DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT UBND Ủy ban nhân dân TDĐKXDĐSVH Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa NSNN Ngân sách Nhà nước HĐND Hội đồng nhân dân MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Phong tục, tập quán là một tr[.]
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân
TDĐKXDĐSVH : Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa NSNN : Ngân sách Nhà nước
HĐND : Hội đồng nhân dân
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phong tục, tập quán là một trong những đặc trưng của nền văn hóa, biểu hiệntrình độ văn minh của dân tộc; là sản phẩm của xã hội và được hình thành do yêucầu của mối quan hệ giữa con người với con người; giữa con người với giới tựnhiên, nhằm duy trì sự tồn tại của con người để phát triển sản xuất và văn hóa xãhội Phong tục, tập quán trước hết là sợi dây cố kết cộng đồng Đồng thời, nó làđiểm tựa và sức mạnh tiềm ẩn để mỗi cá nhân nói riêng và cộng đồng nói chungchống lại sự xâm lăng của văn hóa ngoại lai cũng như tiếp thu có chọn lọc yếu tốtinh hoa từ các nền văn hóa khác Phong tục, tập quán là một trong những yếu tốcấu thành nên bản sắc của mỗi dân tộc Tuy nhiên, phong tục tập quán có tính bảothủ bền vững lâu đời Trải qua thời gian lịch sử và sự biến thiên của xã hội, nhiềunội dung dần trở nên lạc hậu, nếu không được lựa chọn và đào thải hoặc bồi đắp nộidung mới, phù hợp với nhịp sống thời đại sẽ trở thành vật cản của sự tiến bộ xã hội,
Những năm gần đây, thực hiện lời dạy của Bác và đường lối lãnh đạo củaĐảng, đồng bào các dân tộc thiểu số huyện Cẩm Thủy nói riêng và tỉnh Thanh Hóanói chung đã đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới, loại bỏ dần các phong tục,
Trang 3tập quán lạc hậu với nhiều cách làm hay, mô hình tốt, rất đáng biểu dương, hoannghênh Tuy nhiên, ở không ít vùng đồng bào dân tộc, vùng cao, vùng đặc biệt khókhăn trong tỉnh không ít cái mới ra đời nhưng chưa hoàn toàn thắng thế, một số cái
cũ đã tàn lụi nhưng lại chưa hoàn toàn mất đi, những hủ tục tập quán xấu, lạc hậuvẫn tồn tại dai dẳng và thậm chí đang âm thầm phát triển Hiện tượng này gây ranhững tổn hại nặng nề không chỉ cho đời sống vật chất và tinh thần của đồng bàocác dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa mà còn là mối nguy hại lớn cho nền văn hóadân tộc, cản trở những bước phát triển của kinh tế - xã hội trong toàn tỉnh và kìmhãm tiến bộ xã hội Do đó, tuyên truyền bài trừ những hủ tục còn tồn tại trong đờisống văn hóa dân tộc Dao nói riêng và trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nóichung là một trong những nhiệm vụ cấp thiết đặt ra đối với những cán bộ tư tưởng.Tuy nhiên, những năm gần đây, công tác này ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóachưa thực sự phát huy được vai trò công cuộc xây dựng đời sống văn hóa mới chođồng bào dân tộc
Trước thực trạng đó, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục trong ma chay, cưới hỏi cho đồng bào dân tộc Dao ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa hiện nay” trong khuân khổ khóa luận tốt nghiệp
đại học nhằm góp phần nhỏ thực hiện công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc từ góc độ của những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, đồngthời cũng là một phần đóng góp cho sự phát triển của mảnh đất quê hương
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Từ đầu thập kỷ 60 đến nay, nhiều vấn đề về phong tục tập quán của ngườiDao ở nước ta đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của không ítnhà khoa học, nhà nghiên cứu ở các góc độ khác nhau Có thể kể đến một số côngtrình tiêu biểu sau:
Đầu tiên là công trình của Phan Hữu Dật và Hoàng Hoa Toàn (Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội, năm 1998): “Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam” Công
trình là sự tập hợp của các bài nghiên cứu khoa học, đề cập đến nhiều lĩnh vực dântộc học Việt Nam GS.TS Phan Hữu Dật đã góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho
bộ môn dân tộc học ở nước ta, làm phong phú hơn nhận thức xã hội về vấn đề dân
Trang 4tộc và làm sáng tỏ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc Cácvấn đề như nguồn gốc dân tộc, văn hóa tộc người, hôn nhân gia đình và sự đónggóp của các dân tộc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Dân tộc Dao vàvăn hóa dân tộc dao cũng được nhắc đến từ nhiều góc độ nhưng những hủ tục thìchưa được tập trung khai thác, đánh giá.
Trong cuốn “Người Dao ở Việt Nam” của các tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn
Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (Nxb Khoa học xã hội, 1971) đã đềcập đến các vấn đề như dân số, nguồn gốc lịch sử, phân loại các ngành Dao; cáchình thái kinh tế, phong tục, tôn giáo tín ngưỡng Ở công trình nghiên cứu này, lầnđầu tiên diện mạo người Dao được trình bày khá toàn diện cả về lịch sử, kinh tế, xãhội, văn hóa Tuy nhiên, phong tục tang ma và cưới hỏi của người Dao chỉ đượctrình bày khái quát, sơ lược
Trong cuốn “Tập tục chu kỳ đời người của các tộc người - ngôn ngữ Mông
- Dao” (Nxb Văn hóa dân tộc, năm 2002), Th.s Đỗ Đức Lợi đã trình bày về các tập
tục trong chu kỳ đời người của dân tộc Dao nói chung, nhưng cũng chưa đưa ranhững đánh giá những tập tục đó trong đời sống văn hóa xã hội hiện nay
Trong cuốn “Lễ tục của người Dao ở Vĩnh Phúc và Lào Cai” của Xuân Mai
- Phạm Công Hoan do Nxb Văn hóa Dân tộc xuất bản năm 2012 và “Văn hóa dân gian một số dân tộc thiểu số huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” (Nxb Khoa học xã
hội, 2010) của nhiều tác giả cũng có đề cập khái quát về phong tục ma chay, cướihỏi của người Dao
Các công trình nghiên cứu trên từ các góc nhìn khác nhau đã ít nhiều đề cậpđến những lễ nghi trong chu kỳ đời người của người Dao, trong đó có tang ma vàcưới hỏi Song phần lớn các tác phẩm nghiên cứu trên một phạm vi rộng với nhữngđặc trưng văn hóa của người Dao nói chung hoặc một vài đặc trưng trong các lát cắtvăn hóa Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu văn hóa người Dao từ góc độtìm hiểu những yếu tố đã lỗi thời, lạc hậu
Do đó đề tài về công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục trong ma chay, cưới hỏicho đồng bào dân tộc Dao ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa hiện nay là một địa
