổ biến Lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhng về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho ngời làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản v.v Trong thực tế, nhiều khi các trờng hợp trên không xảy ra và ngời chủ không phải chi ra một đồng nào Nhng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn.Vì thế, mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ phải thực hiện cam kết Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế-xã hội Do vậy, Nhà nớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự can thiệp này một mặt làm tăng đợc vai trò của Nhà nớc, mặt khác buộc cả giới chủ và thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng đợc tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với ngời làm thuê Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm

vi quốc gia Quỹ này còn đợc bổ sung từ Ngân sách Nhà nớc khi cần thiết nhằm

đảm bảo đời sống cho ngời lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của ngời lao động đợc dàn trải, cuộc sống của ngời lao động và gia đình họ ngày càng đợc đảm bảo ổn

định Giới chủ cũng thấy mình có lợi và đợc bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thờng, tránh đợc những xáo trộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung đợc thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo

Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên

đợc thế giới quan niệm là BHXH đối với ngời lao động

Trang 4

Vậy BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo cuộc sống cho ngời lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

2 Sự cần thiết phải có hệ thống BHXH

Trong thực tế cuộc sống không phải ngời lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khoẻ, khả năng lao động hoặc những may mắn khắc để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống

ấm no hạnh phúc Ngợc lại, không mấy ai tránh khỏi những rủi ro, bất hạnh nh:

ốm đau, tai nạn, già yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hởng của

tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng nh các tác nhân xã hội khác

Muốn tồn tại con ngời và xã hội loài ngời phải tìm ra và đã tìm ra nhiều cách giải quyết Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh, giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình thì ngoài việc tự mình khắc phục, ngời lao động phải đợc sự bảo trợ của cộng đồng tập thể, của các tổ chức cơ quan Nhà nớc và xã hội Sự bảo trợ này không thể bằng lời nói, bằng sự động viên thăm hỏi chung chung mà phải bằng những nguồn vật chất cần thiết nhằm phục hồi nhanh chóng sức khỏe, duy trì sức lao động xã hội góp phần làm giảm bớt những khó khăn của bản thân

và gia đình ngời lao động khi có những hụt hẫng về thu nhập trong các trờng hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất việc làm hoặc khó khăn khi tuổi về già v.v Tất cả những cái đó đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thờng của ngời lao động Sự đối mặt với cuộc sống thật nan giải Tình cảnh này đã đa đến những hành động tập thể phát huy truyền thống t-

Trang 5

ơng thân, tơng ái vốn có từ trong nhân dân, đồng thời cũng đòi hỏi giới chủ, giới thợ và Nhà nớc từng bớc can thiệp để duy trì lực lợng công nhân cần thiết cho xã hội và đảm bảo cuộc sống cho ngời lao động cùng gia đình họ, giúp cho sản xuất kinh doanh ổn định và phát triển, từ đó làm cho nền kinh tế ngày một phát triển hơn.

Qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa nhiều vấn đề của giới chủ

và giới thợ, cùng với sự đổi mới của quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất

n-ớc, cùng với trình độ chuyên môn và nhận biết về BHXH của ngời lao động ngày càng đợc nâng cao, cách chủ động khắc phục khi không may xảy ra rủi ro với họ ngày càng đợc hoàn thiện.Tuy nhiên chỉ khi có sự ra đời của BHXH thì những tranh chấp cũng nh những khó khăn mới đợc giải quyết một cách ổn thoả

và có hiệu quả nhất Đó cũng chính là cách giải quyết chung nhất cho xã hội loài ngời trong quá trình phát triển đất nớc

Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết phải tiến hành bảo hiểm cho ngời lao động Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của ngời lao động và đợc thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con ngời nh trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc họp thông qua ngày 10-12-1948 đã nêu:

“ Tất cả mọi ngời với t cách là thành viên của xã hội có quyền hởng BHXH”

II Vai trò và nguyên tắc của BHXH

1 Vai trò của BHXH

Đối với ngời lao động

Trong cuộc sống hàng ngày, con ngời không thể tránh khỏi những rủi ro

nh ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, già yếu rồi chết Tất cả

Trang 6

những rủi ro này đều có thể xảy ra đối với bất cứ ngời lao động nào, tại bất cứ thời điểm nào trong bất cứ hoàn cảnh nào trong cuộc sống hàng ngày của con ngời Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi đất nớc đang ngày càng hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì những rủi ro này lại càng diễn ra một cách thờng xuyên và có tính chất ngày càng phổ biến hơn vì sự biến động

về thị trờng lao động và sản xuất kinh doanh đa dạng hơn, phức tạp hơn Khi những rủi ro này xảy ra với những ngời lao động thì sẽ gây cho họ những khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần, gây cho họ mất hoặc giảm thu nhập, từ đó gây

ra những ảnh hởng không tốt không chỉ cho chính anh ta, gia đình anh ta mà còn cho cả cộng đồng xã hội loài ngời Với t cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nớc, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những ngời lao động gặp phải rủi ro, bất hạnh khắc phục những khó khăn bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi, giúp họ ổn

định đợc cuộc sống, yên tâm trong công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tơng lai, từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng xuất lao động cũng nh chất l-ợng công việc cho xí nghiệp, cơ quan họ đang làm nói riêng và cho toàn bộ xã hội nói chung

Đối với ngời sử dụng lao động

Để có đợc sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của con ngời và sự phát triển của xã hội thì cần phải có ngời tạo ra sản phẩm và nhờ vào quá trình lao động sản xuất để tạo ra sản phẩm cần thiết cho con ngời, cho xã hội Những ngời biết vận dụng sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, đó chính là những ngời chủ sử dụng lao động Muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đợc đảm bảo thì ngời chủ phải tạo đợc mối quan hệ tốt với ngời lao động, giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình đối với ngời lao động thật tốt để họ yên tâm lao động sản xuất và có niềm tin vào cuộc sống từ đó họ lao động sản xuất

Trang 7

hăng hái hơn, tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn làm cho quá trình sản xuát kinh doanh của ngời chủ sử dụng lao động hoạt động đạt kết quả cao Muốn vậy ngời chủ sử dụng lao động phải tham gia đóng BHXH cho những ngời lao động của mình để có thể đảm bảo những khoản chi trả cần thiết, kịp thời đến ngời lao

động khi họ gặp những rủi ro bất chắc Việc tham gia đóng góp BHXH cho ngời lao động của ngời chủ sử dụng lao động là góp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động sản xuất của doanh nghiệp cũng nh nâng cao thu nhập cho ngời lao động và góp vào việc phát triển nền kinh tế của đất nớc

1.3 Đối với xã hội

Trớc tiên cần phải khẳng định rằng hoạt động BHXH là một hoạt động dịch vụ, cơ quan BHXH là một “ Doanh nghiệp” sản xuất ra những dịch vụ “ bảo hiểm” cho ngời lao động, một loại dịch vụ mà bất cứ ai cũng cần đến (không phải chỉ cán bộ, công nhân viên chức mới cần) Nếu các doanh nghiệp này càng sản xuất ra nhiều loại bảo hiểm (đáp ứng đa dạng các nhu cầu) thì giá trị của những sản phẩm dịch vụ này cũng đợc tính trực tiếp vào tổng sản phẩm xã hội

Thứ hai, với t cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nớc, BHXH sẽ “ bảo hiểm” cho ngời lao động, hoạt động BHXH sẽ giải quyết những “ trục trặc”, “ rủi ro” xảy ra đối với những ngời lao động, góp phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của sức lao động Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao

động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực của mình vào việc nâng cao năng suất lao động xã hội Với sự trợ giúp của ngời lao động khi gặp phải rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập thay thế thì BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội

Trang 8

Thứ ba, với t cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh mẽ tới hệ thống tài chính ngân sách Nhà nớc, tới hệ thống tín dụng tiền tệ ngân hàng Chính vì vậy, đặt ra một yêu cầu cho quỹ BHXH phải tự bảo tồn và phát triển quỹ bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức đầu t phát triển phần “ nhàn rỗi” của quỹ Phần này có tác động không nhỏ tới sự phát triển đất nớc, góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm mới góp phần quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho ngời lao đông Từ đó góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp của đất nớc, góp phần tăng thu nhập cá nhân cho ngời lao động nói riêng và tăng tổng sản phẩm quốc nội cũng nh tổng sản phẩm quốc dân nói chung.

