1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Kl tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân trên địa bàn huyện quỳnh lưu, nghệ an hiện nay

68 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kl tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An hiện nay
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Bảo vệ Môi trường
Thể loại Nghiên cứu Tuyên truyền
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 74,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Hiện nay, môi trường là một vấn đề nóng của toàn nhân loại và là một vấn đề thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều quốc gia trên thế giới Chúng ta có thể thấy rằng, khí hậu ngà[.]

Trang 1

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Hiện nay, môi trường là một vấn đề nóng của toàn nhân loại và là mộtvấn đề thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều quốc gia trên thế giới Chúng ta cóthể thấy rằng, khí hậu ngày càng khắc nghiệt và khó dự báo hơn, mưa bão lũquét thất thường, suy thoái đất, nước, suy giảm nguồn tài nguyên rừng, ô nhiễmmôi trường xảy ra trên diện rộng… Đó là các vấn đề về môi trường mà toànnhân loại đã và đang đối mặt Bảo vệ môi trường đang là một bộ phận quantrọng trong chiến lược phát triển bền vững, không chỉ đối với mỗi quốc gia màcòn mang tính thời sự toàn cầu Vấn đề này cũng được thể hiện rõ thông quahàng loạt các hội nghị về môi trường và bảo vệ môi trường do Liên Hợp Quốc tổchức như ở Braxin (1922), ở Bungari (1997) và gần đây nhất là ở Nam Phi(2002) Hội nghị thượng đỉnh về môi trường với sự tham gia của 180 nước tạiRio de Janerio (06/1992) đã đưa ra hàng loạt các thông điệp về bảo vệ môitrường và nhanh chóng trở thành tiếng nói mạnh mẽ của cả thế giới

Ở Việt Nam, trước sự phát triển của các đô thị và hoạt động sản xuất kinh

tế trong những năm qua, ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề nghiêm trọng.Cùng với các thành phố lớn khác, Hà Nội – trung tâm chính trị, văn hóa, xã hộicủa cả nước hiện đang được coi là nơi có mức độ ô nhiễm môi trường cao nhất.Toàn thành phố hàng ngày, hàng giờ đang phải đối mặt với sự ô nhiễm, đặc biệt

là sự ảnh hưởng xung quanh các khu vực tạo ra chất thải Chất lượng môi trườngngày càng suy giảm, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sức khỏe của mọingười dân Vì thế, mà trong những năm trở lại đây, Việt Nam luôn nhấn mạnhtầm quan trọng và dành sự ưu tiên cho công tác bảo vệ môi trường

Năm 1993, Luật bảo vệ môi trường ra đời, cùng với đó là chỉ thị, nghịquyết từng bước đi vào cuộc sống của người dân Chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội 2001 -2010 đựơc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng thôngqua đã khẳng định quan điểm phát triển đất nước là “Phát triển nhanh, hiệu quả

Trang 2

và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội

và bảo vệ môi trường” Nghị định số 175/CP ngày 18/10/1994 hướng dẫn thihành Luật bảo vệ môi trường, nghị định số 26/CP ngày 26/4/1996 quy định xửphạt hành chính về bảo vệ môi trường Ngày 15/11/2004, Bộ chính trị (khóa IX)

đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nêu rõ quan điểm: Bảo vệ môitrường vừa là nhiệm vụ phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa dạng và liên vùng rấtcao; vì vậy, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của câp ủy đảng, sự quản lýthống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt Trận Tổ quốc và cácđoàn thể nhân dân Có thể nói qua việc ban hành những văn bản pháp luật này

đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đến vấn đề môi trường,phát huy được tính năng động, tích cực của các ban ngành đoàn thể trong việctriển khai công tác bảo vệ môi trường một cách đồng bộ, hiệu quả, đồng thờigiúp cho đại bộ phận nhân dân nhận thức rõ ràng hơn về tầm quan trọng, ý nghĩacủa việc giữ gìn và bảo vệ môi trường

Quỳnh Lưu là một huyện miền núi, người dân chủ yếu làm nông nghiệp,

đời sống của nhân dân ở một số xã còn gặp nhiều khó khăn Cơ sở vật chất, hạtầng kỹ thuật, hệ thống xử lý rác thải chưa đáp ứng được với yêu cầu của sự pháttriển, tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra ngày càng nghiêm trọng, gây ảnhhưởng lớn đến cuộc sống và sức khỏe của người dân Với quan điểm: “Phát triểnnhanh các ngành dịch vụ: du lịch, thương mại, vận tải, bưu chính viễn thông,giáo dục, y tế, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; các ngành công nghiệp có lợi thếtại các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế như: công nghiệp sản xuất vật liệuxây dựng, chế biến nông - lâm – thủy sản, thực phẩm, điện tử, công nghệ thôngtin, cơ khí … Xây dựng một nền nông – lâm nghiệp – thủy sản đa dạng gắn vớibảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái” Tỉnh Nghệ An đã tổ chức và triểnkhai thực hiện Công tác bảo vệ môi trường đã được tiến hành rộng khắp cáchuyện và các xã thuộc huyện, trong đó có huyện Quỳnh Lưu

Trang 3

Xuất phát từ những yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn, nhận thức rõ đượctầm quan trọng của môi trường cũng như vai trò của công tác tuyên truyền trong

việc bảo vệ môi trường, tôi đã lựa chọn đề tài: “Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Với mong muốn qua việc đánh giá về

ý thức của người dân để có thể bước đầu đề xuất một số giải pháp, khuyến nghịnhằm nâng cao ý thức tự giác cho mọi người dân trên địa bàn huyện đối với việcbảo vệ môi trường

2 Lịch sử nghiên cứu.

Trong những năm trở lại đây, công tác tuyên truyền bảo vệ môi trườngkhông phải là một vấn đề mới mẻ mà nó đã nhận được nhiều sự quan tâm nghiêncứu của các nhà khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học hướng vào nội dungmôi trường và bảo vệ môi trường đã được triển khai và xúc tiến mạnh mẽ Cóthể kể đến một số đề tài nghiên cứu khoa học sau:

Đề tài “Những giải pháp nâng cao nhận thức và hành động bảo vệ môitrường của thanh thiếu niên trường phổ thông” do tác giả Ngô Thị Kim Ngọcthực hiện năm 2000 Với đề tài này, tác giả đã xây dựng, đề xuất những giảipháp giáo dục thanh thiếu niên các trường học phổ thông tỉnh Quảng Ngãi nângcao nhận thức và bảo vệ môi trường

Bài phát biểu của GS – TSKH Trần Văn Nhung, thứ trưởng Bộ Giáo dục

và đào tạo tại buổi khai mạc “lớp tập huấn về giáo dục bảo vệ môi trường” ngày1/06/2001 đã chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân chính của tình trạng ônhiễm môi trường là do nhận thức và thái độ của con người đối với môi trườngcòn hạn chế Từ đó, tác giả nhấn mạnh rằng công tác giáo dục bảo vệ môitrường mang một ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là đối với đội ngũ giảng viên, giáoviên và đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền

Dự án “Nâng cao trình độ nhận thức về môi trường” của Bộ Giáo dục vàđào tạo phối hợp với Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, Bộ Kế hoạch và

Trang 4

đầu tư vào năm 2002 Dự án đã mô tả các chiến dịch “bảo vệ môi trường” ở cáccấp địa phương và đánh giá hiệu quả công tác bảo vệ môi trường ở tuyến xã,phường về các mặt: hoạt động thông tin – giáo dục – tuyên truyền về bảo vệ môitrường Từ đó, dự án đã đề ra một số khuyến nghị và giải pháp góp phần nângcao chất lượng, hiệu quả của các chiến dịch “bảo vệ môi trường”.

Một số bài báo như: Giải bài toán tiêu chí môi trường trong xây dựngnông thôn mới (Theo Thu Nga, Báo Nghệ An), Quỳnh Bá (Quỳnh Lưu) chăm lobảo vệ môi trường (Theo Thanh Lê, Báo Nghệ An), Tuổi trẻ Quỳnh Lưu chungtay làm sạch bãi biển, hưởng ứng ngày môi trường thế giới (Theo Thúy Nga,Đài TH Quỳnh Lưu)…

Như vậy, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã đề cập tớivấn đề môi trường, đồng thời đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm giáo dụcnâng cao ý thức bảo vệ môi trường Nhận thức được tầm quan trọng của môitrường sống cũng như việc bảo vệ môi trường sống cho mọi người dân, tôi đãquyết định lựa chọn đề tài “Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường chongười dân trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An hiện nay” làm đề tài khóaluận Với đề tài này, tôi cũng đề cập đến vấn đề ô nhiễm môi trường nhưng xemxét vấn đề dưới góc độ công tác tuyên truyền Đề tài có sự tham khảo nhữngthông tin, tư liệu, thông tin từ các phương tiện truyền thông và quá trình nghiêncứu thực tiễn của cá nhân về vấn đề nghiên cứu để hoàn thiện việc bài khóa luậnmột cách tốt nhất