Trang 5hạt nghiên cứu còn bị bỏ trống Đây là một điều kiện thuận lợi nhưng cũng là mộtthách thức lớn đối với người nghiên cứu.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận về công tác tuyên truyền và tuyêntruyền bài trừ hủ tục ma chay, cưới hỏi ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
- Khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng của công tác tuyên truyền bài trừ hủtục trong ma chay, cưới hỏi của đồng bào dân tộc Dao huyện Cẩm Thủy, tỉnhThanh Hóa hiện nay
- Đưa ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền bài trừ hủ tụctrong ma chay, cưới hỏi ở vùng đồng bào Dao huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóagiai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục trong ma chay, cưới hỏi của dân tộc Dao
ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề xoay quanh việcđẩy mạnh công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục trong ma chay, cưới hỏi của dân tộcDao ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2010 đến nay, thông qua một sốmẫu nghiên cứu tại các xã
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trang 6Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về bài trừ hủ tụctrong văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số
Khóa luận có sử dụng những văn bản Chỉ thị, Báo cáo, quy định… của Trungương và tỉnh Thanh Hóa về vấn đề bài trừ hủ tục trong văn hóa và có sử dụng, kếthừa, sáng tạo các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước về các vấn đề cóliên quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của chủ nghĩaMác - Lênin, đồng thời kết hợp với nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thểkhác như phương pháp logic-lịch sử, quan sát, phân tích, tổng hợp, phương pháp sosánh, thu thập tài liệu, điều tra xã hội học, phỏng vấn, anket,…
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần tìm hiểu và làm sáng tỏ hơn những phong tục, tập quán trong
ma chay, cưới hỏi của dân tộc Dao ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa Góp phầnlàm rõ vai trò của công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục ma chay, cưới hỏi với việcbảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của người Dao nói chung và ngườiDao ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh hóa nói riêng Tìm hiểu thực trạng hủ tục trong
ma chay, cưới hỏi và tình hình công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục ma chay, cướihỏi của người Dao huyện Cẩm Thủy hiện nay Từ đó, đề xuất một số giải phápnhằm góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền bài trừ hủ tục trong ma chay, cướihỏi của dân tộc Dao huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo thêm cho cấp ủy Đảng và Ban Tuyêngiáo các cấp nghiên cứu và sử dụng trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền bàitrừ hủ tục ma chay, cưới hỏi cho đồng bào Dao và những ai quan tâm đến văn hóa,phong tục, tập quán ma chay, cưới hỏi của người Dao
Đề tài góp phần đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào người dântộc Dao trong việc thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa ở khu dân cư” và chương trình xây dựng nông thôn mới ở Cẩm Thủy, ThanhHóa trong giai đoạn hiện nay
Trang 77 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nộidung đề tài được chia thành 3 chương, 10 tiết
Trang 8CHƯƠNG 1 CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN BÀI TRỪ HỦ TỤC MA CHAY, CƯỚI HỎI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục ma chay, cưới hỏi cho đồng bào dân tộc thiểu số
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Tuyên truyền
Thuật ngữ tuyên truyền được nhiều nhà khoa học lý giải khác nhau, tiếp cận ởnhững góc độ khác nhau Tuy nhiên, trong những cách lý giải đó đều có sự thống nhất:
Một là, tuyên truyền là hoạt động truyền bá, phổ biến, giải tích của chủ thể về
một tư tưởng, một học thuyết hay một vấn đề nào đó cho đối tượng tuyên truyền
Hai là, tuyên truyền nhằm đạt tới mục đích là làm thay đổi nhận thức, thái độ
của đối tượng, hình thành ở họ một thế giới quan nhất định, phù hợp với lợi ích củachủ thể tuyên truyền
Ba là, tuyên truyền phải đạt tới hiệu quả là hình thành, thúc đẩy đối tượng tin
và hành động để thực hiện hóa quan điểm, chủ trương, mục đích đặt ra của chủ thểtuyên truyền
Với các cách lý giải đó và dựa trên cơ sở tiếp thu, kế thừa quan điểm của các
nhà khoa học đi trước, chúng ta có thể hiểu: “Tuyên truyền là phổ biến, giải thích một tư tưởng, một học thuyết, một quan điểm nào đó nhằm hình thành, củng cố ở đối tượng truyên truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một tư tưởng, một lối sống….thông qua đó tác động tới thái độ, thúc đẩy tính tích cực của họ trong thực tiễn xã hội”.
1.1.1.2 Công tác tuyên truyền
Công tác tư tưởng là một hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chínhđảng nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng trong quần chúng, thúc đẩyquần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng
Là một quá trình liên tục gồm nhiều khâu, các bộ phận kế tiếp nhau, công tác
tư tưởng bao gồm ba quá trình cơ bản: quá trình truyền bá hệ tư tưởng và vận dụng
Trang 9hệ tư tưởng để đề ra đường lối, chính sách; quá trình truyền bá hệ tư tưởng vàđường lối, chính sách (tái sản xuất hệ tư tưởng); quá trình biến hệ tư tưởng, đườnglối, chính sách thành hiện thực (“vật chất hóa” hệ tư tưởng) Ba quá trình này đượcV.I.Lênin gọi một cách tương ứng là công tác lý luận, công tác tuyên truyền vàcông tác cổ động.
Như vậy, công tác tuyên truyền là hoạt động nhằm truyền bá lý luận, xâydựng nhận thức mới, củng cố niềm tin và cổ cũ hành động Công tác tuyên truyềntiếp nối công tác lý luận, làm cho lý luận có sức sống mạnh mẽ, thể hiện sinh độngtrong thực tiễn, trở thành kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn Trong quan hệ vớicông tác cổ động thì tuyên truyền đóng vai trò xây dựng cơ sở nhận thức, thái độ và
xu hướng tình cảm, tạo điều kiện để cổ động, thúc đẩy hành động của con người
Có thể hiểu: Công tác tuyên truyền là một hình thái, một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó.