Thứ t, BHXH góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, là công cụ phân phối lại thu nhập giữa những nguời tham gia BHXH Sự phân phối lại thu nhập này đợc tiến hành thông qua hai cách: Phân phối lại theo chiều ngang giữa ngời khoẻ và ngời già, ngời đang làm việc với ngời đã nghỉ hu, ngời trẻ tuổi với ngời lớn tuổi, giữa nam với nữ, ngời đang hởng trợ cấp với ngời cha hởng trợ cấp; phân phối lại theo chiều ngang là mục tiêu quan trọng của chính sách kinh

tế xã hội, giữa những ngời có thu nhập cao và ngời có thu nhập thấp BHXH không bao hàm ý phân phối bình quân, cũng không hàm ý lấy của ngời giàu chia cho ngời nghèo một cách võ đoán ý tởng của BHXH nhiễu điều phủ lấy giá gơng, là đoàn kết tơng trợ, phát huy tính tự thân, sống hoà nhập có tình có nghĩa giữa các nhóm, các giới bạn trong cùng cộng đồng với nhau mà vốn là tiềm lực của dân tộc ta đã đợc lịch sử chứng minh

2 Một số nguyên tắc của BHXH

2.1) Mọi ngòi lao động trong mọi trờng hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao

động hoặc mất việc làm đều có quyền đợc BHXH

Trang 9

Quyền đựơc BHXH của ngời lao động là một trong những biểu hiện cụ thể của quyền con ngời Nhng khi muốn xây dựng hệ thống BHXH thì đầu tiên Nhà nớc phải tạo điều kiện và môi trờng kinh tế xã hội, về chính sách và luật pháp, về tổ chức và cơ chế quản lý cần thiết Đồng thời, những ngời sử dụng lao

động và ngời lao động phải thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính của mình Không phải là cái có sẵn nên trớc hết phải tìm cách tạo ra nó ở mỗi nớc không

có sự đóng góp này thì chính sách BHXH có hay đến mấy cũng không bao giờ

có BHXH trong thực tiễn Vì vậy, thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính BHXH là điều kiện cơ bản nhất để ngời lao động đợc hởng quyền BHXH

Nhà nớc và ngời sử dụng lao động có trách nhiệm phải BHXH đối với ngời lao động, ngời lao động cũng có trách nhiệm phải tự BHXH cho mình.

Đây là mối quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trờng, trong đó Nhà nớc

có vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế xã hội trên phạm vi cả nớc Với vai trò này Nhà nớc có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình Cùng với sự tăng trởng sự phát triển kinh tế xã hội, cũng có những kết quả bất lợi không mong muốn Những kết quả bất lợi này trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến những rủi ro cho ngời lao động Khi xảy ra tình trạng nh vậy nếu không có BHXH thì Nhà nớc vẫn phải chi Ngân sách để giúp đỡ ngời lao động dới một dạng khác Sự giúp đỡ đó chẳng những làm cho đời sống ngời lao động ổn định

mà còn làm cho sản xuất kinh tế xã hội của đất nớc ổn định Vì vậy, khi trong xã hội loài ngời xuất hiện BHXH – một dạng đảm bảo đời sống tiến bộ hơn đối với ngời lao động- so với các dạng giúp đỡ truyền thống thì Nhà nớc càng có

điều kiện và càng có trách nhiệm tổ chức và tham gia dạng hoạt động đó

Đối với ngời sử dụng lao động, mọi khía cạnh đặt ra cũng tơng tự nh trên nhng chỉ trong phạm vi một số doanh nghiệp ở đó giữa ngời lao động và ngời

Trang 10

sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ Ngời sử dụng lao động muốn ổn

định và sản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo đầu t để có máy móc thiết bị hịên đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời sống của ngời lao

động mà mình sử dụng Khi ngời lao động làm việc bình thờng thì phải trả lơng (trả công) thoả đáng cho ngời lao động Khi họ gặp rủi ro, ốm đau, tai nạn lao

động, bệnh nghề nghiệp trong đó có rất nhiều trờng hợp gắn với quá trình lao

động, với những điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ Chỉ có nh vậy ngời lao động mới yên tâm tích cực lao

động sản xuất góp phần tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp

Đối với ngời lao động khi gặp những rủi ro không muốn và không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của ngời khác thì trớc hết đó là rủi ro của bản thân Vì thế, nếu muốn đợc BHXH tức là muốn nhiều ngời khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều ngời khác thì tự mình phải gánh chịu trực tiếp và trớc hết đã Điều đó có nghĩa là bản thân ngời lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình

BHXH phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để tự hình thành quỹ BHXH độc lập và tập trung.

ở nguyên tắc trên đã thấy rõ tính khách quan của trách nhiệm phải tham gia BHXH đối với ngời lao động của cả ba bên (Nhà nớc, ngời sử dụng lao động

và ngời lao động) trong nền kinh tế thị trờng Biểu hiện cụ thể của trách nhiệm này là đóng phí BHXH đầu kỳ Nhờ sự đóng góp đó mà phơng thức riêng có của BHXH là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang mới đợc thực hiện Hơn nữa nó còn tạo ra mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa trách nhiệm với quyền lợi góp phần phòng

Trang 11

chống những hiện tợng nhiễu trong hệ thống hoạt động mang lại nhiều lợi ích cho mọi ngời có liên quan này.

Phải lấy số đông bù số ít

Cách làm riêng có của BHXH là mọi ngời tham gia BHXH đóng góp cho bên nhận BHXH (cơ quan BHXH chuyên nghiệp) tồn tích dần thành quỹ tài chính độc lập và tập trung dùng để chi trả trợ cấp cho những ngời lao động khi

và chỉ khi họ bị giảm bớt hoặc mất thu nhập theo các chế độ xác định Mức

đóng góp BHXH thờng rất thấp nên phần lớn những ngời lao động trong nớc đều

có thể đóng góp dễ dàng Nhng điều quan trọng là sự đóng góp đó đợc thực hiện

đều kỳ và là đóng góp của số đông

Phải kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phơng thức đáp ứng nhu cầu BHXH

Trong BHXH cả ba bên tham gia: Ngời sử dụng lao động, ngời lao động

và Nhà nớc đều nhận đợc nhiều lợi ích Nhng lợi ích nhận đợc không phải luôn luôn nh nhau, thống nhất với nhau mà trái lại có lợi ích có lúc lại mâu thuẫn với nhau Chẳng hạn việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng thời hạn nghỉ làm việc và hởng trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho ngời lao động nhng lại gây khó khăn cho ngời chủ sử dụng lao động, nếu giảm hậu quả bất lợi cho ngời sử dụng lao động thì Nhà nớc lại phải gánh chịu

Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi làm, nhng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu

Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lơng nh trợ cấp

ốm đau, thai sản, hu trí tuổi già chứ không phải là trợ cấp bù đắp hoặc trợ cấp BHXH Nh đã biết, tiền lơng là khoản tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho ng-

ời lao động khi họ thực hiện công việc nhất định Nghĩa là, chỉ ngời lao động có sức khoẻ bình thờng, có việc làm bình thờng và thực hiện công việc nhất định

Trang 12

mới có tiền lơng Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không thực hiện đợc công việc nhất định hoặc không việc làm mà trớc đó có tham gia BHXH thì chỉ

có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lơng tạo ra đợc Còn nếu cố tìm cách trả trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lơng thì không một ngời lao

động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lơng mà ngợc lại

họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản để hởng trợ cấp Hơn nữa cách lập quỹ, phơng thức dàn trải rủi ro của BHXH cũng không cho phép trả trợ cấp BHXH bằng tiền lơng lúc đang đi làm Vì trả trợ cấp bằng tiền lơng thì chẳng khác gì bị rủi ro

đem rủi ro của mình dàn trải hết cho những ngời khác

Nh vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi làm Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hàng ngày Chỉ khi đó BHXH mới có ý nghĩa an sinh

Kết hợp giữa BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện.

Cho đến nay, ở nớc ta việc tham gia BHXH vẫn cha trở thành tập quán, hơn nữa trong BHXH lợi ích của các bên tham gia và lợi ích trớc mắt với lợi ích lâu dài của ngời lao động vẫn có những mâu thuẫn Bởi vậy cần có sự kết hợp bắt buộc với tự nguyện trong việc tham gia BHXH Sự bắt buộc nên thực hiện

đối với các bên tham gia BHXH ở khu vực có quan hệ lao động với thu nhập cơ bản Đối với những ngời có nhu cầu BHXH ở mức cao hoặc với ngời lao động

độc lập thì nên để họ tham gia tự nguyện

Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cả nớc, đồng thời phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành.

Hệ thống BHXH của một nớc thờng gồm nhiều bộ phận cấu thành Trong

đó bộ phận lớn nhất do Nhà nớc tổ chức và bảo hộ đặc biệt bao trùm toàn bộ những ngời hởng lơng từ Ngân sách Nhà nớc và những ngời lao động thuộc

Trang 13

những khu vực kinh tế quan trọng của đất nớc Các bộ phận nhỏ hơn do các đơn

vị kinh tế và t nhân tổ chức ra để bảo hiểm cho một số đối tợng hạn chế do pháp luật quy định Trong bộ phận do Nhà nớc tổ chức còn có thể có một số bộ phận BHXH chuyên ngành nh: BHXH đối với công chức, BHXH đối với quân nhân hởng lơng và một số bộ phận BHXH theo ngành kinh tế có tính chất đặc thù (đ-ờng sắt, khai thác mỏ ) Các bộ phận BHXH đựơc tổ chức nh thế nào, nhiều hay

ít là do đi ều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và do Nhà nớc quy định ở nớc ta do những diều kiện kinh tế xã hội cha cho phép các tổ chức và cá nhân thực hiện BHXH mà chỉ có BHXH của Nhà nớc

Để BHXH hoạt động có hiệu quả nhất thiết phải bảo đảm tính thống nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh tuỳ tiện, tính cục bộ hoặc những mâu thuẫn nảy sinh Đồng thời cũng phải có cơ chế để mỗi bộ phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để chúng có thể bù đắp, bổ xung những

u điểm cho nhau

2.8 BHXH phải đợc phát triển dần từng bớc phù hợp với các điều kiện kinh

tế xã hội của đất nớc trong từng giai đoạn phát triển cụ thể

BHXH của một nớc gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện kinh tế xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý đặc biệt là với sự điều chỉnh, sự

đồng bộ của nền pháp chế của nớc đó Trong tình hình nớc ta, kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh tế xã hội đang chuyển

động mạnh Vì vậy, việc xây dựng và phát triển BHXH phải bảo đảm chắc chắn, tính toán thận trọngvà có bớc đi phù hợp

Mỗi nguyên tắc trên đây không tồn tại và phát huy tác dụng một cách đơn

lẻ mà chúng vận động trong một hệ thống chặt chẽ Bởi vậy, cần vận dụng chúng một cách tổng hợp và hợp lý vào mỗi vấn đề cụ thể thì mới có thể đạt hiệu quả nh mong muốn

Trang 14

III Bản chất của BHXH

BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá Khi trình độ phát triển, kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH

có điều kiện ra đời phát triển Vì vậy các nhà kinh tế cho rằng sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế Một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có hệ thống BHXH vững mạnh đợc Kinh tế càng phát triển hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú

Vì vậy, thực chất của BHXH là thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh

tế cho ngời lao động và gia đình họ BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nớc (GDP) để thoả mãn an toàn kinh tế cho ngời lao động và an toàn xã hội BHXH mang cả bản chất kinh tế và cả bản chất xã hội Về mặt kinh tế nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập đời sống của ngời lao động và gia đình họ luôn đợc bảo đảm trớc những rủi ro, bất trắc xã hội Về mặt xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro’’ của BHXH, ngời lao động chỉ phải

đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhng xã hội

sẽ có một lợng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “ lấy của số đông bù cho số ít”

Tuy nhiên tính kinh tế và tính xã hội của BHXH không tách rời mà đan xen lẫn nhau Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho ngời lao động và gia đình họ

là đã nói đến tính xã hội của BHXH Ngợc lại, khi nói đến sự đóng góp ít nhng lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH

Dới góc độ kinh tế, bản chất của BHXH chính là sự đảm bảo thu nhập, bảo đảm cuộc sống cho ngời lao động và gia đình họ khi họ giảm hay mất khả năng lao động Có nghĩa là tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho ngời lao

động khi họ gặp phải rủi ro thuộc phạm vi BHXH

Trang 15

Dới góc độ chính trị, bản chất của BHXH là sự kết hợp của ngời lao động xuất phát từ lợi ích chung của họ.

Dới góc độ xã hội, bản chất của BHXH đợc hiểu nh là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ khi thu nhập của

họ bị giảm hay mất Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lợnglao động xã hội, lực lợng sản xuất, tăng năng suất lao động ổn định trất tự xã hội

Với bản chất của BHXH nêu trên, đối tợng tham gia BHXH là ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc Tuỳ theo mỗi nớc mà mức độ tham gia BHXH của các bên là khác nhau ở Việt Nam Bộ luật Lao động đã có một ch-

ơng về BHXH, trong đó quy định các đối tợng sau đây phải áp dụng các chế độ BHXH:

- Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nớc

- Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên

- Ngời lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu t

n-ớc ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp; trong các cơ quan, tổ chức nn-ớc ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trờng hợp Điều ớc quốc tế

mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy

Trang 16

- Công chức, viên chức nhà nớc làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp; ngời làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện;

Các đối tợng trên đi học, thực tập, công tác điều dỡng ở ngoài nớc mà vẫn ởng tiền lơng hoặc tiền công thì cũng thuộc đối tợng thực hiện BHXH bắt buộc

h-Các đối tợng quy định trên gọi chung là ngời lao động

Cùng với đối tợng tham gia BHXH đợc mở rộng hơn so với trớc đây, thì loại hình tham gia BHXH cũng đợc thống nhất: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện Vấn đề này bớc đầu đã tạo ra sự bình đẳng giữa những ngời lao