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận của tuyên truyền và tuyên truyềnnâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân Đề tài cũng nhằm xác địnhthực trạng môi trường và nguyên nhân của thực trạng đó, trên cơ sở đó đưa ramột số giải pháp và khuyến nghị góp phần nâng cao chất lượng môi trường, đặcbiệt là nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người dân

Trang 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề lý luận về tuyên truyền và tuyên truyền nâng cao ýthức bảo vệ môi trường cho người dân, những biểu hiện của ý thức bảo vệ môitrường của người dân

Khảo sát thực trạng về những biểu hiện của ý thức bảo vệ môi trường vàthực trạng tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân trênđịa bàn huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An hiện nay

Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục những biểu hiện tiêucực trong ý thức bảo vệ môi trường của người dân cũng như tăng cường côngtác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân trên địa bànhuyện Quỳnh Lưu nói riêng và người dân tỉnh Nghệ An nói chung

Nghiên cứu các tài liệu, văn bản có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằmxây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, định hướng cho việc nghiên cứu thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác tuyên truyền nâng cao ý thứcbảo vệ môi trường cho người dân trên địa bàn huyện

4.2 Phạm vi nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực trạng công tác tuyên truyền nângcao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân ở một số xã tiêu biểu trên địa bànhuyện, đó là : xã Ngọc Sơn, xã Quỳnh Bảng, xã Quỳnh Thuận, xã Quỳnh Hồng,

xã Quỳnh Tân, xã Quỳnh Hậu

Thời gian nghiên cứu: 2015- 2016

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.

5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn.

Trang 6

Cơ sở lý luận của bài khóa luận là chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tuyêntruyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân Đồng thời trong quátrình thực hiện, bài tiểu luận có sự kế thừa, chọn lọc những kết quả nghiên cứu

từ một số công trình khoa học có liên quan

Ngoài ra, bài khóa luận còn là kết quả của quá trình khảo sát, nghiên cứuthực tiễn về thực trạng tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường chongười dân trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp luận

Trong đề tài này, tôi chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu và phân tích nhữngtài liệu lý luận có liên quan đến vấn đề tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môitrường cho người dân Trên cơ sở đó, xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, xâydựng được khái niệm tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho ngườidân và xác định được các tiêu chí để đánh giá ý thức bảo vệ môi trường củangười dân

5.2.2 Phương pháp cụ thể

Đề tài sử dụng một số phương pháp như: phương pháp nghiên cứu tàiliệu, phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp tổng kết kinh nghiệm,phương pháp quan sát, phỏng vấn sâu

6 Cái mới của đề tài.

Đây là đê tài nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn vềtuyên truyền và tuyên truyền bảo vệ môi trường, trên cơ sở nghiên cứu một sốtài liệu có chọn lọc, kết hợp đúc rút thực tiễn, tôi đã đưa ra một số tiêu chí phục

vụ việc đánh giá ý thức bảo vệ môi trường và tăng cường công tác tuyên truyềnnâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người dân

Trang 7

Trên cơ sở khảo sát thực tiễn, khóa luận đã trình bày tổng quan thựctrạng về tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường giai đoạn hiện nay vàtìm ra nguyên nhân chủ yếu của thực trạng đó.

Khóa luận đã đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường côngtác tuyên tryền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân Các giải phápnày có giá trị tham khảo tốt góp phần nâng cao chất lượng môi trường và đặcbiệt là nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người dân ở huyện QuỳnhLưu, Nghệ An hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

Đề tài giúp đánh giá một cách tổng quan, cụ thể về thực trạng tuyêntruyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân trên địa bàn huyện Từ

đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền thực tiễn bảo vệ môitrường trong giai đoạn hiện nay Khoá luận có thể góp phần làm tài liệu thamkhảo trong nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền về nâng cao ý thức bảo vệ môitrường cho tất cả mọi người, góp phần hình thành và rèn luyện ý thức bảo vệmôi trường, bảo vệ môi trường sống của chính chúng ta

8 Kết cấu của đề tài.

Kết cấu của khóa luận gồm có phần Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Danh

mục tài liệu tham khảo Khóa luận gồm có 3 chương, 11 tiết, 22 tiểu tiết PhầnNội dung gồm ba chương sau:

Chương I: Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho ngườidân – Một số vấn đề lý luận

Chương II: Thực trạng và những vấn đề đặt ra về công tác truyên truyềnnâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân trên địa bàn huyện QuỳnhLưu, Nghệ An hiện nay

Chương III: Giải pháp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dântrên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An hiện nay

Trang 8

1.1.1 Các quan niệm về tuyên truyền.

Trong Đại bách khoa toàn thư Liên Xô, thuật ngữ tuyên truyền có hainghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Tuyên truyền theo nghĩa rộng là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằmtruyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến nhữngkiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng,thôi thúc đối tượng hành động theo những định hướng, những mục tiêu do chủthể tuyên truyền đặt ra

Tuyên truyền theo nghĩa hẹp là truyền bá những quan điểm lý luận nhằmxây dựng cho quần chúng một thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích củachủ thể tuyên truyền và kích thích những hành động thực tế phù hợp với thế giớiquan ấy Như vậy, tuyên truyền theo nghĩa hẹp chính là tuyên truyền tư tưởng,tuyên truyền chính trị mà mục đích của nó là hình thành trong đối tượng tuyêntruyền một thế giới quan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ vũtính tích cực xã hội của con người

Tuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vịtrí hết sức quan trọng, bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ mục đíchcủa tuyên truyền đó là “Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân hiểu,dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyềnthất bại” Người nói “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho aixem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn chongười ta nghe, không muốn cho người ta xem” Cán bộ tuyên truyền cần xácđịnh rõ ràng nội dung, đối tượng, mục đích, và phương pháp: “Tuyên truyền cái

Trang 9

gì, Tuyên truyền cho ai, Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào?”.Bác cho rằng: “Tuyên truyền không cần phải nói tràng giang đại hải Mà nóingắn gọn, nói những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được,để cho mọi ngườihiểu rõ và quyết tâm làm bằng được”

Theo Giáo trình Nguyên lý công tác tư tưởng, tuyên truyền là hoạt độngtiếp nối công tác lý luận, truyền bá hệ tư tưởng vào trong quần chúng, làm cho

hệ tư tưởng chiếm địa vị thống trị trong xã hội Tuyên truyền làm cho lý luận cósức sống mạnh mẽ, thể hiện sinh động trong thực tiễn, trở thành kim chỉ namcho hoạt động thực tiễn

1.1.2 Các quan niệm về môi trường và bảo vệ môi trường.

*Các quan niệm về môi trường

Môi trường là một khái niệm có nội hàm rộng và được sử dụng trong

nhiều lĩnh vực khác nhau Môi trường theo định nghĩa thông thường: “là toàn

bộ những điều kiện tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay mọi sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy” Môi trường là

tập hợp các thành phần vật chất vô cơ, sinh vật và con người cùng tồn tại và pháttiển trong cùng một không gian và thời gian nhất định giữa chúng có sự tươngtác với nhau theo nhiều chiều mà tổng hòa các mối tương tác đó sẽ quyết địnhlên chiều hướng phát triển của toàn bộ hệ thống môi trường

Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Quốc hội nước CHXHCNVN

khóa 11 kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định: “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người,

có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển cuả con người và sinh vật”

Trong tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là:

“Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanhmình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác tàinguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người”

Trang 10

Môi trường còn có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theonghĩa rộng thì môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho

sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí,đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội…

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉbao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng cuộcsống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo,bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường,

tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm vớinhững quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận,thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư,quy định

Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở đểsống và phát triển

Đối với con người thì môi tường sống của con người là tổng hợp các điềukiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới

sự sống, sự phát triển của từng cá nhân và toàn bộ cộng đồng người Thuật ngữ

“môi trường” thường được dùng với nghĩa này Môi trường sống của con người

là vũ trụ bao la, trong đó hệ mặt trời và trái đất là những bộ phận có ảnh hưởngtrực tiếp và rõ rệt nhất Môi trường sống của con người theo chức năng đượcchia thành các loại: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhântạo

Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như: vật lý, hóahọc, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tácđộng của con người Đó là ánh sáng mặt trời, sông núi, biển cả, không khí, động

và thực vật, đất và nước…Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất đểxây nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi; cung cấp cho con người các loại tài nguyên,khoáng sản phục vụ sản xuất và tiêu thụ

Trang 11

Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với conngười Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau Môi trường

xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạonên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống cuả conngười khác với các sinh vật khác

Môi trường nhân tạo bao gồm các nhân tố do con người tạo nên, làmthành những tiện nghi trong cuộc sống như: ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, cáckhu đô thị, công viên,…

Như vậy, có thể nêu ra định nghĩa chung nhất về môi trường như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạoquan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”

*Các quan niệm về bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành,sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó với sự

cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường;khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạngsinh học

Bảo vệ môi trường là việc ban hành các chính sách, chủ trương, đưa racác chỉ thị, nghị quyết nhằm ngăn chặn hậu quả xấu của môi trường, các sự cốmôi trường do con người và thiên nhiên gây ra