- Theo từ điển Tiếng Việt (Nxb Từ điển Bách khoa, 2007), bài trừ là tiêu
diệt, loại bỏ, làm cho mất đi
Bài trừ hủ tục là công tác đấu tranh nhằm xóa bỏ những hủ tục ra khỏi cuộcsống của con người, thay thế bằng những nét mới phù hợp với đời sống thực tại,làm cho đời sống văn minh hơn
Như vậy, công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục ma chay, cưới hỏi là hoạt độnggiải thích, nói cho người dân hiểu, người dân nhớ, tin và làm theo; là quá trình tácđộng từ nhận thức đến hành động của người dân, từ đó biến tư tưởng thành hành
Trang 10động cụ thể; làm hạn chế và loại bỏ những phong tục đã không còn phù hợp trong
ma chay, cưới hỏi ra khỏi môi trường văn hóa và đời sống xã hội
1.1.2 Biểu hiện của các hủ tục ma chay, cưới hỏi trong đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số
1.1.2.1 Nguồn gốc của các hủ tục ma chay, cưới hỏi trong đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số
Nếu tập quán là một hành vi, một công việc được lặp đi lặp lại nhiều lần trởthành một thói quen gắn chặt với đời sống sinh hoạt của một cá nhân hoặc một cộngđồng, thì phong tục là những nét tốt đẹp trong đời sống xã hội thể hiện qua hươngước, quy ước do cộng đồng thỏa thuận lập ra; mọi người trong cộng đồng thừa nhận
và tự nguyện có trách nhiệm thực hiện, duy trì Phong tục tồn tại trong phạm vi nhỏ
là làng, xã và lớn rộng hơn là bao trùm cả quốc gia, dân tộc Phong tục là vẻ đẹp củamỗi nền văn hóa dân tộc, đó chính là cốt cách, là bản sắc văn hóa của cộng đồng Tuynhiên, phong tục tập quán có tính bảo thủ bền vững lâu đời, trải qua thời gian lịch
sử và biến thiên xã hội nhiều nội dung dần trở nên lạc hậu Nếu không được lựachọn và đào thải hoặc bồi đắp nội dung mới, phù hợp với nhịp sống thời đại nó sẽtrở thành vật cản của sự tiến bộ xã hội, sẽ trở nên lạc hậu và trở thành những hủ tục.Như vậy, hủ tục bắt nguồn từ luật tục và là một thành tố nằm trong lễ tục nhưng cầnthiết loại bỏ ra khỏi đời sống Muốn hiểu được và đánh giá đúng các hủ tục, cần hiểuđúng giá trị các tập quán và phong tục hình thành nên hủ tục
Bài trừ hủ tục là vấn đề nhạy cảm trong đời sống văn hóa của cộng đồng và
là một công việc khó khăn lâu dài Vì cũng như phong tục, tập quán, hủ tục ăn sâuvào tiềm thức của cộng đồng nên việc bài trừ hủ tục thực chất là làm thay đổi cănbản nhận thức về tín ngưỡng, phong tục tập quán của cộng đồng, từ nhận thức đóchuyển hóa thành hành vi; từ hành vi trở thành hành động Chỉ khi nào chu trìnhnày được khép kín thì chúng ta mới thực sự hoàn thành công cuộc bài trừ hủ tục rakhỏi đời sống văn hóa xã hội của cộng đồng người
Hủ tục trong ma chay, cưới hỏi của người dân tộc thiểu số xuất phát từ quanniệm của người xưa về con người Họ cho rằng mọi vật đều có linh hồn nên khi chết
Trang 11đi hoặc bị hủy hoại chúng vẫn tồn tại ở một thế giới khác Do đó, niềm tin vào thầnlinh, về địa phủ, thiên đình được hình thành Con người nguyên thủy với nhữnghiểu biết hạn hẹp và nỗi sợ hãi trước tự nhiên đã tin rằng các thế lực ở một thế giới
vô hình có thể chi phối được thực tại nên duy trì những tục lệ, nghi lễ để thể hiện sựtôn kính đối với thần linh, tà ma, mong cho cuộc sống được yên bình Họ cũng tinrằng, ông bà, cha mẹ không bao giờ mất đi nên thực hiện các nghi lễ tang ma cầu
kỳ, nhiều thủ tục riêng vừa là sự tưởng nhớ, vừa là tiềm thức sợ hãi thần linh
Các biểu hiện văn hóa mà ngày nay đã trở thành những hủ tục, vốn là nhữngquan niệm về vũ trụ quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng của cộng đồng dân tộc thiểu
số đã ăn sâu trong máu thịt và tiềm thức của họ Chúng đã từng đảm nhận chứcnăng xã hội nhất định trong một tổng thể văn hóa với những thiết chế đặc thù.Nhưng khi các thiết chế văn hóa thay đổi, môi trường văn hóa thay đổi, chúng trởnên không còn phù hợp và không còn giữ được các giá trị nguyên bản nữa
Tuy nhiên, những hủ tục vẫn tồn tại một cách vô lý và ngấm ngầm diễn ratrong lòng xã hội hiện đại bởi nó vẫn tìm được những liên hệ để bám rễ Đó là thóiquen, là nếp tư duy của các thế hệ truyền lại, là hệ quả của sự thiếu hiểu biết và lợidụng lòng tin của con người để tư lợi cá nhân Đây cũng là nguyên nhân và môitrường dung dưỡng các biểu hiện mê tín dị đoan và hủ tục tồn tại
1.1.1.2 Hủ tục trong ma chay
Hủ tục văn hóa có thể tồn tại trong mọi giá trị văn hóa, nhưng đậm đặc nhất
là trong các phong tục, tập quán, lễ nghi trong đời sống của đồng bào các dân tộcthiểu số, mà tiêu biểu hơn cả là trong các nghi lễ của lễ tục vòng đời: sinh đẻ,trưởng thành, cưới hỏi, tang ma…
Hủ tục trong tang ma là hệ thống những nghi lễ cầu kỳ, kỳ lạ, thậm chí kỳquặc và vô lý khi một gia đình có người từ trần, các nghi lễ xoay quanh việc tổ chứctang lễ và tất cả những vấn đề liên quan
Một số đồng bào dân tộc thiểu số có tục lệ, khi người thân chết, họ thường giữthi thể trong nhà lâu ngày để cúng tế và tìm ngày đẹp làm ma (dân tộc Ê Đê MDhur,M’nông Kuênh, Mông, Dao…); mồ mả được chôn cất rải rác ở khắp nơi theo ý
Trang 12nguyện của gia đình và thầy cúng (chủ yếu là các dân tộc thiểu số Tây Nguyên vàmiền núi phía Bắc); không đảm bảo các điều kiện vệ sinh trong việc tang; nhữngngười có mặt trong đám tang vẫn ăn uống, sinh hoạt như thường lệ xung quanh (cácdân tộc thiểu số thuộc các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên…) Tùy từngdân tộc mà hủ tục này được lý giải theo nhiều nguồn gốc khác nhau như: nguồn gốc
từ câu chuyện cổ (dân tộc Mông, M’nông Gar…); để tưởng nhớ đến tổ tiên hoặc thểhiện sự hiếu thảo của con cháu với tổ tiên; thể hiện tình cảm của người đang sống đốivới người đã chết; do quan niệm về cõi âm và cõi dương
Ở một số dân tộc ngày nay vẫn tồn tại hủ tục không đặt thi hài vào quan tàitrong khi đưa đi chôn cất (dân tộc Mông, Dao ) Hủ tục này có nhiều cách lý giảikhác nhau, nhưng có thể thấy điều đó xuất phát từ trong lịch sử, cuộc sống của đồngbào dân tộc thiểu số là du canh du cư và sinh sống trên núi cao, vị trí địa l ý và khíhậu khắc nghiệt, đời sống nghèo khó (nhất là các đồng bào dân tộc thiểu số thuộccác tỉnh khu vực miền núi phía Bắc), nên khi có người chết, không chôn theo quantài mà chỉ có bó chiếu hoặc lót lá cây rừng dưới huyệt (dân tộc Mông, Xơ đăng…).Phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn quan niệm rằng, làm trái quy định của