động thuộc các thành phần kinh tế Với đối tợng đã đợc quy định nh trên, hiên nay nớc ta có khoảng 15% lực lợng lao động tham gia BHXH

IV quỹ BHXH

Trong đời sống kinh tế xã hội, có rất nhiều loại quỹ khác nhau nh: quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lơng, quỹ tiền thởng, quỹ phúc lợi, quỹ tiết kiệm Tất cả các loại quỹ này đều có một điểm chung là tập hợp các phơng tiện tài chính cho những hoạt động nào đó theo mục tiêu định trớc Quỹ lớn hay quỹ nhỏ biểu thị khả năng về mặt phơng tiện và vật chất để thực hiện công việc cần làm

Tất cả các quỹ đều không chỉ tồn tại với một khối lợng tĩnh tại một thời

điểm mà luôn biến động tăng lên ở đầu vào với các nguồn thu và giảm đi ở đầu

ra với các khoản chi nh một dòng chảy liên tục Để đảm bảo cho đầu ra ổn định, ngời ta thiết lập một lợng dự trữ Bởi vậy, để nắm và điều hành đợc một quỹ nào

đó thì không phải chỉ nắm đợc khối lợng của nó tại một thời điểm nhất định, mà quan trọng hơn là phải nắm đợc lu lợng của nó trong một khoảng thời gian nhất

định

Trang 17

Theo những quan niệm về quỹ nói chung nh trên, thì quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những ngời tham gia BHXH hình thành một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nớc để chi trả cho những ngời đợc BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

Nh vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự phòng,

nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển

Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những ngời tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc dàn trải rủi ro đợc thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho ngời sử dụng lao động, tiết kiệm chi cho cả ngân sách Nhà nớc và ngân sách gia đình

1 Nguồn quỹ BHXH.

Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nớc

Quỹ BHXH đợc hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

- Ngời sử dụng lao động đóng góp

Trang 18

lớn khi có rủi ro xảy ra đối với ngời lao động mà mình thuê mớn Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo đợc mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ- thợ Về phía ngời lao động, sự đóng góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ

Mối quan hệ chủ-thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích Vì thế, cũng nh nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu

đợc tham gia đóng góp của Nhà nớc Trớc hết các luật lệ của Nhà nớc về BHXH

là những chuẩn mực pháp lý mà cả ngời sử dụng lao động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ-thợ trong lĩnh vực BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, biện pháp và mức độ can thiệp khác nhau, Nhà nớc không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH chắc chắn và ổn định

Phần lớn các nớc trên thế giới, quỹ BHXH đều đợc hình thành từ các nguồn nêu trên Tuy nhiên, phơng thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia BHXH có khác nhau

Về phơng thức đóng góp BHXH của ngời lao động và ngời sử dụng lao

động hiện vẫn còn hai quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ và mức lơng cá nhân và quỹ lơng của cơ quan, doanh nghiệp Quan điểm thứ hai lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của ngời lao động đợc cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp

Về mức đóng góp BHXH, một số nớc quy định ngời sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y tế

và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả ngời lao động và ngời sử dụng lao

động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau Một số nớc lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý v.v…

Trang 19

ở nớc ta, từ năm 1962 đến 1987, quỹ BHXH chỉ đợc hình thành từ 2 nguồn: các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7% quỹ lơng của xí nghiệp, phần còn lại do Ngân sách Nhà nớc đài thọ Thực chất là không tồn tại quỹ BHXH độc lập Từ năm 1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp 15% quỹ lơng của đơn vị Sau khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơ chế thị tr-ờng, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP ngày 22/6/1993 và Điều lệ BHXH Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 12/Cp ngày 26/01/1995, trong các văn bản này đều quy định quỹ BHXH đợc hình thành từ các nguồn sau đây:

- Ngời sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lơng của những ngời tham gia BHXH trong đơn vị Trong đó 10% để chi trả các chế độ hu trí, tử tuất và 5% để chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

- Ngời lao động đóng bằng 5% tiền lơng tháng để chi trả các chế độ hu trí

và tử tuất

- Nhà nớc đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối với ngời lao động

- Các nguồn khác

2 Mục đích sử dụng quỹ BHXH

Quỹ BHXH đợc sử dụng chủ yếu cho hai mực đich sau đây:

- Chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH

- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH

Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH đợc sử dụng để trợ cấp cho các đối tợng tham gia BHXH, nhằm ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ, khi đối tợng tham gia BHXH gặp rủi ro Thực chất là trợ cấp cho 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu lên trong công ớc 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ:

Trang 20

1 Chăm sóc y tế

2 Trợ cấp ốm đau

3 Trợ cấp thất nghiệp

4 Trợ cấp tuổi già

5 Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

6 Trợ cấp gia đình

7 Trợ cấp sinh đẻ

8 Trợ cấp khi tàn phế

9 Trợ cấp cho ngời còn sống ( trợ cấp mất ngời nuôi dỡng)

9 chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nớc tham gia công ớc Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức

độ khác nhau, nhng ít nhất phải thực hiện đợc ba chế độ Trong đó, ít nhất phải

có một trong năm chế độ: (3), (4), (5), (8), (9) Mỗi chế độ trong hệ thống trên khi xây dựng đều dựa trên những cơ sở kinh tế xã hội tài chính, thu nhập, tiền l-

ơng v.v Đồng thời tuỳ từng chế độ khi xây dựng còn phải tính đến các yếu tố…sinh học; tuổi thọ bình quân của quốc gia, nhu cầu dinh dỡng; xác suất tử vong…

Tuy nhiên, cơ sở để xác định điều kiện hởng BHXH phải tính đến một loạth các yếu tố liên quan đến toàn bộ hệ thống các chế độ cũng nh từng chế độ BHXH cụ thể Chẳng hạn khi xác định điều kiện hởng trợ cấp BHXH tuổi già phải dựa vào cơ sở sinh học là tuổi đời và giới tính, của ngời lao động là chủ yếu Bởi vì tuổi già để hởng trợ cấp hu trí của mỗi giới, mỗi vùng, mỗi quốc gia

có những khác biệt nhất định Do đó, co những nớc quy định: Nam 60 tuổi và Nữ 55 tuổi sẽ đợc nghỉ hu Nhng cũng có những nớc quy định: Nam 65 tuổi và Nữ 60 tuổi.v.v Hoặc khi xác định điều kiện h… ởng trợ cấp cho chê độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp phải tính đến các yếu tố nh: Điều kiện và môi tr-