Bảo vệ môi trường còn bao hàm cả ý nghĩa việc sử dụng hợp lý tàinguyên thiên nhiên, loại bỏ những yếu tố bất lợi và các chất nhiễm bẩn do cáchoạt động sống của con người gây ra, đồng thời điều chỉnh và tạo nên môitrường sống tiện nghi và bền vững cho con người Theo cách hiểu này thì hàngngày hàng giờ đã và đang có bao nhiêu việc làm bảo vệ môi trường diễn ra xung

Trang 12

quanh chúng ta như: quét dọn đường phố, tưới cây, khơi thông cống rãnh, trồngrừng…

Đại hội lần thứ IX (2001), của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định:

“…Phát triển nhanh hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thựchiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, giữ vững và ổn định chínhtrị xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng”[16,tr.15] Nghĩa là quan điểm phát triểnbền vững ở Việt Nam bao gồm 4 nhóm mục tiêu lớn: Môi trường, kinh tế, chínhtrị, xã hội và an ninh quốc phòng.Các nhóm này có mối quan hệ chặt chẽ, tácđộng qua lại lẫn nhau, là nguyên nhân và hệ quả của nhau

Nghị quyết Đại hội X (2006), Đảng ta nhấn mạnh: chiến lược kinh tếphát triển kinh tế - xã hội 2001-2011 là: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa và phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với pháttriển kinh tế, đảm bảo phát triển nhanh và bền vững, ổn định chính trị - xã hội,đảm bảo an ninh quốc phòng”[17,tr.20]

Đại hội lần thứ IX (2011), Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dânlà: …Phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, pháttriển đất nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh, vững bước phát triển đilên chủ nghĩa xã hội” [18,tr.152] Trong văn kiện này nhấn mạnh quan điểmphát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam: “Phát triển kinh tế nhanh nhưngbền vững, kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng

xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân Phát triển kinh tế - xã hộiphải luôn coi trọng, bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động phòng chông thiêntai và ứng phó với biến đổi khí hậu”[18,tr.152] Đặc biệt, mục tiêu Đại hội Đảnglần thứ XI đã đề ra là: “Cải thiện chất lượng môi trường, đến năm 2020 tỷ lệ chephủ rừng đạt 45% (kể cả cây công nghiệp lâu năm) Sử dụng nước sạch ở hầuhết đô thị và nông thôn, cơ sở kinh doanh phải áp dụng công nghệ sạch, 80%chất nguy hại, 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn”[18,tr.105 – 106]

Trang 13

Quán triệt, vận dụng có hiệu quả những quan điểm,tư tưởng về môitrường và bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà nước ta coi công tác bảo vệ môitrường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, là quyền lợi và nghĩa

vụ của mỗi công dân và trách nhiệm của toàn xã hội, là văn hóa, đạo đức mangtính nhân văn sâu sắc, thể hiện lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nướccủa mỗi con người Đây là nội dung không thể tách rời trong đường lối, chủtrương và chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nước ta; là cơ sở quan trọng

để đảm bảo phá triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Như vậy, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững làmột yêu cầu tất yếu khách quan của xã hội hiện đại

1.1.3 Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân.

* Ý thức

 Theo Triết học Mác – Lênin, Ý thức là sự phản ánh mang tính năng động

và sáng tạo của hiện thực khách quan vào óc người Ý thức tuỳ phục thuộc vàonăng lực phản ánh của chủ thể, tâm trạng của chủ thể phản ánh và mục đíchphản ánh

Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở khảnăng hoạt động tâm – sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhậnthông tin, chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, lưu giữ thông tin và trên cơ sởnhững thông tin đã có nó có thể tạo ra những thông tin mới và phát hiện ý nghĩacủa thông tin được tiếp nhận Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ýthức còn được thể hiện ở quá trình con người tạo ra những giả tưởng, giả thuyết,huyền thoại, trong đời sống tinh thần của mình hoặc khái quát bản chất, quiluật khách quan, xây dựng các mô hình tư tưởng, tri thức trong các hoạt độngcủa con người

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nghĩa là: ý thức làhình ảnh về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan qui định cả

Trang 14

về nội dung, cả về hình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thếgiới khách quan mà nó đã cải biến thông qua lăng kính chủ quan của con người.Theo Mác: ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong đầu óccon người và được cải biến đi trong đó”.

Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội Sự ra đời và tồntại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ củacác qui luật sinh học mà chủ yếu là của các qui luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp

xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của xã hội qui định Với tính năngđộng, ý thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội

Tâm lý học đã đưa ra định nghĩa về ý thức như sau:

Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người, là sựphản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu trong quá trình quan hệvới thế giới khách quan

Từ “ý thức” có thể được dùng với nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp Theo nghĩarộng, ý thức thường được dùng đồng nghĩa với tinh thần tư tưởng (ý thức tổchức, ý thức kỷ luật ) Theo nghĩa hẹp, khái niệm ý thức được dùng để chỉ mộtcấp độ đặc biệt trong tâm lý con người

Dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với xã hội và giữa con ngườivới tự nhiên, triết học mác-xít đã phân loại ý thức xã hội thành các hình tháikhác nhau Cụ thể là các hình thái: chính trị, pháp quyền, triết học, dạo đức, ýthức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và khoa học Một số vấn đề đặt ra ở đây là, ý thứcbảo vệ môi trường (hay ý thức sinh thái) là gì, nó có phải là một hình thái của ýthức xã hội không và biểu hiện của nó như thế nào trong thực tiễn đời song xãhội ?

* Ý thức bảo vệ môi trường cho người dân

Nói về ý thức bảo vệ môi trường, đó là sự tự ý thức được những hành vi,hành động của mình trong việc giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường Họ có kiến

Trang 15

thức và nhận thức được hành động đúng, sai, từ đó hình thành trong mỗi người ýthức bảo vệ môi trường sống xung quanh mình.

Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản liênquan đến môi trường, chúng ta thường gặp các thuật ngữ như ý thức sinh thái, ýthức bảo vệ môi trường… Có thể hiểu ý thức bảo vệ môi trường (hay ý thức sinhthái) là sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên và thái độ,trách nhiệm của con người đối với môi trường sinh thái được hình thành trên cơ

sở những tri thức, sự hiểu biết của con người về tự nhiên và vị trí, vai trò củacon người trong mối quan hệ với tự nhiên

Trong đời sống xã hội, ý thức bảo vệ môi trường biểu hiện trên những khíacạnh sau:

Một là, khía cạnh chính trị Như chúng ta đã biết, môi trường sống là ngôinhà chung của con người, xã hội loài người Những vấn đề môi trường hiện nay– dù là lớn hay nhỏ, dù xảy ra ở nơi này hay nơi khác, đã và đang tác động trựctiếp hay gián tiếp đến mỗi người, mỗi cộng đồng và quốc gia, dân tộc Vì thế, nó

là một vấn đề mang tính chất toàn cầu và bảo vệ môi trường trở thành mối quantâm chung của tất cả mọi người, của các tổ chức xã hội và các quốc gia trên thếgiới Nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái trở thành mục tiêu và định hướngcho hoạt động chính trị của toàn nhân loại, không loại trừ một quốc gia nào Khía cạnh chính trị của ý thức bảo vệ môi trường sinh thái không chỉ tácđộng mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội mà nó liên quan trực tiếp đến sựhình thành, phát triển của chính bản thân ý thức bảo vệ môi trường Con ngườinên quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh chính trị của ý thức sinh thái, bởi đó làmột trong những cơ sở quan trọng tham gia vào sự điều chỉnh hoạt động của conngười theo hướng tích cực, tự giác vì mục tiêu bảo vệ, gìn giữ và “chung sốngthân thiện” với môi trường sinh thái

Hai là, khía cạnh pháp luật trong ý thức bảo vệ môi trường sinh thái Phápluật có vai trò hết sức quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường, là cơ sở, công

Trang 16

cụ pháp lý để nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt động bảo vệ môi trường vìlợi ích chung của các cộng đồng dân cư, của toàn xã hội Bằng pháp luật, vớinhững quy định được thể hiện dưới hình thức văn bản và có hiệu lực khác nhau,nhà nước điều chỉnh việc bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu của quá trình pháttriển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong sạch củamỗi người, mỗi cộng đồng và toàn dân tộc Ở đây, ý thức pháp luật của nhân dân

về bảo vệ môi trường có tầm quan trọng đặc biệt, nó thể hiện sự nhận thức củamỗi người và thái độ của họ đối với các quy định chung của pháp luật

Ba là, khía cạnh đạo đức của ý thức bảo vệ môi trường Ý thức bảo vệ môitrường không chỉ biểu hiện trên những phương diện chính trị, pháp luật, mà cònthông qua mặt đạo đức (đạo đức sinh thái) của đời sống xã hội Đạo đức sinhthái được hình thành trực tiếp từ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, làmột dạng đặc thù của đạo đức xã hội Đạo đức sinh thái là một hệ thống cácnguyên tắc, chuẩn mực quy định và điều chỉnh hành vi ứng xử của con ngườiđối với tự nhiên