tổ tiên là vi phạm lời nguyền, có thể dẫn đến trùng tang, người thân trong gia đình
có thể bị lụi bại, đau ốm, chết sớm (các dân tộc: Dao, Thổ, Mông…)
Một trong những biểu hiện của hủ tục trong ma chay đó là không ít dòng họ,gia đình coi trọng lễ nghi, cúng bái trong tang ma tới mức mê tín với niềm tin rằngphải tiến hành đầy đủ các thủ tục thì người chết mới được siêu thoát, sống yên ổn ởthế giới bên kia, không làm hại người thân, như lễ cúng phùn voòng trong tang mangười Dao, theo lệ phải cúng 3 ngày, 3 đêm cùng với đó là việc ăn uống cũng được
tổ chức liên tục trong các ngày cúng Mỗi đám như vậy thường tốn kém từ 3 đến 4
tạ thịt lợn, các hủ tục cúng bái rườm rà, tiền trả công cho đội thầy cúng cao từ 3 - 4triệu đồng, kèm theo cổ phần thực phẩm Đặc biệt, để chi trả cho lễ cúng này thậmchí gia đình phải đi vay mượn
Tiếp đó là tục phạt vạ khiến nhiều người lương thiện trở thành nạn nhân, cónhững trường hợp bị phạt vạ vô lý đến khó tin Ví dụ như trong tang ma, luật tục của
Trang 13ngời K’Ho và người Chu Ru quy định, một phụ nữ có chồng không may bị chếttrước thì họ phải đứng ra sắm sửa lễ vật mang đến nhà trai xin được xây mộ chochồng, xây xong mộ, họ phải làm thịt một con trâu và cơm rượu để mời họ hàngnhà trai ăn uống (tục Pơthi Shakơtinh – hay “trả nợ xương cốt”) Nếu do điều kiệnkinh tế khó khăn mà người phụ nữ không hoàn thành được nghĩa vụ của mình thìcon gái của người vợ goá bụa ấy phải tiếp tục thay mẹ “pơthi” cho cha và
“sakơtinh” cho họ hàng bên nội Theo hủ tục "Dọ-tơm-amí" của các tộc người Bana
và Jrai thiểu số ở Trường Sơn – Tây Nguyên, khi sinh con, nếu người mẹ khôngmay bị chết thì sẽ phải chôn đứa trẻ sơ sinh theo mẹ Bởi nếu để cháu bé lại thì vừakhông có sữa, không có người nuôi và đặc biệt là “hồn ma người mẹ sẽ về tìm con”,cháu bé sẽ là điềm gở mang đến nhiều điều xấu cho bản làng Nếu không tuân theo
sẽ bị cộng đồng lên án, thậm chí phạt vạ bằng vật chất Còn tại khu vực miền núiphía Bắc thì thường ăn uống linh đình gây tốn kém cho gia đình có người mất;thách cưới nặng nề; tin vào thầy cúng, thầy mo khi có bệnh tật, sinh nở
Lý giải cho quá trình siêu thoát, sự tồn tại, trưởng thành của linh hồn ở thế giớibên kia, phù hợp với tín ngưỡng của đồng bào về vũ trụ, thể hiện đạo hiếu, đạo lý củacon cháu đối với cha (mẹ) là những điều rất cần để nuôi dưỡng đời sống tinh thần cho
xã hội hiện đại Tuy nhiên do thủ tục tiến hành rườm rà, tốn kém thời gian, tiền bạc,lại mang nhiều yếu tố mê tín nên cần thiết phải thay đổi hoặc xóa bỏ
1.1.1.3 Hủ tục trong cưới hỏi
Hủ tục trong cưới hỏi là hệ thống các nghi lễ, thủ tục kỳ lạ và vô lý khi lấychồng, lấy vợ xoay quanh việc tổ chức cưới hỏi và những vấn đề có liên quan
Trong đám cưới của một số đồng bào dân tộc thiểu số, bên cạnh những nét đặcsắc vẫn còn một số hủ tục nên bài trừ Chẳng hạn, đồng bào dân tộc thiểu số ở miềnnúi thường cho con cái tảo hôn - kết hôn sớm trước tuổi trưởng thành Tảo hôn làviệc làm trái pháp luật của Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Luật hônnhân và gia đình quy định rõ: nam, nữ thanh niên đủ 18 tuổi mới được phép kết hôn.Điều này không những vi phạm pháp luật mà còn để lại những hệ luỵ khó lường đốivới cuộc sống của các cặp vợ chồng trẻ Chính vì vậy, đây là một tập tục lạc hậu cần
Trang 14phải loại bỏ trong đời sống xã hội hiện nay Nạn tảo hôn đã xuất hiện từ trước khipháp luật quy định cụ thể về độ tuổi kết hôn nhưng do hạn chế về hiểu biết và sứcnặng của luật tục nên vẫn còn tồn tại nhiều Hủ tục này không chỉ xảy ra trong cuộcsống của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, mà còn tồn tại, ăn sâu trongđời sống của người dân vùng Tây Nguyên, Tây Nam bộ Nguyên nhân là do đời sốngkinh tế khó khăn, trình độ dân trí và nhận thức pháp luật hạn chế Đặc biệt, nhữngnăm gần đây, rất nhiều phụ nữ bị lừa gạt sa vào tệ nạn xã hội hoặc tự bỏ đi nơi khácgây tâm lý hoang mang cho các bậc phụ huynh, nên tình trạng cha mẹ cho con emmình kết hôn sớm ngày càng phổ biến Những hệ luỵ do tảo hôn ở vùng miền núi đã
và đang gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với chất lượng cuộc sống của chínhnhững gia đình “trẻ con”, rộng hơn là của cộng đồng dân cư khu vực đó
Bên cạnh đó là tình trạng hôn nhân cận huyết thống, tức hôn nhân trong quan
hệ nội tộc, có thể là hôn nhân trong cùng một nhóm thân tộc, họ hàng theo luật tụchoặc tập quán quy định có mối quan hệ huyết thống với nhau (theo dòng họ mẹhoặc dòng họ cha) Nói cách khác, hôn nhân cận huyết thống là hôn nhân giữanhững người có cùng dòng máu trực hệ Có thể là hôn nhân anh chị em họ chéo,hôn nhân anh chị em họ song song, tức hôn nhân con anh/chị với con em Thậm chí
ở một số vùng miền, người dân tộc thiểu số vẫn tồn tại phổ biến hình thức giao phốihôn nhân giữa con anh-em, chị- em trong một nhà Đây có thể coi là một nét khácbiệt có từ lâu đời trong văn hóa bản địa của các đồng bào dân tộc ít người với mức
độ hôn nhân cận huyết chiếm tỉ lệ khá cao
Theo thống kê của trung tâm nghiên cứu và phát triển dân số (Tổng cục Dân
số – Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế) trong 5 năm trở lại đây, tại một số dân tộc như
Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê đê, Chu Ru, Chứt… và đặc biệt là các dân tộc Si La(Điện Biên, Lai Châu), Lô Lô, Pu Péo (Hà Giang), Mông Xanh (Lào Cai), Rơ Mân,Brâu (Kon Tum) thì cứ 100 trường hợp kết hôn thì có 10 trường hợp là hôn nhân cậnhuyết thống Và họ đang là những dân tộc ít người có nguy cơ suy giảm số lượng vàchất lượng dân số rõ rệt nhất do tình trạng giao phối hôn nhân cận huyết gây ra
Trang 15Những hủ tục này vẫn còn tồn tại dai dẳng trong đời sống đồng bào dân tộcthiểu số là do quan niệm trong hôn nhân, tư tưởng lễ giáo phong kiến, trọng namkhinh nữ: Theo quan niệm của họ thì cần phải dựng vợ gả chồng sớm để lấy ngườilàm nương rẫy hoặc sợ không lấy sớm sẽ hết con gái đẹp; con gái trong gia đình khi