Trang 21

ờng lao động; bảo hộ lao động v.v Các yếu tố này th… ờng có quan hệ và tác

động qua lại với nhau ít nhiều ảnh hởng đến điều kiện BHXH của từng chế độ

và toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH

Thời gian hởn trợ cấp và mức hởng trợ cấp BHXH nói chung phụ thuộc vào từng trờng hợp cụ thể và thời gian đóng phí BHXH của ngời lao động trên cơ sở tơng ứng giữa đóng và hởng Đồng thời mức trợ cấp còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán chung của từng quỹ tài chính BHXH; mức sống chung của các tầng lớp dân c và ngời lao động Nhng về nguyên tắc, mức trợ cấp này không cao hơn mức tiền lơng hoặc tiền công khi ngời lao động đang làm việc và

nó chỉ bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với mức tiền lơng hay tiền công ở các nớc kinh tế phát triển do mức lơng cao nên tỷ lệ này thờng thấp và ngợc lại ở những nớc đang phát triển do mức tiền lêong còn thấp nên phải áp dụng một tỷ

lệ khá cao Ví dụ, ở pháp mức trợ cấp hu trí chỉ bằng 50% mức lơng cao nhất ( với điều kiện đóng BHXH đủ 37,5 năm ), ốm đau đợc hởng trợ cấp bằng 50% tiền lơng, thời gian nghỉ ốm đợc hởng trợ cấp không quá 12 tháng Sinh con đợc hởng trợ cấp BHXH bằng 90% tiền lơng trong vòng 16 tuần v.v Còn ở…Philipin, mức trợ cấp hu trí từ 42% đến 102%, tuỳ thuộc từng nhóm lơng khác nhau, ốm đau đợc hởng 65%, sinh con đợc nghỉ 45 ngày và đợc trợ cấp bằng 100% tiền lơng v.v…

Tuy vậy, việc các nớc quy định trợ cấp BHXH bằng tỷ lệ phần trăm so với tiền

l-ơng hay tiền công thờng dẫn đến bội chi quỹ BHXH Vì vậy, một số nớc đã phải tìm cách khắc phục nh: trả ngay 1 lần khi nghỉ hu, hoặc suốt đời đóng theo tỷ lệ phần trăm của một mức thu nhập quy định và hởng cũng theo tỷ lệ phần trăm của mức quy định

Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH, quỹ BHXH còn đợc

sử dụng cho chi phí quản lý nh: Tiền lơng cho những ngời làm việc trong hệ

Trang 22

thông BHXH; khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác Phần quỹ nhàn rỗi phải đ… ợc đem đầu t sinh lợi Mục đích đầu t quỹ BHXH là nhằm bảo toàn và tăng trởng nguồn quỹ.

Quá trình đầu t quỹ BHXH phải đảm bảo nguyên tắc: an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế- xã hội

chơng II

Tình hình quản lý thu- chi quỹ BHXH

tại cơ quan BHXH huyên VĂN GIANG

I/ Giới thiệu về BHXH Việt Nam và BHXH huyện Văn Giang

1 Giới thiệu về BHXH Việt Nam

Sự ra đời và phát triển của BHXH Việt Nam

BHXH Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu trong xã hội nhng tồn tại ở nhiều hình thức, nhiều chế độ mà cha thể hiện rõ bản chất của BHXH ở nớc ta, BHXH đã có mầm mống từ thời phong kiến Pháp thuộc Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính phủ nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà - nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã ban hành sắc lệnh số 29/SL ngày 12/03/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và hu trí Các chế độ này đợc thực hiện

đối với những ngời làm việc trong các cơ quan từ cơ sở đến Trung ơng Tuy nhiên, do chiến tranh và khả năng kinh tế còn có hạn, cho nên chỉ một bộ phận lao động xã hội đợc hởng quyền lợi BHXH

Trang 23

Sau khi hoà bình lập lại, ngày 27/12/1961 Nhà nớc ban hành nghị định số 128/CP của Chính phủ về “Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức” và đợc thi hành từ ngày 1/01/1962 Sau hơn 20 năm thực hiện BHXH đối với công nhân viên chức các chế độ BHXH đã bộc lộ nhiều hạn chế Do đó, ngày 18/09/1985 Chính phủ (lúc đó là Hội Đồng Bộ Trởng) đã ban hành nghị định số 236/HĐBT về việc sửa đổi bổ xung chính sách và chế độ BHXH đối với ngời lao động Nội dung chủ yếu của nghị định này là điều chỉnh mức đóng và hởng BHXH.

Tuy nhiên, chính sách BHXH ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, không phù hợp với cơ chế mới Vì vậy ngày 22/06/1993 Chính phủ đã ban hành nghị

định số 43/CP quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng cho các thành phần kinh tế, đánh dấu bớc đổi mới BHXH Việt Nam

Tuy vậy, chỉ khi Bộ luật lao động đợc Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/06/1994, Điều lệ tạm thời về BHXH theo nghị định số 12/CP của Chính phủ ban hành ngày 26/01/1995 và nghị định số 45/CP của Chính phủ ban hành ngày 15/07/1995 cho các đối tợng hởng BHXH

là công nhân viên chức và lực lợng vũ trang BHXH Việt Nam thực sự đổi mới nội dung, phơng thức hoạt động cũng nh tổ chức quản lý hoạt động Từ năm

1995 đến nay BHXH Việt Nam hoạt động theo phơng thức mới đã đem lại những kết quả tốt hơn nhng bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế cần phải khắc phục

Hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam

Từ khi đổi mới cơ chế quản lý hoạt động BHXH theo nghị định số 12/CP của Chính phủ ban hành ngày 26/01/1995 BHXH Việt Nam tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung thống nhất từ Trung Ương đến địa phơng và quản

lý quỹ tài chính độc lập không phụ thuộc ngân sách Nhà nớc, bao gồm các cấp:

ở Trung ơng là BHXH Việt Nam

ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương là BHXH tỉnh trực thuộc

Trang 24

BHXH đối với ngời lao động công bằng và đúng chế độ v.v đợc thể hiện qua sơ đồ sau:

Đại diện của BHXH ở cơ sở (chi nhánh BHXH xã

phường)

Trang 25

BHXH Việt Nam do Tổng giám đốc quản lý và điều hành thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Chỉ đạo và thực hiện việc thu BHXH theo quy định của Bộ luật lao

động, Điều lệ BHXH và các quy định của Chính phủ

- Quản lý quỹ tài chính và tổ chức việc chi trả BHXH cho ngời tham gia BHXH đợc đầy đủ và thuận tiện, đúng thời hạn

- Đợc quyền từ chối việc chi trả các chế độ BHXH cho các đối tợng hởng BHXH khi có kết luận của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền về hành vi man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu để đợc hởng BHXH đồng thời ra thông cáo về việc từ chối chi trả đó cho đối tợng, cơ quan sử dụng lao động và cơ quan pháp luật

- Bồi thờng mọi khoản thu-chi sai các quy định của Nhà nớc về BHXH cho các đối tợng tham gia BHXH và chịu trách nhiệm trớc pháp luật

- Xây dựng và tổ chức thực hiện dự án và biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng cờng quỹ BHXH theo quy định của Chính phủ

- Trình Thủ tớng Chính phủ quyết định về định mức chi phí quản lý và

định mức lệ phí thu-chi quỹ BHXH và các quy định khác có liên quan

đến hoạt động BHXH và tổ chức thực hiện các hoạt động nói trên

- Kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan Nhà nớc việc sửa đổi, bổ sung các chính sách và chế độ BHXH phù hợp với tình hình của đất nớc qua từng giai đoạn, từng thời kỳ

- Lu giữ hồ sơ, cấp và quản lý sổ BHXH

- Tổ chức thực hiện công tác thống kê, hạch toán kế toán, hớng dẫn nghiệp vụ thu chi BHXH và kiểm tra việc thực hiện; tổ chức công tác thông tin tuyên truyền, giải thích các chế độ chính sách về BHXH

Trang 26

- Kiểm tra việc thực hiện các chế độ thu chi BHXH.