Bốn là, khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý thức bảo vệ môi trường Có thểnói, khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý thức bảo vệ môi trường là một giá trị địnhhướng khiến cho hoạt động cải tạo tự nhiên của con người, ngoài ý nghĩa tìmkiếm lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, còn vươn tới thực hiện lý tưởngthẩm mỹ theo quy luật của cái đẹp Nói cách khác, bảo vệ môi trường là hànhđộng tự giác mang lại những lợi ích toàn diện, cả về vật chất lẫn tinh thần chocon người

* Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường

Tuyên truyền bảo vệ môi trường là sự truyền bá, giáo dục những quanđiểm, chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta vềvấn đề bảo vệ môi trường tới quần chúng nhân dân, từ đó mọi người dân có hiểubiết và cổ vũ họ hành động để đạt được những mục tiêu đã đặt ra

Trang 17

Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường là hoạt động truyền bá,giáo dục những chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp luật về bảo vệ môitrường của Đảng và Nhà nước ta đến Nhân dân trên địa bàn các tỉnh, các huyện

và xã thuộc tỉnh, thành phố Thông qua đó giúp cho quần chúng nhân dân nângcao hiểu biết về vai trò, tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường Từ đó giúp

họ nâng cao nhận thức và hình thành ý thức, niềm tin và hành động một cách tựgiác bảo vệ môi trường xung quanh nơi mình sống và làm việc

Nhìn chung, môi trường bao gồm toàn bộ các điều kiện tự nhiên, xã hộicần thiết đối với sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người Nó cóvai trò đặc biệt quan trọng và không thể thay thế Song, không phải bao giờ và ởđâu con người cũng cảm nhận sâu sắc, đúng đắn ý nghĩa to lớn của môi trườngsống Trái lại, những hoạt động của con người, trước hết là hoạt động sản xuất,

đã và đang tiếp tục làm cho môi trường sống của mình biến đổi theo chiềuhướng xấu Chính vì lẽ đó, công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môitrường cho người dân là rất cần thiết, bảo vệ môi trường trở thành khẩu hiệuhành động chung cho tất cả mọi người Tuy nhiên, để có được những nhận thức

và những hành động đúng đắn, thiết thực, trước hết mọi người cần phải có ýthức bảo vệ môi trường Đó chính là cơ sở để điều khiển một cách có ý thức mốiquan hệ giữa con người với tự nhiên, thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội

và các hoạt động đa dạng khác của con người vì mục tiêu phát triển bền vững

1.1.4 Các yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân

Có thể khẳng định, hoạt động tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi

trường cho người dân là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn, bước đi vớinhững nội dung khác nhau nhưng có mối liên hệ mật thiết , tác động qua lại vớinhau Hoạt động này là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của tất cả cácngành, các cấp ủy Đảng, chính quyền và địa phương trong cả nước, và hơn hết

đó còn là trách nhiệm của mọi người dân Trong đó, Đảng và Nhà nước đóng vaitrò chủ đạo

Trang 18

- Chủ thể tuyên truyền:

Đứng đầu là cấp ủy các cấp Đây sẽ là cơ quan đóng vai trò quan trọngtrong việc lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường Các cơ quan đó lãnh đạo côngtác bảo vệ môi trường thông qua việc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, các quyđịnh về bảo vệ môi trường Cơ quan đại diện cho cấp ủy các cấp làm công tác

tuyên truyền, tham mưu đó là Ban Tuyên Giáo các cấp, nòng cốt là đội ngũ báo

cáo viên, tuyên truyền viên các cấp Ban Tuyên Giáo nghiên cứu, theo dõi,tổnghợp thực trạng môi trường ở địa phương, kịp thời báo cáo, kiến nghị với Tỉnh ủyphương hướng, nhiệm vụ, nội dung, biện pháp giải quyết Tổ chức nghiên cứu,tuyên truyền, quán triệt, hướng dẫn triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát các

tổ chức, ban ngành, đoàn thể trong việc thực hiện các chỉ thị, quyết định, quyđịnh, quy chế về bảo vệ môi trường của Đảng và Nhà nước Ban Tuyên Giáo cáccấp còn phối hợp với các bộ ngành có liên quan xây dựng các kế hoạch, chươngtrình cụ thể bảo vệ môi trường cho phù hợp với đặc điểm của từng địa phương

Có thể nói hoạt động bảo vệ môi trường muốn đạt được kết quả tốt nhấtthì phải tác động đến ý thức của tất cả mọi người dân, chính quyền các cấp, nhấtthiết cần phải có sự tham gia đầy đủ và tích cực của toàn địa phương và toàn xãhội

Các đài phát thanh tỉnh và địa phương, các cơ quan báo chí các cấp

đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường ở từng địa phương.Các đài phát thanh và các cơ quan báo chí có nhiệm vụ cung cấp kịp thời nhữngthông tin đến mọi người dân để họ biết và ủng hộ thực hiện Trong công tác bảo

vệ môi trường, khi tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng gây bứcxúc trong xã hội thì lúc này báo chí là một trong những phương tiện hữu hiệutrong việc phát hiện, lên tiếng vạch trần những hành vi vi phạm pháp luật về bảo

vệ môi trường Các thông tin về môi trường và bảo vệ môi trường luôn được thểhiện thường xuyên, liên tục cập nhật, đa dạng trên các loại hình báo chí với dunglượng, lưu lượng khá lớn, phương thức truyền tải và cách thức thể hiện sinhđộng, hấp dẫn Các nội dung tuyên truyền trên các đài phát thanh và các cơ quan

Trang 19

báo chí tập trung vào phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường; các vấn đề môitrường nổi cộm, bức xúc, các điểm nóng về môi trường nhằm nâng cao ý thức,trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân đối với công tác bảo vệ môi trường

Các tổ chức chính trị xã hội Đây là các cơ quan có thể phối hợp với các

bộ, ban, nghành đoàn thể trong việc vận động, tuyên truyền cho mọi người dânhiểu biết và thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường

Cán bộ, đảng viên là những người làm việc trong các ban ngành, đoàn

thể hay các tổ chức chính trị - xã hội, là đội ngũ cán bộ làm công tác tuyêntruyền viên, báo cáo viên các cấp thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền , phổ biếnthông tin rộng rãi đến mọi người dân ở địa phương, để tất cả người dân sinhsống trong khu vực của mình có nhận thức và thay đổi hành vi ứng xử với môitrường theo hướng tích cực

- Nội dung công tác tuyên truyền:

Đường lối, quan điểm chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường của Đảng và Nhà nước Để bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà nước ta đã nỗ lực

nghiên cứu, xây dựng và ban hành các chỉ thị, nghị quyết nhằm mục tiêu bảo vệmôi trường, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Có thể nói đường lối, quanđiểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước là những văn bản có ý nghĩaquan trọng và là những văn bản đảm bảo cho các hoạt động của chúng ta điđúng hướng, thực hiện đúng mục tiêu bảo vệ và phát triển môi trường bền vững.Trên cơ sở đó, công tác tuyên truyền đảm bảo phổ biến thông tin một cách kịpthời và chính xác đến tất cả mọi người dân, giúp họ hiểu biết, nhận thức đầy đủ

về quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào việc bảo vệ môi trường, luônluôn ý thức được mọi hành động của mình là vì sức khỏe của mọi người, vì sựphát triển bền vững của đất nước.Thực hiện tuyên truyền về nội dung này giúpcho việc bảo vệ môi trường nhận được sự ủng hộ của đông đảo người dân, tiếntới xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường một cách nhanh chóng

Trang 20

Các chương trình, kế hoạch, các hoạt động cụ thể được các địa phươngthể chế hóa từ các nghị quyết, chỉ thị Khi các chỉ thị, nghị quyết của Đảng vàNhà nước được ban hành và phổ biến đến mọi người dân thì các cấp ủy Đảng,chính quyền địa phương sẽ tiến hành thể chế hóa các chỉ thị, nghị quyết đó thànhhành động thiết thực, đưa nó áp dụng vào thực tiễn địa phương Các chỉ thị, nghịquyết đó phải được áp dụng vào thực tiễn tình hình môi trường của mỗi địaphương để nó không còn là những văn bản trên giấy Khi các văn bản đó được

áp dụng vào thực tiễn, các địa phương sẽ triển khai thành các chương trình, kếhoạch, các hoạt động cụ thể, kêu gọi mọi người cùng tham gia vào hoạt độngbảo vệ môi trường; mọi người sẽ hiểu được các chương trình đó và biết đượcnghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong công tác bảo vệ môi trường Hiện nay,việc triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước thành các chươngtrình, kế hoạch, hành động luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phươngquan tâm, thực hiện tự giác và có hiệu quả

Tuyên truyền về các điển hình tiên tiến là tuyên truyền về những tấm

gương điển hình đã có những đóng góp tích cực trong công tác bảo vệ môitrường ở các địa phương Đó là các tổ chức, cá nhân tại địa phương được đôngđảo mọi người biết đến và trở thành những tấm gương cho mọi người noi theo.Các tấm gương đó cần thiết phải được nhân rộng, cần phải phát động các phongtrào thi đua học tập và làm theo các tấm gương điển hình tiên tiến ở các địaphương

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “…Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” Nếu chỉ là lời nói suông, hô hào

suông thì sẽ không đem lại hiệu quả tuyên truyền như đặt ra, nhưng khi chúng tanêu ra được những tấm gương điển hình, quần chúng nhân dân nhìn vào đó mànoi theo, học tập Quần chúng nhân dân chỉ quý mến những người có tư cáchđạo đức, nói ít làm nhiều, làm tốt công việc được giao Như thế có thể thấytuyên truyền điển hình tiên tiến trong bảo vệ môi trường sẽ đem lại hiệu quả caohơn

Trang 21

Bên cạnh việc tuyên truyền những điển hình tiến tiến thì cũng cần kịpthời phát hiện và lên án gay gắt đối với những đối tượng có những hành vi xấuđối với môi trường Điều đó có tác dụng răn đe, giáo dục và dần dần thay đổihành vi cho các đối tượng, đồng thời đó cũng là bài học để mọi người biết vàkhông có những hành động gây ô nhiễm môi trường tại địa phương họ sinhsống.