đã đi lấy chồng thì con của con gái đó được coi là mang dòng máu của nhà chồngnên vẫn được kết hôn với con cuả các anh, chị em khác trong gia đình; lấy ngườingoài huyết thống, sau này vợ chồng chung sống không hòa thuận, lấy người cùng
họ sẽ chăm sóc tốt hơn, dễ cảm thông và đoàn kết gắn bó hơn, …
Ngoài ra, tục lệ thách cưới, tổ chức đám cưới rườm rà, rượu thịt say sưanhiều ngày cũng là những hủ tục cần sớm loại bỏ Thách cưới là những thủ tục đượcđặt ra buộc phải thực hiện để có thể kết hôn…Ví dụ như tại Nà Hẩu (Yên Bái) trướckhi cưới, nhà trai phải đến nhà gái bàn bạc và nhà gái có quyền thách cưới, đòi hỏinhững món đồ sính lễ lớn. Thường là hàng chục kg thịt lợn, trâu bò, bạc trắng, thậmchí có gia đình nhà gái còn đòi cả vàng và vài triệu đồng…Theo quan niệm của nhàgái là khi người con gái về làm dâu người khác là trong nhà mất đi một lao động, dovậy mà họ đương nhiên có quyền thách cưới thật cao để bõ công nuôi dưỡng NàHẩu có trên 63% là hộ nghèo, trong đó dân tộc Mông chiếm tới 99% Hầu hết,người dân nơi đây chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời nên cái nghèo vẫn mãiđeo đẳng năm này qua năm khác nên số sính lễ cho đám cưới là một gánhnặng. Món nợ sính lễ cứ đeo đẳng những cặp vợ chồng đó Hậu quả của tục tháchcưới là rất lớn, không chỉ ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế của gia đình mà còn ảnhhưởng đến đời con cháu về sau Do đó, việc xoa bỏ hủ tục này là việc làm cần thiết
Như vậy, các biểu hiện trong nghi lễ tang ma, cưới hỏi của đồng bào dân tộcthiểu số rất đa dạng và tồn tại dưới nhiều hình thức cũng như xuất hiện trong nhiềuhiện tượng đời sống cụ thể Ban đầu nó là những biểu hiện cụ thể của quan niệm vềnhân sinh quan truyền thống nhưng ngày càng không phù hợp và bộc lộ những ảnhhưởng xấu đến môi trường văn hóa - xã hội Nhìn nhận, đánh giá đúng bản chất củacác hiện tượng kể trên là cần thiết để có những giải pháp tác động hiệu quả và triệt để
Trang 161.1.3 Vai trò của công tác tuyên truyền đối với việc bài trừ hủ tục của đồng bào dân tộc thiểu số
1.1.3.1 Vai trò tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp xác định đúng đắn, cụ thể mục tiêu bài trừ hủ tục trong ma chay cưới hỏi
Công tác tuyên truyền góp phần tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấpxác định đúng đắn, cụ thể mục tiêu bài trừ hủ tục trong ma chay, cưới hỏi cho đồngbào dân tộc thiểu số Cụ thể là : tham mưu cho từng đơn vị, ở từng thời điểm, định
ra bước đi, giải pháp thích hợp để giáo dục, thuyết phục, vận động lôi cuốn đôngđảo đồng bào dân tộc thiểu số tham gia; tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền cáccấp trong việc quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng về bài trừ hủ tục chođồng bào dân tộc thiểu số ngay trong cấp ủy Đảng, trong từng cán bộ, đảng viêntrong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội Từ đó, tạo ra sự thốngnhất về nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về tình hình, nhiệm vụ, mục tiêu củacông tác bài trừ hủ tục ma chay, cưới hỏi cho đồng bào dân tộc thiểu số
Công tác tuyên truyền cũng chính là cầu nối giữa Đảng và dân, tạo ra sứcmạnh về chính trị, tư tưởng to lớn trong xã hội Công tác tuyên truyền và nắm bắt tưtưởng, dư luận xã hội khi được quan tâm đúng mức sẽ phản ánh kịp thời các thôngtin phục vụ hoạt động lãnh đạo, quản lý bằng nhiều hình thức, trong đó có việc địnhhướng chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống và kiên quyết bài trừ hủ tục, mê tín
dị đoan Nghiên cứu xây dựng, bố trí các cụm panô lớn ở những trục đường trungtâm một cách hợp lý vừa đảm bảo nội dung tuyên truyền, vừa dễ hiểu, dễ nhớ, dễlàm theo, đặc biệt là đối với đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số
1.1.3.2 Vai trò tham gia trực tiếp, hướng dẫn đồng bào thực hiện nếp sống văn minh trong ma chay cưới hỏi
Tham gia vào công cuộc bài trừ hủ tục và thực hiện nếp sống văn minh trong
ma chay, cưới hỏi cho đồng bào dân tộc thiểu số, công tác tuyên truyền thể hiện rõvai trò tiên phong của mình Trước hết, công tác tuyên truyền phổ biến đường lối,quan điểm của Đảng về việc bài trừ hủ tục lạc hậu, xây dựng đời sống văn hóa mới,xây dựng nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang và lễ hội… xây dựng gia đình
Trang 17văn hóa, làng xóm, thôn bản văn hóa… Công tác tuyên truyền đưa những đưa nhữngđường lối, chính sách của Đảng về xây dựng văn hóa, bài trừ hủ tục lạc hậu tới quầnchúng nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu, nhân dân tin và nhân dân làm theo.Mặt khác qua quá trình gần gũi với cơ sở, am hiểu đời sống của nhân dân, nắmbắt được biểu hiện của hủ tục trong đời sống của đồng bào, công tác tuyên truyềnđóng vai trò là cầu nối giữa Đảng với dân Nhanh chóng định hướng và góp phầnkịp thời sửa chữa, điều chỉnh những lệch lạc đang xuất hiện trong thực tiễn theođúng định hướng của Đảng và Nhà nước Thông qua công tác tuyên truyền, tâm tưnguyện vọng của nhân dân được phản ánh lại để đường lối, chính sách được hoànthiện và gắn kết với thực tiễn Bằng nhiều hình thức khác nhau, vai trò của công táctuyên truyền thể hiện được tính tiên phong của mình trong việc thay đổi nhận thức,niềm tin, hành động cho quần chúng nhân dân trong việc bài trừ những hủ tục, làmcho “lý luận thâm nhập vào quần chúng” để qua đó” trở thành lực lượng vật chất”
Đưa đời sống văn hóa mới tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội,biến tiềm năng văn hóa thành lợi thế và làm cho văn hóa đồng bào dân tộc thiểu sốngày càng được khôi phục và phát triển Chú trọng việc tổng kết, đánh giá, rút kinhnghiệm từ các mô hình văn hóa, nhằm phát huy và mở rộng những việc làm tốt,những cách làm hay; kịp thời phát hiện, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, xa rời cácgiá trị văn hóa của dân tộc Nhờ đó, công tác tuyên truyền đã góp phần xây dựng nềnvăn hóa của dân tộc thiểu số nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc, giữ gìn và phát huy những nét đẹp văn hóa nguồn cội, bài trừ đượcnhững hủ tục, xây dựng cuộc sống mới văn minh, giàu đẹp cho nhân dân
1.1.3.3 Vai trò tham gia trực tiếp vào quá trình sơ kết, tổng kết trong việc bài trừ hủ tục trong ma chay cưới hỏi