- Giải quyết kịp thời các khiếu lại của ngời tham gia BHXH về việc thực hiện các chế độ, chính sách BHXH

- Thực hiện việc hợp tác quốc tế về sự nghiệp BHXH theo quy định của Chính phủ

- Quản lý tổ chức, viên chức, tài chính, cơ sở vật chất của BHXH Việt Nam theo quy định của Nhà nớc

- Thực hiện các báo cáo định kỳ về thu-chi và các hoạt động về BHXH cho Bộ LĐ-TB và XH và Bộ Tài chính

- BHXH Việt Nam đợc quan hệ trực tiếp với các cơ quan Nhà nớc và các

đoàn thể nhân dân ở Trung ơng và địa phơng, với các bên tham gia BHXH để giải quyết các vấn đề có liên quan đến BHXH theo quy định của Bộ luật lao động, Điều lệ BHXH

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chính phủ giao cho

Cơ cấu tổ chức bộ máy giúp việc cho Tổng giám đốc BHXH Việt Nam:

- Ban quản lý chế độ chính sách BHXH

- Ban quản lý thu BHXH

- Ban quản lý chi BHXH

- Ban kiểm tra-pháp chế

- Ban kế hoạch - tài chính

- Ban tổ chức cán bộ

- Văn phòng

- Trung tâm thông tin –khoa học

Nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế của các đơn vị nói trên do Tổng giám đốc quyết định

Trang 27

Hiện nay, do việc sát nhập BHYT vào BHXH nên tổ chức bộ máy còn có thêm một số phòng chức năng khác nh phòng trực tại bệnh viện, phòng thu BHXH tự nguyện.

2 Giới thiệu về BHXH huyện Văn Giang

Sự ra đời và phát triển

BHXH huyện Văn Giang là cơ sở BHXH cấp huyện trực thuộc BHXH tỉnh Hng Yên BHXH tỉnh Hng Yên là BHXH cấp tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam BHXH tỉnh Hng Yên chính thức đi vào hoạt động là ngày 1/10/1997, BHXH huyện Văn Giang là đơn vị hành chính sự nghiệp chịu sự quản lý theo ngành dọc, BHXH huyện Văn Giang đợc thành lập theo quyết định của BHXH Việt Nam vào ngày 1/01/2001, khi huyện Văn Giang đợc tách ra từ huyện Châu Giang (tách Châu Giang thành Văn Giang và Khoái Châu) Từ 1/10/1997 đến 1/01/2001 BHXH Văn Giang lúc đó hoạt động là BHXH Khoái Châu Khi BHXH huyện Văn Giang đợc thành lập và chính thức đi vào hoạt động đã lấy trụ

sở làm việc tại thị trấn Văn Giang, BHXH huyện Văn Giang có con dấu riêng và

mở tài khoản giao dịch công tác độc lập tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Văn Giang BHXH huyện Văn Giang có vị trí nh sau:

Sơ đồ 2:

BHXH Việt Nam BHXH tỉnh Hng Yên

BHXH huyện Văn Giang

Nh vậy, BHXH huyện Văn Giang là đơn vị trực thuộc BHXH tỉnh Hng Yên chịu sự quản lý của BHXH Việt Nam, đợc sự hớng dẫn và chỉ đạo của

Trang 28

BHXH tỉnh Hng Yên, BHXH huyện Văn Giang có trách nhiệm thực hiện nhiệm

vụ BHXH tỉnh Hng Yên giao cho gồm:

- Theo dõi, đốc thu BHXH 20% so với tổng quỹ lơng (hiện nay là 23%

do y tế nhập vào 3%) trong đó thu 15% của chủ sử dụng lao động (nay

là 17%) và 5% của ngời lao động (nay là 6%)

- Chi trả các chế độ nghỉ ốm, thai sản cho đối tợng tham gia đóng góp BHXH

- Tổ chức việc chi trả lơng hu, trợ cấp BHXH, cả việc chi pháp lệnh

h Đối chiếu tờ khai với hồ sơ gốc để triển khai cấp sổ BHXH

Hiện nay BHXH huyện Văn Giang do có sự sát nhập của BHYT nên có một số nhiệm vụ và quyền hạn của BHYT nh: cấp thẻ BHXH, tuyên truyền, vận

Trang 29

Nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế của các bộ phận nói trên do giám đốc BHXH tỉnh Hng Yên quyết định trong phạm vi tổng biên chế của BHXH huỵên

II/ Tình hình thực hiện BHXH ở nớc ta trong thời gian qua

1 Từ trớc năm 1995

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đợc thành lập và đang phải giải quyết trăm công ngàn việc mang tính sống còn của toàn dân tộc, nhng Đảng và Chính phủ vẫn quan tâm đến công tác BHXH đối với công nhân viên chức khi bị ốm đau, tai nạn, thai sản, tai nạn lao

động, già yếu và tử tuất Các chế độ BHXH trên đợc quy định trong một số điều của các sắc lệnh số 27/SL, số 29/SL và 77/SL (năm 1950) Đặc điểm thời kỳ này

là các cơ quan quản lý sử dụng cán bộ công nhân viên chức Nhà nớc, đồng thời

là cơ quan thực hiện các chế độ BHXH Có thể coi đây là thời kỳ manh nha về BHXH của Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam)

Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ ba (năm 1960): xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam, Quốc hội và chính phủ đã khẩn trơng thực hiện đề án xây dựng Điều

lệ về các chế độ BHXH và tổ chức quản lý công tác BHXH Ngày 14/12 năm

1961 Uỷ ban thờng vụ Quốc hội ra nghị quyết phê chuẩn việc hội đồng chính phủ quy định và ban bố “Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên

Trang 30

chức nhà nớc”; Hội đồng Chính phủ sẽ thoả thuận với Tổng công đoàn Việt Nam (nay là Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) về việc quản lý quỹ BHXH của Nhà nớc và quản lý các sự nghiệp BHXH Ngày 27/12/1961, Hội đồng Chính phủ ra nghị định số 218/CP ban hành “Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH ”

đối với công nhân viên chức nhà nớc, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1962

Từ nghị định trên, các chế độ BHXH đợc quy định riêng trong một văn bản pháp quy và hình thành tổ chức chuyên trách độc lập để quản lý và thực hiện các chế độ BHXH trong hệ thống Tổng công đoàn Việt Nam (nay là Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) Phơng tiện vật chất đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH

đối với công nhân viên chức nhà nớc là công đoàn tổ chức thu 4,7% so với tổng quỹ lơng của các cơ quan xí nghiệp, nông lâm trờng, bệnh viện, trờng học từ tháng 01/1962 đến tháng 01/1964, để chi trả 6 chế độ (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, hu trí, mất sức lao động, tử tuất)

Ngày 20/3/1962 Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 31/CP về việc điều chỉnh một số nhiệm vụ về quản lý và thực hiện các chế độ BHXH giữa Bộ Nội

vụ, Bộ lao động, Bộ công an, Bộ Y tế, Tổng công đoàn Việt Nam Ngày 23/03/1962, Hội đồng Chính phủ ra tiếp Nghị định số 39/CP về quy định nội dung thu và chi quỹ BHXH của Nhà nớc, phù hợp với nhiệm vụ đợc giao tại Nghị định số 31/CP Nội dung cơ bản hai Nghị định trên là về quản lý và các chế độ BHXH, Bộ nội vụ, Bộ lao động đợc giao thực hiện các chế độ BHXH nh:

Hu trí, mất sức lao động, xí nghiệp, Tổng công đoàn thực hiện các chế độ ốm

đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp và quản lý thu quỹ BHXH 3,7% so với tổng quỹ lơng của công nhân viên chức nhà nớc