Hiện nay, ở các địa phương, các cấp ủy Đảng, chính quyền đã và đangthực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền các điển hình tiên tiến thông quaviệc thường xuyên tổng kết thực tiễn công tác bảo vệ môi trường.Thông quacông tác tổng kết thực tiễn, sẽ phát hiện được những cá nhân, tổ chức xuất sắc

và các đối tượng đi ngược lại với mục tiêu phát triển của đất nước; từ đó, hạnchế những hành vi xấu đối với môi trường, đồng thời phát huy và nhân rộng cácđiển hình tiên tiến, làm cho các điển hình đó được lan tỏa trong toàn địa phương

và toàn xã hội, tiến tới xã hội hóa bảo vệ môi trường, đảm bảo chất lượng cuộcsống cho người dân

Tuyên truyền những những kiến thức chung về môi trường, bảo vệ môi trường, tác hại của ô nhiễm môi trường Đây là một trong những nội dung quan

trọng của công tác tuyên truyền Mọi hoạt động của người dân đều liên quantrực tiếp đến môi trường, tác động đến môi trường và chịu sự tác động trở lại từmôi trường Vì thế, để có thể bảo vệ môi trường sống của mình, trước hết họ cầnphải có những kiến thức chung, hiểu biết chung về môi trường Vì chỉ khi cóhiểu biết thì người dân mới có thể làm tốt nghĩa vụ bảo vệ môi trường Công táctuyên truyền cần thiết phải cho người dân hiểu được những tác hại của ô nhiễmmôi trường để từ đó họ ý thức được mọi hành vi của mình là vì một môi trườngsạch đẹp, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường Công tác tuyên truyền nàyphải luôn được thực hiện thường xuyên và cần có sự quan tâm, chỉ đạo của cấp

ủy Đảng, địa phương nói riêng, của Đảng, Nhà nước nói chung để công tác bảo

vệ môi trường không còn là nhiệm vụ của một người mà là nhiệm vụ của đôngđảo quần chúng nhân dân, của toàn xã hội

Trang 22

Tuyên truyền phổ biến những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ ứng dụng góp phần bảo vệ môi trường Hiện nay các thành tựu đó đã và đang

được áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi để giảm tình trạng ô nhiễm môi trường dochất thải, hạn chế tiếng ồn, đảm bảo môi trường trong lành cho cuộc sống củamọi người dân Công tác tuyên truyền cần cung cấp thông tin đến mọi người dân

để họ hiểu biết những công nghệ đó để dễ dàng ứng dụng vào bảo vệ môitrường Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm đầu tư để áp dụng các thành tựukhoa học, kỹ thuật, công nghệ đó vào trong công tác bảo vệ môi trường, gópphần giảm chi phí và chất lượng môi trường ngày càng được nâng cao, hơn nữa

có thể giúp tất cả mọi người tham gia vào việc bảo vệ môi trường một cách tíchcực hơn

Nhìn chung, đây là những nội dung tuyên truyền cơ bản nhằm nâng cao

ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người Để công tác tuyên truyền đạt hiệu quảtốt nhất thì các chủ thể làm nhiệm vụ tuyên truyền ở các cấp ủy phải có nhậnthức đầy đủ, sâu sắc và quan trọng hơn là phải nắm rõ về đặc điểm của đốitượng và đặc điểm của từng địa phương mà chủ thể tuyên truyền hướng tới Đốitượng tuyên truyền đóng vai trò rất quan trọng trong việc lựa chọn nội dung,hình thức, phương tiện và phương pháp tuyên truyền Với mỗi đối tượng khácnhau thì chủ thể tuyên truyền cần phải lựa chọn nội dung, hình thức, phươngtiện và phương pháp tuyên truyền khác nhau Đối với đối tượng là trẻ em, phảihình thành thói quen, hành vi ứng xử văn minh, thân thiện với môi trường ngay

từ ban đầu Sử dụng hình ảnh, lời nói nhỏ nhẹ để giúp các em dễ dàng tiếp nhận

và làm theo Nếu ở giao đoạn này  các  em  chưa  hình  thành được tình yêuthiên nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên, quan tâm tới  thế  giới xung quanh,

có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh thì ở các giai đoạn về sau khó có thể bù đắpđược Đối với đối tượng là người thành niên, thì chúng ta phải sử dụng những từngữ mang tính chuyên môn lý luận, cách lập luận phải thật sắc bén, nội dung,phương pháp phải phù hợp mới có thể thuyết phục được đối tượng Khi tuyêntruyền cho đối tượng là quần chúng nhân dân ở mỗi địa phương thì công tác nàythường được thực hiện thông qua các hoạt động xã hội, các tổ chức quần chúng,

Trang 23

các đoàn thể chính trị - xã hội, từ đó góp phần nâng cao nhận thức, kiến thức vềbảo vệ môi trường và góp phần thúc đẩy quần chúng nhân dân tham gia bảo vệmôi trường.Do đó, các chủ thể tuyên truyền khi thực hiện công tác tuyên truyềncần linh hoạt trong việc lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiệntuyên truyền sao cho phù hợp với từng đối tượng, phù hợp với đặc điểm của mỗiđịa phương để công tác tuyên truyền thực sự đem lại hiệu quả cao.

- Hình thức tuyên truyền:

Là cách thức mà chủ thể tuyên truyền tác động đến đối tượng nhằm nângcao nhận thức, thay đổi hành vi và hoạt động có hiệu quả hơn vì mục tiêu côngviệc Các hình thức tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho ngườidân được thể hiện thông qua các kênh sau:

Hoạt động tuyên truyền miệng của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyềnviên của cấp ủy, cơ quan Nhà nước, đoàn thể chính trị

Sinh hoạt trong các buổi họp tổ dân cư, trong các tổ chức chính quyền,đoàn thể

Hoạt động thông tin của Đội tuyên truyền lưu động, tuyên truyền cổ độngcho các phong trào thi đua bảo vệ môi trường

Các chương trình văn hóa văn nghệ lồng ghép với nội dung tuyên truyềnbảo vệ môi trường được diễn ra tại các khu dân cư

- Phương tiện tuyên truyền:

Là các công cụ mà các chủ thể tuyên truyền sửa dụng trong khi thực hiệncông tác tuyên truyền Các phương tiện tuyên truyền bao gồm:

Lời nói của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, của các nhà quản lý,lãnh đạo

Các thiết chế nhà văn hóa, thư viện Hệ thống loa phát thanh của địa phương.Bên cạnh đó có cả các thiết chế văn hóa văn nghệ như nhà văn hóa, thư viện…

Trang 24

- Phương pháp tuyên truyền:

Là cách thức,con đường, biện pháp để thực hiện hoạt động tuyên truyềnđạt được hiệu quả cao nhất Để công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệmôi trường cho người dân đạt hiệu quả như mong muốn thì việc lựa chọn cácphương tiện phương pháp tuyên truyền cũng là một khâu quan trọng và rất cầnthiết Phương pháp tuyên truyền mà chủ thể tuyên truyền sử dụng đó là tuyêntruyền qua các phương tiện truyền thông đại chúng, như: đài phát thanh, truyềnhình, sách báo, điện ảnh Bên cạnh đó các chủ thể tuyên truyền còn sử dụng hệthống pano, áp phích, khẩu hiệu và tờ rơi Nếu như không có phương pháp tuyêntruyền, phương pháp tuyên truyền không phù hợp thì những nội dung trong cácchỉ thị, nghị quyết về bảo vệ môi trường mà Đảng, Nhà nước đã ban hành sẽkhông được đưa đến với người dân hoặc là người dân sẽ rất khó khăn để có thểhiểu biết, thay đổi hành vi và hoạt động bảo vệ môi trường

- Hiệu quả tuyên truyền:

Là sự tương quan giữa kết quả đạt được do tác động của công tác tuyêntruyền đem lại với mục đích mà công tác tuyên truyền đặt ra và so với chi phí bỏ

ra để đạt được mục đích đó trong một thời gian và điều kiện xã hội nhất định

Trong công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường chongười dân thì hiệu quả tuyên truyền đó là sự thay đổi nhận thức, thái độ, hành vicủa mọi người dưới tác động của công tác tuyên truyền trong một thời gian vàđiều kiện xã hội nhất định Trên cơ sở tác động của các chủ thể tuyên truyền,mỗi người có nhận thức và hiểu biết đầy đủ, suy nghĩ và dẫn đến những hànhđộng phù hợp, có ý thức bảo vệ mô trường Tuy nhiên cũng không tránh khỏimột số trường hợp khi đã có những nhận thức ban đầu nhưng vẫn không chịuthay đổi thái độ, hành vi của mình vì lợi ích cá nhân mà gây ảnh hưởng xấu đếnmôi trường Đối với những trường hợp nhỏ như thế thì chủ thể làm công táctuyên truyền cần phải nhanh chóng phát hiện, tìm ra những biện pháp tác độngphù hợp với những đối tượng đó nhằm hướng họ đến những hành động tích cực

Trang 25

hơn, hình thành cách ứng xử văn minh hơn với môi trường sống của họ, để côngtác tuyên truyền đạt được mục đích đã đề ra

1.2 Sự cần thiết phải tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho

cụ thể nơi họ ở và làm việc

Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường hoàn toàn không  tách rời  những  giá  trị  về  kiến thức, kinh nghiệm thực tế và cách thức thực hiệncủa từng địa phương hay khu vực về một quá trình tạo lập và phát triển bềnvững Tuyên truyền về môi trường luôn trân trọng những tri thức bản địa và ủng

hộ việc tuyên truyền tương ứng với việc học tập dựa  trên  môi  trường  địa phương,  coi trọng việc tuyên truyền trên phạm vi toàn cầu cũng như tuyêntruyền môi trường ở địa phương, thậm chí về mặt cam kết và hành động lạihướng về cụ thể và địa phương: “Nghĩ – toàn cầu, Hành động – Địa phương” Những thông tin, tri thức, kỹ năng, kiến thức về môi trường được tích luỹtrong mỗi cá nhân sẽ nuôi dưỡng và nâng cao ý thức và tinh thần trách nhiệm vềbảo vệ môi trường của chính họ, tạo nên những động cơ mạnh mẽ, những camkết vững chắc hướng về một môi trường trong lành và phát triển trong tương lai.Bởi vì, mỗi cá nhân nếu đều có ý thức đóng góp những hành động dù nhỏ nhưngtích cực cũng sẽ góp phần tạo nên những thay đổi lớn tốt đẹp hơn cho môitrường

Mục đích cuối cùng của tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường làtiến tới xã hội hóa các vấn đề môi trường, nghĩa là tạo ra các công dân  có  nhận  thức,  có  trách  nhiệm  với môi trường, biết sống vì môi trường

Trang 26

Một khi các vấn đề môi trường đã được xã hội hóa thì những lợi ích kinh tếcho cộng đồng ngày một gia tăng và đặc biệt  hiệu  lực  quản  lý  nhà  nước  tăngnhưng gánh nặng chi phí sẽ giảm Do đó, những kết quả nghiên cứu về môitrường và các phương pháp khắc phục ở nhiều quốc gia trên thế giới đã đi đếnkết luận chung là: không có giải pháp nào kinh tế và hiệu quả bằng việc đầu tưvào con người thông qua công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môitrường. 

1.2.2 Thông qua tuyên truyền giúp mọi người dân hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường, từ đó xây dựng thái độ, cách ứng xử thân thiện với môi trường.

Tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại các giốngloài, ảnh hưởng xấu sức khoẻ con người là cái giá phải trả cho quá trình tự dohóa thương mại mới được tiến hành chỉ trong vòng 10 năm trở lại đây ở nước ta.Vấn đề là cần làm sao vừa tận dụng được cơ hội của quá trình hội nhập quốc tế

để phát triển kinh tế, nhưng vẫn gìn giữ bảo vệ môi trường, chứ không vì mụctiêu tăng trưởng mà hy sinh môi trường trong sạch của đất nước nhằm bảo đảmchất lượng cuộc sống của nhân dân

Như vậy,để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường nhất thiết phải tuyêntruyền giúp mọi người dân hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môitrường, từ đó xây dựng thái độ, cách ứng xử thân thiện với môi trường trên cơ sởđổi mới tư duy, cách làm, hành vi, ý thức trách nhiệm với thiên nhiên, phải cónhững chuyển biến cơ bản, chiến lược từ quan niệm, nhận thức đến các hành viứng xử với thiên nhiên, môi trường, phù hợp với các tiêu chuẩn đạo đức mới –đạo đức môi trường trong một xã hội thân thiện môi trường, lấy phát triển xanh,phát triển bền vững làm một trong các đích hướng tới

Theo Nghị quyết Trung ương số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 về chủ độngứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT đã nhậnđịnh, thời gian qua, việc ứng xử với thiên nhiên đã được quan tâm, đã có chuyểnbiến và đạt được một số kết quả bước đầu quan trọng, nhưng vẫn còn nhiều hạn

Trang 27

chế, yếu kém Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém đó là nhậnthức và tầm nhìn chưa đầy đủ, thiếu thống nhất, chưa coi trọng phát triển bềnvững đóng vai trò quan trọng Việc thay đổi thái độ và hành vi của con người vềcách ứng xử với môi trường là nguyên tắc quan trọng để xây dựng một xã hộiphát triển bền vững, xây dựng một cuộc sống bền vững phụ thuộc vào việc ứng

xử có văn hóa với môi trường

1.2.3 Thông qua công tác tuyên truyền mà thông tin được phổ biến tới người dân một cách nhanh chóng, rộng rãi và chính thống nhất

Về cơ bản, tuyên truyền có tác động tích cực đến nhận thức con người vềbảo vệ môi trường hơn là tác động tích cực Tuyên truyền hiện nay đóng một vaitrò quan trọng trong nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ môi trường, đóngvai trò quan trọng, thiết yếu trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về môitrường và các biện pháp, cách thức để thực hiện, bảo vệ môi trường , giúp ngườidân nâng cao ý thức và khả năng thực hiện Tuyên truyền còn cung cấp chongười dân những thông tin kịp thời về chính sách, pháp luật về bảo vệ môitrường, đồng thời cũng giúp người dân có thể phản ánh quan điểm, kiến nghịhay những thông tin về bảo vệ môi trường, đặc biệt là cơ quan Nhà nước Thôngqua tuyên truyền thì người dân cũng hiểu rõ hơn về quyền lợi hợp pháp củamình khi tham gia bảo vệ môi trường Cũng thông qua công tác tuyên truyền màngười dân có thể nắm rõ thực trạng của môi trường trong khu vực mình sinhsống, những nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra với môi trường khi tình trạng ônhiễm môi trường ngày càng gia tăng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của mọingười Bên cạnh đó nó còn cung cấp cho người dân những kiến thức giúp cảithiện tình trạng ô nhiễm môi trường, các thiết bị công nghệ thân thiện môitrường đang được ứng dụng rộng rãi và phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chínhcủa người nông dân Chỉ khi có kiến thức, thông tin thì con người mới có nhữnghành xử đẹp với môi trường sống xung quanh mình Tuyên truyền sẽ giúp chocon người có được điều đó

Trang 28

1.2.4 Công tác tuyên truyền được thực hiện thường xuyên góp phần củng cố niềm tin cho quần chúng nhân dân.

Công tác tuyên truyền là một trong những công tác cơ bản của ĐảngCộng Sản Việt Nam, là một trong những nhân tố góp phần hình thành các nhiệm

vụ chính trị cách mạng, tạo nên mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lýnày, dân rất tốt, lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hysinh mấy họ cũng không sợ Nhưng trước hết phải chịu khó tìm đủ mọi cách giảithích cho họ hiểu rằng: những việc đó là vì lợi ích của họ mà họ phải làm” [HồChí Minh toàn tập, tập 5, tr 246]

Mọi chủ trương, chính sách, pháp luật về Bảo vệ môi trường của Đảng vàNhà nước muốn được nhân dân nhất trí, tin tưởng, quyết tâm thực hiện tốt đềuphụ thuộc vào công tác tuyên truyền tốt hay kém Nhiệm vụ của công tác tuyêntruyền là phải đưa nó vào cuộc sống, biến thành hành động sôi nổi, tự giác củacác tần lớp nhân dân, giải quyết các vấn đề thực tiễn đem lại lợi ích cho nhândân Nhờ có lòng tin được củng cố mà người dân sẽ hình thành một tâm thế sẵnsàng và quyết tâm hiện thực hóa đường lối, chính sách vào trong cuộc sống.Như vậy công tác tuyên truyền đã góp phần giáo dục tư tưởng, ý thức bảo vệmôi trường cho người dân, giúp cho họ hình thành ý thức bảo vệ môi trường mộtcách thường trực và tự giác

1.2.5 Công tác tuyên truyền góp phần cổ vũ động viên quần chúng nhân dân tích cực, chủ động và tự giác tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường.