Công tác tuyên truyền là hoạt động truyền bá, phổ biến cương lĩnh, đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước góp phần xây dựng thế giới quan khoa học, bồidưỡng lý tưởng, xây dựng niềm tin, định hướng giá trị đúng đắn thúc đẩy con ngườihành động tích cực và sáng tạo để thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng,xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nông thôn mới Kết quả của công tác tuyên
Trang 18truyền trực tiếp phục vụ cho các hoạt động sơ kết, tổng kết quá trình bài trừ hủ tụctrong văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số
Đồng thời, việc tuyên truyền kết quả của công tác sơ kết, tổng kết công tác bàitrừ hủ tục cho đồng bào dân tộc thiểu số trong từng giai đoạn lại có tác dụng uốnnắn kịp thời những lệch lạc còn tồn tại, cũng như biểu dương và khen thưởng nhữngđiển hình tiên tiến, những cá nhân xuất sắc trong công tác bài trừ hủ tục Từ đó tạo
ra được phong trào quần chúng rộng rãi
Trên cơ sở quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
về xây dựng đời sống văn hóa, công tác tuyên truyền đã tổng kết những kinhnghiệm, bài học rút ra từ công tác bài trừ hủ tục cho đồng bào dân tộc thiểu số, qua
đó góp phần giải quyết, phản ánh những vấn đề tư tưởng phát sinh từ phía đồng bàodân tộc thiểu số Thông qua nắm bắt dư luận xã hội, nắm bắt tâm tư, nguyện vọngcủa đồng bào, công tác tuyên truyền tham mưu đề xuất việc thực hiện chủ trương,chính sách bài trừ hủ tục cho đông bào dân tộc thiểu số một cách hiệu quả trong tìnhhình mới Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyêntruyền bài trừ hủ tục cho đồng bào dân tộc thiểu số
1.2 Sự cần thiết phải đẩy mạnh tuyên truyền bài trừ hủ tục ma chay, cưới hỏi cho đồng bào dân tộc thiểu số
Các hủ tục ma chay, cưới hỏi của đồng bào dân tộc thiểu số đã và đang gây
ra hậu quả trầm trọng và lâu dài cho đời sống văn hóa xã hội; ảnh hưởng lớn đếncuộc sống, làm tổn hại về tiền của, sức khỏe của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng
và nhân dân nói chung Công tác tuyên truyền đã thể hiện được những vai trò nhấtđịnh trước tình trạng tồn tại nhiều hủ tục trong ma chay, cưới hỏi của đồng bào dântộc thiểu số Nhưng trong điều kiện hiện nay, dưới tác động của nhiều yếu tố màcông cuộc này càng cần không ngừng đẩy mạnh, vì những lý do cụ thể sau:
1.2.1 Xuất phát từ yêu cầu của việc thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và chương trình xây dựng nông thôn mới
Về bản chất, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” làphong trào nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giữ gìn và
Trang 19phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng nếp sống văn minh,
kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật; xây dựng môi trường văn hóasạch, đẹp, an toàn, xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao và nâng cao chất lượngcác hoạt động văn hóa, thể thao cơ sở; làm cho phong trào lan tỏa, thấm sâu vàotừng gia đình và toàn xã hội, tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động,hướng tới một xã hội thực sự văn minh
Bài trừ hủ tục lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh ở khu dân cư là một trongnhững nội dung quan trọng của phong trào Tuy nhiên, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống, kết quả đạt được ở nội dung thực hiện này chưa cao Bên cạnh nhữngnét văn hóa đặc sắc thì những hủ tục vẫn còn tồn tại cũng không ít Việc bài trừ hủtục là một việc làm cần có sự tác động liên tục và lâu dài mới có hiệu quả triệt để Do
đó, cần không ngừng nâng cao vai trò của công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục trong
ma chay, cưới xin của đồng bào dân tộc thiểu số để đáp ứng được nhu cầu của phongtrào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cũng như phong trào xây dựngnông thôn mới, thực hiện tốt các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010
-2020 là một chương trình lớn đang được Đảng, Nhà nước tập trung chỉ đạo và triểnkhai thực hiện trên phạm vi toàn quốc nhằm xây dựng nông thôn giàu đẹp, văn minh.Muốn thực hiện chương trình đi vào chiều sâu cần thiết phải có sự chuyển biến rõ rệt
từ trong nhận thức của người dân về các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa,…Bài trừ hủtục, tập quán sinh hoạt lạc hậu là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá giađình văn hóa, thôn xóm văn hóa, làng văn hóa, làm cơ sở cho xây dựng nông thônmới Do đó, làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục không chỉ đáp ứngtiêu chí xây dựng nông thôn mới mà quan trọng hơn cả là làm “đòn bẩy” thúc đẩyvăn hóa, kinh tế phát triển, mang cuộc sống văn minh tới nhân dân, đặc biệt là vùngđồng bào dân tộc thiểu số nơi mà đời sống còn nhiều khó khăn
1.2.2 Xuất phát từ ảnh hưởng của các hủ tục đối với đời sống cá nhân và đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số
1.2.2.1 Ảnh hưởng đến đời sống cá nhân
Trang 20Các hủ tục đã và đang tác động không nhỏ lên mọi mặt đời sống của đồng bàodân tộc thiểu số về cả kinh tế, văn hóa, an ninh trật tự, sức khỏe con người Hủ tụchay là những quan niệm cố hữu và bảo thủ, cùng với những thủ tục rườm rà và ngặtnghèo của nó đem lại nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho các thành viên cộng đồng Trước hết là những thiệt hại nặng nề về kinh tế Trong tang ma, cưới xin việc
tổ chức linh đình, ăn uống kéo dài làm ảnh hưởng tới kinh tế của mỗi hộ gia đình.Hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số chỉ sống dựa vào nương rẫy, thu nhập chính cũngchỉ từ nương rẫy, gia súc, gia cầm, dệt vải… nên đời sống kinh tế còn nhiều khókhăn Trong khi đó, những sự kiện xoay quanh lễ tục vòng đời của một các nhântrong gia đình không chỉ diễn ra một lần Do đó, ở một góc độ nào đó nó trở thànhmột gánh nặng đối với gia đình Chính những hủ tục này khi diễn ra không cònmang vai trò là động lực tinh thần thúc đẩy kinh tế phát triển nữa mà kìm hãm vànguyên nhân khiến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn triền miên vàkéo theo rất nhiều hệ lụy khác do thiếu điều kiện kinh tế (giáo dục, y tế, khoa họccông nghệ vào sản xuất…)