Thực hiện hai Nghị định trên, các tổ chức BHXH ở các Bộ có liên quan

đ-ợc hình thành, riêng tổ chức BHXH của Tổng công đoàn đđ-ợc giữ nguyên, nhng thu gọn lại, do chỉ còn thực hiện 3 chế độ BHXH, có lúc Tổng công đoàn đã

Trang 31

nhập ban BHXH vào ban tài chính (1968-1973) Việc bàn giao nhiệm vụ, hồ sơ

đối tợng và quỹ giữa Tổng công đoàn với tổ chức BHXH các Bộ đến tháng 8/1964 mới xong Từ tháng 9/1994, Tổng công đoàn chỉ còn thu 3,7% quỹ lơng

để chi trợ cấp cho 3 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp BHXH các Bộ thu 1% tổng quỹ lơng để chi trả lơng hu, trợ cấp mất sức lao

động, trợ cấp tử tuất Do thay đổi tổ chức của các Bộ nên quản lý và thực hiện các chế độ BHXH đã chuyển giao từ Bộ nội vụ sang Bộ Lao động; Bộ Lao động sang Bộ Thơng binh xã hội, rồi lại nhập về Bộ Lao động –Thơng binh và xã hội

Về nguồn thu quỹ BHXH, trong nhiều năm, nghĩa vụ và trách nhiệm của thủ trởng các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh không đợc làm rõ, tất cả đều thu qua Ngân sách Nhà nớc, nghĩa vụ của ngời lao động bị lãng quên Do đó, thu không đủ chi ngày càng trầm trọng, Ngân sách Nhà nớc phải cấp bù ngày càng lớn, ví dụ: nguồn thu do ngành LĐ-TB và XH quản lý số thu năm 1985 chỉ

là 3.03% so với chi, Ngân sách Nhà nớc phải cấp bù tới 96,97% Để khắc phục

sự thiếu hụt nguồn quỹ BHXH, tháng 10/1986 Chính phủ đã quyết định nâng tỷ

lệ nguồn thu quỹ BHXH do ngành LĐ-TB và XH quản lý nên 10% và nguồn thu

do tổng công đoàn quản lý lên 5% so với tổng quỹ lơng Song tình trạng thu không đủ chi, thủ trởng các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh vẫn không trích nộp BHXH đúng quy định, nên năm 1987 số thu do ngành LĐ-TB và XH quản

lý chỉ đạt 2,34% so với số chi

Từ năm 1988 đến năm 1994 số thu BHXH mới nhích dần từ hơn 12% đến hơn 32% so với số chi Nguồn thu BHXH do Tổng Công Đoàn quản lý có khả quan hơn bình quân 30 năm số thu đạt 4,1% quỹ lơng trên năm, đảm bảo chi trả

và phát triển sự nghiệp BHXH, do biết nắm chặt nghĩa vụ trích nộp BHXH với quyền lợi của ngời lao động và ngời quản lý ở các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh

Trang 32

doanh: nếu đơn vị cơ quan nào vận động giảm tỷ lệ ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao

động – bệnh nghề nghệp theo kế hoạch hàng năm đã duyệt thì đợc sử dụng từ 50% đến 70% số tiền giảm chi cho 3 chế độ đó để chi cho nghỉ ngơi, dỡng sức Ngoài ra, các thành viên ban BHXH của đơn vị hàng năm đợc khen thởng thích

đáng do thành tích thu vợt mức và giảm chi 3 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao đông-bệnh nghề nghiệp

Về các chế độ BHXH, hơn 30 năm trớc khi ra đời, Chính phủ đã nhiều lần

điều chỉnh để đảm bảo quyền lợi cho ngời đợc hởng các chế độ BHXH phù hợp với sự phát triển về kinh tế của đất nớc và công bằng xã hội, điển hình là đợt

điều chỉnh lơng hu và trợ cấp xã hội theo nghị định số 236/HĐBT năm 1985, các quyết định bù giá năm 1988, điều chỉnh lại chế độ mất sức lao động theo quyết định sô 60/HĐBT năm 1990

Để phù hợp với cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc, ngày 22/06/1993, Chính phủ có Nghị định số 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH thay thế cho Nghị định só 218/CP của Chính phủ ngày 27/12/1961 Nội dung nghị định đã bao hàm cả những cải cách lớn về BHXH; làm rõ trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp, xây dựng quỹ BHXH của ngời sử dụng lao động và ngời lao động; các chế độ BHXH chỉ còn lại 5 chế độ (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, hu trí, tử tuất) chế độ mất sức lao động đợc đa vào chế độ hu trí, hởng tỷ lệ thấp hay trợ cấp 1 lần Sau một năm, ngày 23/06/1994 tại kỳ họp thứ 5 quốc hội khoá IX đã thông qua Bộ Luật lao động, trong đó có chơng XII về BHXH

Đây là một chấm phá, cải cách các chế độ BHXH và tổ chức thu – chi, thực hiện các chế độ BHXH Thi hành Bộ Luật lao động về BHXH, Chính phủ

đã ra nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 về việc thành lập BHXH

Trang 33

Nh vậy, sau hơn 30 năm hoạt động, các tổ chức BHXH tiền thân của BHXH Việt Nam về cơ bản đã có đóng góp đáng kể góp phần thúc đẩy sản xuất, xây dựng XHCN ở Miền Bắc, giải phóng ở Miền Nam và xây dựng lại Tổ Quốc

kể từ sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 Từ hoạt động thực tiễn của các tổ chức BHXH tiền thân đã rút ra các bài học kinh nghiệm: Tổ chức quản lý còn phân tán, manh mún; vừa quản lý Nhà nớc, vừa tổ chức thực hiện các chế độ BHXH không khác gì “vừa đá bóng, vừa thổi còi”; quỹ BHXH cha hạch toán

độc lập với Ngân sách Nhà nớc; quản lý thu – chi còn mang nặng tính bao cấp, nghĩa vụ và quyền lợi của chủ sử dụng lao động và ngời lao động cha làm rõ Những bài học trên là cơ sở để đổi mới, cải cách tổ chức quản lý và thực hiện các chế độ BHXH

đúng đối tợng, đúng kỳ, đúng số, an toàn và kịp thời

Hoạt động hiệu quả của BHXH đã thực sự góp phần bảo đảm an sinh xã hội và tăng trởng kinh tế đất nớc

III/ Tình hình quản lý thu BHXH tại BHXH huyện Văn Giang

Trang 34

1 Thu BHXH

Tham gia BHXH là nghĩa vụ của các đơn vị sử dụng lao động nhằm thực hiện quyền lợi của ngời lao động theo quy định của Bộ Luật lao động Chính sách BHXH hiện nay đang đợc thực hiện nhằm đạt tới mục tiêu là tạo nên một quỹ BHXH độc lập với Ngân sách Nhà nớc, thực hiện đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho ngời lao động Từ đó, thu BHXH trở thành một nhiệm vụ quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của công tác BHXH Sau một thời gian hoạt động, công tác thu BHXH ngày càng thuận lợi và đi vào

ổn định Hệ thống các văn bản pháp lý do Nhà nớc và các cơ quan chức năng ban hành phục vụ cho công tác BHXH ngày càng đợc hoàn thiện Nền kinh tế Việt Nam với mức tăng trởng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều đơn

vị đạt hiệu quả dẫn đến đời sống của ngời lao động đợc nâng cao, đó là điều kiện thuận lợi cho việc tham gia và đóng BHXH, nhng yếu tố quyết định là những nỗ lực toàn diện của ngành BHXH Việc tuyên truyền phổ biến các chế