Tuyên truyền về môi trường và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường chongười dân có ý nghĩa cực kỳ quan trọng bởi lẽ người dân là những người chịuảnh hưởng trực tiếp bởi môi trường sống của chính họ, họ vừa là nguyên nhânvừa là những người gánh chịu hậu quả những vấn đề môi trường của địaphương Khi được nâng cao ý thức, nhận thức và kiến thức về bảo vệ môi trường

Trang 29

sẽ góp phần cổ vũ, động viên, thúc đẩy người dân tham gia bảo vệ môi trường.Công tác tuyên truyền giúp tập hợp quần chúng nhân dân vào trong các tổ chứcchính trị xã hội nhất định Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Mặttrân tổ quốc… là những tổ chức chính trị xã hội mà đa phần người dân nôngthôn đều tham gia Công tác này được thực hiện thông qua các hoạt động xã hội,các tổ chức quần chúng, các đoàn thể chính trị - xã hội để từng bước tiến tới xãhội hóa công tác bảo vệ môi trường, điều này có nghĩa là huy động các nhân tốthị trường và cộng đồng dân cư vào các mặt hoạt động trong lĩnh vực bảo vệmôi trường

Đây là một quá trình đòi hỏi sự bền bỉ, thời gian dài và đặc biệt là sự kếthợp hài hòa và tổng hợp các giải pháp Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy,không có một giải pháp đơn lẻ nào có thể phát huy hiệu quả trong vấn đề này

1.2.6 Thông qua công tác tuyên truyền giúp chúng ta hoàn thiện hơn đường lối, chính sách, hệ thống các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường.

Tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải thông tin vềvấn đề môi trường, pháp luật từ nhà nước đến người dân, đặc biệt là vai tròtuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân, qua

đó tác động trực tiếp đến ý thức và hành vi của người dân Hơn nữa, thông quatuyên truyền có thể nắm bắt được tình hình môi trường cũng như những ý kiến,nguyện vọng của nhân dân, từ đó Nhà nước tiếp thu và hoàn thiện hơn đườnglối, chính sách, hệ thống các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường

Tuyên truyền cũng có tác động khác nhau đối với các nhà hoạch địnhchính sách Tuyên truyền góp phần quan trọng để đưa ra ý kiến người dân,chuyên gia nói riêng và xã hội nói chung về các quy định vừa được ban hành sắp

có hiệu lực Nó góp phần đưa chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường giúpngười dân nhận thức kịp thời khi có hiệu lực, đồng thời nó cũng phản ánh lậptức ý kiến của người dân về những mặt tốt cũng như những điểm hạn chế của

Trang 30

chính sách đang được áp dụng Chính quá trình tương tác, tiếp cận thực tế đócủa các cán bộ tuyên truyền giúp sẽ giúp cho chúng ta có những đóng góp tíchcực trong cong tác tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địaphương trong việc ban hành chính sách đồng thời có những sửa đổi cho phù hợp

và hiệu quả nhất với tình hình thực tế và từng địa phương cụ thể

1.2.7 Nhờ công tác tuyên truyền mà nhiều tấm gương điển hình trong bảo vệ môi trường tại các địa phương được phát hiện và tuyên dương.

Những tấm gương điển hình đó chính là những tổ chức, cá nhân đónggóp tích cực vào quá trình hoàn thiện thể chế, chính sách vĩ mô về bảo vệ môitrường và cả những cá nhân bằng những hành động đơn lẻ, tự nguyện, nâng caonhận thức cho cộng đồng, thế hệ trẻ thay đổi hành vi, ý thức về bảo vệ môitrường Từ đó, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta đã được củng

cố, hoàn thiện đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường 2014; bộ máy tổ chức quản lýnhà nước về môi trường đã phủ tới cấp huyện và có cán bộ kiêm nhiệm ở cấp xã,nhiệm vụ quản lý môi trường đã được phân cấp đến từng cấp chính quyền

Mỗi tấm gương điển hình là những hạt nhân của phong trào thi đua Cầnphải phát huy những thành tích đã đạt được,đẩy mạnh hơn nữa các phong tràothi đua về bảo vệ môi trường trong toàn xã hội với các hình thức đa dạng, thiếtthực, để phong trào thi đua yêu nước tiếp tục thực sự trở thành động lực mạnh

mẽ đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường Tiếp tục tuyên truyền, nhân rộng cácgương điển hình tiên tiến, các tập thể, cá nhân tiêu biểu, xuất sắc trong lĩnh vựcbảo vệ môi trường để tiếp tục phát huy và lan tỏa trong toàn xã hội

1.2.8 Tuyên truyền còn giúp chúng ta khắc phục và giải quyết hiện trạng ô nhiễm môi trường đang còn xảy ra.

Môi trường ô nhiễm là hiểm họa đối với tương lai phát triển của tất cả cácquốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Tình trạng môi trường ởnước ta tuy nghiêm trọng nhưng vẫn có thể cứu vãn nếu mỗi người biết góp sứccủa mình, chung tay bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường đã đang và sẽ còn là

Trang 31

vấn đề cấp bách của thời đại, là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; lànhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với đấu tranh xóa đói giảm nghèo ởmỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thếgiới Đây là một vấn đề vô cùng rộng rãi và phức tạp đòi hỏi phải giải quyếtnhanh chóng với sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và thường xuyên của mọi cánhân, mọi cộng đồng, mọi quốc gia và toàn thể nhân loại trong tất cả các hoạtđộng và lĩnh vực của đời sống con người Tuyên truyền bảo vệ môi trường làmột công tác quan trọng hơn bao giờ hết Công tác tuyên truyền càng được tiếnhành mạnh mẽ khi vấn đề môi trường ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờhết Dưới sự tác động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cùng với sựvào cuộc của các phương tiện truyền thông đại chúng thì chắc chắn công tác bảo

vệ môi trường trên địa bàn sẽ được quan tâm và thực hiện, qua đó góp phầnkhắc phục và giải quyết hiện trạng ô nhiễm môi trường đang còn xảy ra

Chương II Thực trạng tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu,Nghệ An hiện nay và những vấn đề đặt ra.

2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân ở huyện Quỳnh Lưu.

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên-xã hội.

Vị trí, địa hình: Quỳnh lưu là một đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Nghệ

An Phía Bắc Quỳnh Lưu giáp với thị xã Hoàng Mai, phía Tây bắc Quỳnh Lưu giáp với huyện Như Thanh (Thanh Hóa), có chung địa giới khoảng 25km Phía Nam và Tây Nam Quỳnh Lưu giáp với Diễn Châu và huyện Yên Thành với ranhgiới khoảng 31 km Vùng phía Nam Quỳnh Lưu huyện có chung khu vực đồng bằng với hai huyện Diễn Châu và Yên Thành (thường gọi là đồng bằng Diễn – Yên – Quỳnh) Phía Tây Quỳnh Lưu giáp với các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và thị xã Thái Hòa với ranh giới khoảng 33 km được hình thành một cách tự nhiên bằng các dãy núi kéo dài liên tục mà giữa chúng cõ nhiều đèo thấp tạo ra những

Trang 32

con đường nối liền hai huyện với nhau Phía Đông Quỳnh Lưu giáp với biển Đông.

Huyện Quỳnh Lưu có đường ranh giới với các huyện thị là 122 km, trong đó đường ranh giới đất liền 88 km và 34 km đường bờ biển Khoảng cách từ huyện

lỵ là thị trấn Cầu Giát đến thành phố Vinh khoảng 60 km

Diện tích: Diện tích đất tự nhiên là 58.507 ha Diện tích đất dùng vào nông

nghiệp là 15.427 ha Dân số tính đến năm 1999 là 340.000 người Huyện Quỳnh Lưu gồm 1 thị trấn Cầu Giát và 32 xã: An Hòa, Quỳnh Bá, Ngọc Sơn, Quỳnh Châu, Quỳnh Bảng, Quỳnh Diện, Quỳnh Giang, Quỳnh Đôi, Quỳnh Hoa, Quỳnh

Lâm,Quỳnh Hậu, Quỳnh Hưng, Quỳnh Hồng, Quỳnh Long, Quỳnh Lương, Quỳnh Minh, Quỳnh Mỹ, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Ngọc, Quỳnh Tam, Quỳnh Tân,

Quỳnh Yên, Quỳnh Thạch, Quỳnh Thanh, Quỳnh Thắng, Quỳnh Thuận, Quỳnh Thọ, Quỳnh Văn, Sơn Hải, Tân Sơn, Tân Thắng, Tiến Thủy

Khí hậu: Quỳnh Lưu nằm trong khu vực nhiệt đới nhưng lại ở miền biển nên

thường nhận được ba luồng gió:

-Gió màu Đông Bắc nằm sâu trong lục địa lạnh lẽo của vùng Sibia và Mông Cổ,từng đợt thổi qua Trung Quốc và vịnh Bắc Bộ tràn về, bà con gọi đó là gió bắc

-Gió mùa Tây Nam ở tận vịnh Băng-gan tràn qua lục địa, luồn qua các dãyTrường Sơn, thổi sang mà nhân dân thường gọi là gió Lào hưng chính là gió tâykhô nóng

-Gió mùa Đông Nam mát mẻ từ biển Đông thổi vào nhân dân gọi là gió nồm.Khí hậu Quỳnh Lưu chia làm hai mùa rõ rệt:

+Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch Mùa này tiết trời nóng nực,nhiệt độ trung bình 30C, có ngày lên tới 40C

+Mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 dương lịch năm sau Mùa nàythường có gió mùa Đông bắc kéo dài

Trang 33

2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội.

Với đặc điểm địa lý của huyện, người dân miền tây chủ yếu trồng cây

công nghiệp như Cà phê, Cao su,Dứa Người dân vùng đồng bằng chủ yếu làtrồng lúa Người dân vùng biển thường sống bằng nghề đánh bắt cá, làm muối vàtrồng rau Quỳnh Lưu là mộ huyện có nghề nuôi hươu lấy nhung rất phát triển,hiện có khoảng gần 12000 con đang được nuôi trong các hộ dân

Về giao thông

 Đường sắt

Ngoài tuyến đường sắt Bắc Nam chạy dọc theo chiều từ bắc xuống nam, huyện còn có tuyến đường sắt địa phương nối từ Giát qua ngã ba Tam Lệ,lên huyện Nghĩa Đàn Đây là một trong số rất ít các tuyến đường sắt nội tỉnh ở Việt Nam, nối đường sắt quốc gia với vùng đất đỏ Phủ Quỳ

vụ cho nghề cá rất phát triển ở đây

2.1.3 Đặc điểm văn hóa-xã hội.

Văn hóa:

Nhà thờ, khu lăng mộ Hồ Tùng Mậu, Mộ và đền thờ Hồ Sỹ Dương,Nhà thờ

họ Hoàng Khánh Di chỉ khảo cổ học Quỳnh Văn ở xã Quỳnh Văn, Đền Quỳnh Tụ,Nhà thờ họ Hồ ở xã Quỳnh Đôi, Đình Tám Mái ở xã Quỳnh Thuận, Đình

Trang 34

Làng Quỳnh Đôi ở xã Quỳnh Đôi, Đền Thượng ở xã Quỳnh Nghĩa, Đền Voi ở

xã Quỳnh Hồng, Đền Cờn ở xã Quỳnh Phương Quỳnh Lưu có khu du lịch Biển Quỳnh chạy dài từ Quỳnh Lập vào Tiến Thủy với bãi cát vàng, động Hang Dơi Quỳnh Tam Toàn huyện có 20 di tích lịch sử văn hóa được công nhận

Đặc Sản:

Nước chè xanh, Kẹo Cu Đơ, Ốc xào, bánh cuốn nóng, Cà pháo, và món ăn

được chế biến bằng nguồn sản vật của địa phương như: cá lăng, cá mát,… cácloại rau quả như: xoài, cà ngọt, măng đắng, khoai sọ, bí xanh, bí đỏ, mận, đào,khoai sọ, chanh leo, canh môn, Chè đâm, Chè Dung, Khô Cá Đù, bánh chưngchấm cá kho

2.1.4 Đội ngũ làm công tác tuyên truyền.

Đảng bộ Quỳnh Lưu là một trong những đảng bộ có số đảng viên lớn củaNghệ An (gần 13.000 đảng viên ở hơn 100 tổ chức cơ sở Đảng) Trong thời gianqua, Ban Tuyên giáo tham mưu cho Ban Thường vụ Huyện ủy Quỳnh Lưu kiệntoàn đội ngũ báo cáo viên, cộng tác viên dư luận xã hội với 75 người (trong đó

51 báo cáo viên cấp xã và huyện, 24 người cộng tác viên dư luận xã hội)

Ngoài ra, huyện còn xây dựng được 150 báo cáo viên tuyên truyền miệng ở các

tổ chức cơ sở đảng Đây là những đồng chí có năng lực, nhiệt tình và có kinh nghiệm nhiều năm trong công tác báo cáo viên Đội ngũ báo cáo viên tham gia sinh hoạt nghiêm túc 12 kỳ ở huyện, triển khai kịp thời các nội dung theo định hướng công tác tuyên truyền miệng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước tới mọi cán bộ, đảng viên và nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn

vị, địa phương

Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở nêu cao trách nhiệm, nhanh nhạy tham mưu với Ban Tuyên giáo Đảng ủy, Bí thư chi bộ cơ sở để tổ chức sinh hoạt thông tin thời sự theo định kỳ và gắn với chuyển tải các nội dung chỉ đạo của cấp trên đến đội ngũ bí thư chi bộ, xóm trưởng Bên cạnh đó, đội ngũ

Ngày đăng: 28/01/2023, 23:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Bác Hồ với đồng bào các dân tộc thiểu số”, NXB Thông tấn, Hà nội, 2007, tr.197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với đồng bào các dân tộc thiểu số
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2007
2. Ban Tuyên Giáo Huyện Ủy Quỳnh Lưu, “Công tác tuyên giáo góp phần chuyển biến cơ sở” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tuyên giáo góp phần chuyển biến cơ sở
Tác giả: Ban Tuyên Giáo Huyện Ủy Quỳnh Lưu
5. Nguyễn Văn Dũng (2001), “Đại cương giáo dục môi trường, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương giáo dục môi trường
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2001
7. Thu Nga, “Giải bài toán tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới”, Báo Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải bài toán tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Thu Nga
Nhà XB: Báo Nghệ An
8. Nguyễn Thị Quỳnh, “Giải pháp cho bãi rác ở Quỳnh Hồng?”, Báo Nghean.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp cho bãi rác ở Quỳnh Hồng
Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh
9. PGS.TS Nguyễn Thế Chinh (2003), Giáo trình kinh tế và Quản trị môi trường, Đại học Kinh Tế Quốc Dân, NXB Thống Kê năm 2003, tr.17- 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế và Quản trị môi trường
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thế Chinh
Nhà XB: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Năm: 2003
10. “Giáo trình tâm lý học đại cương, Nguyễn Xuân Thức, NXB Đại học sư phạm, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Xuân Thức
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
11. Học viện Báo chí và Tuyên Truyền, khoa Triết học, Giáo trình triết học Mác Lênin, NXB Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác Lênin
Tác giả: Học viện Báo chí và Tuyên Truyền, khoa Triết học
Nhà XB: NXB Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: Not specified
12. Lê Nhung (2016), “Hiệu quả mô hình thùng thu gom bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật ở Quỳnh Lưu”, Đài Quỳnh Lưu, Cổng thông tin điện tử tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả mô hình thùng thu gom bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật ở Quỳnh Lưu
Tác giả: Lê Nhung
Nhà XB: Đài Quỳnh Lưu
Năm: 2016
13. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 1 – trang 263, NXB CT Quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập – tập 1
Nhà XB: NXB CT Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
14. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 5 – tr.162, NXB Chính Trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập – tập 5
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc gia
Năm: 2002
16. Khoản 1, Điều 3, Chương 1, Luật Bảo vệ môi trường, Quốc hội nước CHXHCNVN khóa 11 kỳ họp thứ 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ môi trường
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Năm: 2005
17. Học viện Báo chí và Tuyên truyền, khoa Tuyên truyền (2006), Nguyên lý công tác tư tưởng tập 1, Nhà xuất bản Chính trị hành chính quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý công tác tư tưởng tập 1
Tác giả: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, khoa Tuyên truyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị hành chính quốc gia – Sự thật
Năm: 2006
18. Ngô Thị Kim Ngọc (2000), “Những giải pháp nâng cao nhận thức và hành động bảo vệ môi trường của thanh thiếu niên trường phổ thông” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp nâng cao nhận thức và hành động bảo vệ môi trường của thanh thiếu niên trường phổ thông
Tác giả: Ngô Thị Kim Ngọc
Năm: 2000
19. Hoàng Tùng (2017), Nghệ An : “Ô nhiễm nghiêm trọng tại các nhà máy và cơ sở chế biến bột cá”, Dân sinh cơ quan của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An : “Ô nhiễm nghiêm trọng tại các nhà máy và cơ sở chế biến bột cá”
Tác giả: Hoàng Tùng
Nhà XB: Dân sinh cơ quan của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2017
20. Quyết định số 197/2007/QĐ-TTG của Thủ tướng chính phủ: “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Nhà XB: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2007
21. Như Thủy (2016), “Quá tải bãi rác Ngọc Sơn (Quỳnh Lưu): Hơn 10 nghìn dân xã Quỳnh Tân kêu cứu”, Đài Quỳnh Lưu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá tải bãi rác Ngọc Sơn (Quỳnh Lưu): Hơn 10 nghìn dân xã Quỳnh Tân kêu cứu
Tác giả: Như Thủy
Nhà XB: Đài Quỳnh Lưu
Năm: 2016
22. Quan điểm của Hồ Chí Minh về môi trường và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH (Bộ Tư pháp Viện Khoa học pháp lý) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Hồ Chí Minh về môi trường và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH
Tác giả: Bộ Tư pháp Viện Khoa học pháp lý
23. Thanh Lê, “Quỳnh Bá (Quỳnh Lưu) chăm lo bảo vệ môi trường” , Báo Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỳnh Bá (Quỳnh Lưu) chăm lo bảo vệ môi trường
Tác giả: Thanh Lê
Nhà XB: Báo Nghệ An
15. Thục Anh (2015), “Khi nghị quyết hợp lòng dân”, Báo Nghệ An, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Nghệ An Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w