độ, chính sách BHXH đợc thực hiện liên tục trong cả nớc đã nâng cao nhận thức

về nghĩa vụ và quyền lợi tham gia BHXH của đông đảo chủ sử dụng lao động và ngời lao động Việc thực hiện, giải quyết các chế độ BHXH cho ngời lao động nhanh chóng, đầy đủ và thuận lợi đã tạo niềm tin tởng của các đơn vị sử dụng lao động và ngời lao động đối với cơ quan BHXH Các bộ phận chuyên trách thu BHXH của ngành từ Trung ơng đến địa phơng luôn tăng cờng theo dõi, quản lý chặt chẽ số lao động, số thu BHXH của các đơn vị, đôn đốc họ nộp đủ BHXH và

đúng thời hạn Qua từng năm số đơn vị và ngời lao động tham gia BHXH đều tăng thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1:

Năm Lao động

(ng-ời)

Tỷ lệ (NS/NT)

Số thu (triệu đồng)

Tỷ lệ (NS/NT)

Trang 35

1996 2.961.444 128,4% 2.569.733

(Nguồn BHXH Việt Nam)

Bảng số liệu cho thấy các chỉ tiêu công tác thu BHXH qua các năm đều gia tăng, năm sau cao hơn năm trớc Đặc biệt số lao động năm 1998 tham gia BHXH so với năm 1995 tăng 1.079.591 lao động, tổng số thu BHXH năm 1998 tăng so với năm 1995 là 3.087.470 triệu Năm 1999 BHXH Việt Nam đã thu đợc 4.188.382 triệu đồng đạt 106,9% kế hoạch năm và năm 2000 thu đạt 5.215.200 triệu đồng so với năm 1996 thì số thu năm 2000 tăng 200% và số thu BHXH còn tiếp tục tăng vào những năm tiếp theo khi mà chế độ BHXH tự nguyện đợc đa

ra

Vậy thu BHXH là một hoạt động thờng xuyên và đa dạng trong các hoạt động BHXH, có nhiều quan niệm khác nhau về thu BHXH nhng có thể hiểu chung nhất về hoạt động thu quỹ BHXH ở phần sau

Những vấn đề chung về thu quỹ BHXH

Thu quỹ BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH cùng với sự phối hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm tạo ra các nguồn tài chính tập trung (quỹ BHXH tập trung), từ việc đóng góp của các bên tham gia BHXH và những nguồn tài chính bổ xung khác

Thu quỹ BHXH là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động BHXH nói chung, nó đảm bảo cho sự tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung và tạo

ra nguồn tài chính để có thể tiến hành các hoạt động BHXH Do đó mà việc

đóng góp vào BHXH của các bên tham gia BHXH là sự tất yếu trong hoạt động BHXH, vì những lý do sau:

Trang 36

- Việc đóng góp quỹ BHXH đánh dấu sự đóng góp của những ngời tham gia BHXH, là cơ sở để đo sự đóng góp của các bên tham gia BHXH.

- Tạo ra đợc nguồn tài chính tập trung từ đó có thể tiến hành thống nhất các hoạt động BHXH

- Nguồn thu của BHXH đợc hình thành từ ba nguồn chủ yếu: đóng góp của ngời lao động, ngời sử dụng lao động và phần hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nớc; nguồn thu này phản ánh rõ nét quan hệ ba bên trong BHXH,

là cơ sở để tạo ra các quan hệ khác trong BHXH

- Thực chất, quan hệ ba bên trong BHXH là mối quan hệ về lợi ích do

sự đóng góp vào BHXH của các bên tham gia là mối quan hệ về lợi ích, từ việc tham gia đóng góp BHXH các bên tham gia BHXH đều tìm kiếm đợc lợi ích cho mình một lợi ích nhất định, ngời sử dụng lao

động tìm kiếm lợi ích từ việc họ sẽ bỏ ra ít chi phí hơn khi ngời lao

động không may gặp phải những rủi ro, ngời lao động đợc tìm kiếm lợi ích từ việc họ đợc hởng các quyền lợi khi họ không may gặp phải những rủi ro, Nhà nớc đạt đợc mục tiêu ổn định đợc xã hội, ổn định đ-

ợc mối quan hệ lợi ích giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động trong xã hội, thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển

Từ đó có thể nói rằng, thu BHXH là một phần quan trọng không thể thiếu

đợc của hoạt động BHXH

Công tác thu BHXH tại BHXH huyện Văn Giang

Huyện Văn Giang là một huyện làm nông nghiệp là chủ yếu, khu công nghiệp còn hạn chế, các nhà máy xí nghiệp cha nhiều Nhng trong những năm gần đây trên địa bàn huyện có một số cơ sở đợc xây dựng và đi vào hoạt

Trang 37

động đã đem lại nguồn thu cho BHXH huyện nh: Công ty Vật liệu xây dựng, Cơ sở sản xuất nấm, Nhà máy gốm sứ Văn Giang

Tuy bớc đầu còn gặp nhiều khó khăn về địa điểm làm việc vì trụ sở chính của cơ quan cha đợc hoàn thiện, cán bộ chuyên môn cha có nhiều kinh nghiệm công tác thu BHXH tại huyện Văn Giang phải dựa vào danh sách lao động, tổng quỹ lơng, mức lơng của ngời lao động nên hoạt động của cơ quan còn gặp nhiều khó khăn nhng BHXH huyện Văn Giang đã cố gắng hoàn thành kế hoạch do tỉnh giao đúng thời hạn

Để thực hiện đợc đầy đủ công tác thu BHXH đúng thời hạn thì nhất thiết cơ quan BHXH huyện Văn Giang phải thiết lập đợc danh sách lao động của các đơn vị cùng với tổng quỹ lơng hàng tháng của ngời lao động

Theo Điều lệ của BHXH quy định thì việc đóng BHXH phải đợc theo dõi, ghi chép kết quả của từng đơn vị, từng ngời lao động Theo đó, chủ sử dụng lao động đóng 15% quỹ tiền lơng (nay là 17%), ngời lao động đóng bằng 5% (nay là 6%) tiền lơng làm căn cứ đóng BHXH

Để đạt đợc chỉ tiêu thu quỹ BHXH cơ quan BHXH Văn Giang đề ra hình thức và biện pháp tổ chức triển khai nh sau:

- Rà soát nắm lại cơ sở đóng trên địa bàn huyện thuộc huyện quản lý

- Tổ chức đại lý chi trả và đôn đốc thu BHXH với từng xã, từng đơn vị

- Vào sổ cập nhật theo dõi đối chiếu việc thực hiện trích đóng BHXH của từng đơn vị kịp thời

- Tổ chức triển khai vận động các doanh nghiệp t nhân thực hiện

đăng ký đóng BHXH cho ngời lao động, hớng dẫn cơ sở tổ chức thực hiện tốt các quyền lợi cho ngời lao động theo luật định và

Điều lệ BHXH quy định

Ngày đăng: 14/12/2012, 15:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1 - Tình hình quản lý thu - chi quỹ bảo hiểm xã hội huyện Văn Giang
Sơ đồ 1 (Trang 24)
Sơ đồ 3: - Tình hình quản lý thu - chi quỹ bảo hiểm xã hội huyện Văn Giang
Sơ đồ 3 (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w