Những nét đẹp trong văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số cần thiết phảiđược bảo tồn và phát huy đến những thế hệ sau, nhưng một khi những phong tục tậpquán đã không còn phù hợp với cuộc sống hiện đại, mà tồn tại dai dẳng thì lại trởthành vật cản trở của sự phát triển văn hóa dân tộc Do đó, sự tồn tại của các hủ tụccòn tác động ngược trở lại tới văn hóa truyền thống của dân tộc, làm biến dạng đinhững nét đẹp truyền thống của dân tộc và kéo lùi bước phát triển và tiến bộ củachính nền văn hóa của họ Bởi vậy, bài trừ hủ tục ra khỏi đời sống của đồng bào dântộc thiểu số cũng chính là công việc góp phần vào việc giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc của dân tộc mìnhnói riêng và nền văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung
Thứ hai, nhiều hủ tục trong ma chay, cưới hỏi xuất phát từ nhận thức chưađúng đắn của người dân Những tục lệ này thực chất là những thói quen lâu đời đã
ăn sâu nên khó bỏ và ảnh hưởng nhiều tới đời sống, tinh thần và sức khỏe của conngười.; hôn nhân cận huyết thống sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của nòi giống ngườidân tộc thiểu số… Y học đã chứng minh hôn nhân càng gần đời với nhau thì tỉ lệ gây
Trang 21tử vong ở đứa trẻ càng cao Đó là một trong những nguyên nhân khiến thể trạng củangười dân tộc thiểu số ngày càng thấp bé đi, trí tuệ cũng kém phát triển thậm chí cóthể dẫn đến diệt vong Mặt khác, nếu con người tiếp tục u mê trong các hủ tục và để
bị kéo ngược lại quá khứ thì càng lúc càng bị thui chột con người cá nhân, khôngphát huy được năng lực sáng tạo để phát triển kinh tế gia đình phù hợp với điều kiệnmới Hơn nữa, các hủ tục xem bói, ép cưới trong cưới hỏi là vi phạm quyền tự do kếthôn của nam và nữ; cản trở hôn nhân, làm cho chất lượng đời sống gia đình khônghòa thuận, có thể dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình, tạo ra những mối bất hòa xuấtphát từ hôn nhân không tự nguyện, không được tự do tìm hiểu nhau Đây cũng là mộttrong những nguyên nhân làm cho kinh tế gia đình khó khăn, chất lượng cuộc sốnggia đình thấp
1.2.2.2 Ảnh hưởng đến đời sống xã hội địa phương
Văn hóa là hiện thân của sự phát triển những cũng chính là cái nôi nuôi dưỡngmọi sự phát triển Văn hóa tạo ra môi trường sống và không gian tinh thần để nâng
đỡ các không gian chính trị và không gian kinh tế Chính bởi vậy, sự phát triển vềkinh tế và chính trị phụ thuộc đáng kể vào không gian tinh thần đó Nếu không giantinh thần lạc hậu, trì trệ, u mê, con người sẽ nảy sinh tâm lý tự mãn về những giá trịcủa mình, rất khó khăn trong việc nhận ra cái mới và tiếp cận cái mới, và do đó, sẽ
bỏ lỡ các cơ hội phát triển
Đồng bào các dân tộc thiểu số do những luật tục trong truyền thống, thườngsống lặng lẽ, kín đáo, ít bộc lộ tâm tư, tình cảm, giao lưu với người ngoại tộc, từ đógây cản trở sự phát triển tộc người Những hủ tục, các ma thuật, các nghi lễ… củađồng bào dân tộc thiểu số không chỉ tác động tiêu cực đến đời sống của riêng họ màcòn làm ảnh hưởng đến các dân tộc khác, các không gian sống và không gian vănhóa lân cận Các hủ tục, các nghi lễ diễn ra phức tạp, kéo dài nhiều ngày làm ảnhhưởng đến cuộc sống hàng ngày; ảnh hưởng đến sức khỏe; ô nhiễm môi trườngsống cũng như phong tục, tập quán của các dân tộc khác; cản trở quá trình phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Những hủ tục này có thể gây nên nhiều tác hại:nghi kỵ, thù hằn giữa các gia đình, dòng họ, thậm chí mất đoàn kết nội bộ giữanhóm người cùng dân tộc với nhau và gây mối hiềm khích với các dân tộc khác Có
Trang 22thể nói, sự lạc hậu về mặt văn hoá, nếu nhìn từ góc độ này, sẽ ảnh hưởng đáng kểđến tiến trình phát triển của mỗi cá thể, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc và cả đất nước.Thực tế cho thấy, ở những cộng đồng có nền văn hóa lạc hậu, thái độ cứngnhắc, không cởi mở và không khách quan, không bao dung đối với các nền văn hóakhác biệt đã tạo ra sự đối kháng không phải chỉ giữa tầng lớp này với tầng lớp kia,giữa thế hệ này với thế hệ kia trong cộng đồng mà hơn thế giữa chính cộng đồng đóvới thế giới bên ngoài Trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề nàycàng cần được chú trọng Bởi mỗi một nền văn hoá, mỗi một quốc gia không thểtồn tại độc lập với thế giới bên ngoài Một nền văn hóa lạc hậu, không cởi mở vàrễu rã trong bản sắc chắc chắn không đủ khả năng giúp các chủ nhân của nó vượtqua ngưỡng của sự chậm phát triển để đi đến với cái tiến bộ
Đã đến lúc những hủ tục lạc hậu, không còn phù hợp phải được bài trừ, xóa bỏ
để tạo nên sức mạnh nội sinh vững chắc đưa mỗi nền văn hóa tiến bước trên conđường hòa nhập nhưng không hòa tan trong thời đại này Do đó, công tác tuyêntruyền bài trừ hủ tục cần được đặc biệt quan tâm thay đổi nhận thức, quan niệm,nâng cao năng lực thu nhận các giá trị tiến bộ và loại bỏ những gì lạc hậu và cản trở
sự phát triển cho đồng bào các dân tộc thiểu số, cũng tức là xúc tiến sự đồng thuậntrong việc vượt qua những khó khăn về nhận thức và hiện thực hóa các cơ hội pháttriển của cộng đồng
1.2.3 Xuất phát từ nguy cơ lợi dụng các hủ tục và sự thiếu hiểu biết của đồng bào dân tộc thiểu số nhằm thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch
Tình hình chính trị xã hội trong nước và thế giới diễn biến ngày một phức tạpphần nào tác động đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thựctrạng này tiềm ẩn trong đó nhiều yếu tố bất ổn, đặc biệt là đối với những vùng đồngbào dân tộc thiểu số, tạo ra những thách thức mới, nguy cơ mới về an ninh chính trị
tư tưởng Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch ngày càng quyết liệt trên tất
cả các lĩnh vực và đa dạng về thủ đoạn, hình thức, rộng rãi về lực lượng và ngàycàng công khai Chúng lợi dụng triệt để tình hình ở những vùng đồng bào dân tộc
Trang 23thiểu số, thông qua các vụ khiếu kiện, vấn đề tự do, dân chủ, tôn giáo và nhất làbám vào các hủ tục….để chống phá và kết hợp với các yếu tố chủ quan, khách quankhác để tác động đến tư tưởng, nhận thức của một số cán bộ, nhân dân và đặc biệt làđồng bào dân tộc thiểu số.
Đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam sống xen kẽ với nhau, không thành vùnglãnh thổ riêng cho một dân tộc nào Đời sống kinh tế khó khăn lại do thiếu hiểu biếtnên tâm lý chung của đồng bào dân tộc thiểu số là rất dễ bị dao động, kích động, dụ
dỗ, lôi kéo tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp luật Sự thiếu kinh nghiệm lạikhông thường xuyên giao lưu với xã hội bên ngoài nên sự hiểu biết càng hạn chế,bản lĩnh chính trị không vững vàng nên khả năng “tự đề kháng” chưa cao trướcnhững âm mưu, thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch Đây là điểm yếu để cácthế lực thù địch lợi dụng tập trung tuyên truyền, mua chuộc, lôi kéo, dụ dỗ để thựchiện âm mưu chống phá
Mặt khác, hủ tục đã ăn sâu vào nhận thức, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu
số rất khó bỏ nên thường dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để kích động, thực hiệndiễn biến làm lệch hướng đi của đồng bào xa rời lợi ích của đất nước, của dân tộc,con đường của Đảng và Nhà nước…Hủ tục còn tồn tại thì trình độ nhận thức củađồng bào dân tộc còn hạn chế, là điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch muachuộc, lợi dụng Do đó, bài trừ hủ tục còn làm tăng nhận thức, niềm tin của bà condân tộc vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đi lên một xã hội tốt đẹp hơn, vănminh hơn Cần có sự quan tâm hơn nữa của công tác tuyên truyền để bài trừ đượcnhững hủ tục lạc hậu, mang lại cuộc sống văn minh, phát triển cho đồng bào dân tộcthiểu số Góp phần vào cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình hiện nay
Từ những hậu quả đối với đời sống cá nhân cũng như văn hóa xã hội của địaphương của các hủ tục ma chay, cưới hỏi của đồng bào dân tộc, có thể thấy được táchại khôn lường của các hủ tục Để bài trừ các hủ tục này ra khỏi đời sống văn hóa xãhội nói chung và văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng thì cần sự vào cuộc thật sự vàtriệt để của các ban, ngành, của toàn dân mà trước nhất và trực tiếp nhất là vai trò củacông tác tuyên truyền của các ban, ngành, đoàn thể xã hội và toàn thể người dân
Trang 24CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN BÀI TRỪ HỦ TỤC TRONG
MA CHAY, CƯỚI HỎI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC DAO Ở HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
2.1 Những yếu tố tác động đến công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục của dân tộc Dao huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Cẩm Thủy
* Đặc điểm tự nhiên:
Thanh Hóa nằm ở cực Bắc Miền trung đất nước; có 7 dân tộc anh em cùngsinh sống, đó là: Kinh, Mường, Thái, H'mông, Dao, Thổ, Hoa Khí hậu chia bốnmùa rõ rệt và không quá khắc nghiệt cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên với trữlượng phong phú là điều kiện thuận lợi cho kinh tế địa phương phát triển, chấtlượng cuộc sống và dân trí người dân trong tỉnh được nâng cao, tạo thuận lợi khôngnhỏ trong công tác tuyên truyền trên nhiều lĩnh vực
Cẩm Thủy là một huyện trung du miền núi nằm ở phía Tây - Bắc của tỉnhThanh Hóa, cách Thành phố Thanh Hóa 70 km Toàn huyện có 19 xã và 01 thị trấn,
có 10 xã được công nhận là xã vùng cao, trong đó: 4 xã đặc biệt khó khăn Địa hìnhthấp dần xuống thung lũng sông Mã theo hướng Tây bắc - Đông nam Điều này gâykhông ít khó khăn cho công tác truyền nói chung và công tác tuyên truyền bài trừ hủtục ma chay, cưới hỏi cho đồng bào dân tộc Dao nói riêng Cẩm Thuỷ có khí hậunhiệt đới gió mùa, không quá nóng, mưa vừa phải cùng nguồn tài nguyên thiênnhiên đa dạng và phong phú với trữ lượng không nhỏ là điều kiện thuận lợi kinh tếhuyện phát triển, chất lượng cuộc sống người dân được nâng cao, là nền tảng gâydựng cơ sở vật chất cho ngành tuyên giáo được đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quảcông tác tuyên tuyền trên nhiều lĩnh vực
* Đặc điểm kinh tế-xã hội
Cẩm Thủy có đường Quốc lộ 217 dài 40km tạo điều kiện cho thông thương,giao lưu hàng hoá giữa các huyện phía Đông và phía Tây của tỉnh; đường Hồ ChíMinh tạo điều kiện để huyện trao đổi hàng hoá với các tỉnh giữa 02 miền Bắc -
Trang 25Nam Thêm vào đó, đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 217 và sông Mã lại giao nhau tạithị trấn Cẩm Thuỷ tạo điều kiện gắn Cẩm Thuỷ với các lãnh thổ kinh tế trong vàngoài tỉnh, nhất là với thủ đô Hà Nội.
Theo báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội năm 2012 của UBND huyện CẩmThủy đã đạt được nhiều thành tựu và nhiều ngành kinh tế phát triển về: công tác thungân sách, huyện đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, đề ra nhiều giải pháp nhằm tăngnguồn thu; tổng thu NSNN trên địa bàn đạt 32,2 tỷ vượt 19,3% so với mục tiêu nghịquyết Chi ngân sách đảm bảo đúng quy định và dự toán được duyệt, tổng chi ngânsách cấp huyện 308,3 tỷ đồng, đạt 117,4% dự toán Hoạt động ngân hàng đã bámsát nhiệm vụ của ngành và nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh trên địa bàn
Trên địa bàn huyện, hệ thống thương mại, du lịch phát triển mạnh Là huyện cómật độ di tích và danh thắng cao, nhiều di tích lịch sử văn hoá và danh thắng đã đượcxếp hạng: Di chỉ khảo cổ Làng Hạ (Cẩm Sơn), Đền Ngọc (Cẩm Lương), Cửa Hà (CẩmPhong),…Đặc biệt, được thiên nhiên ban tặng, tại Làng Ngọc, xã Cẩm Lương có suối
cá, với giống cá quý, màu sắc sặc sỡ được nhân dân trong vùng gọi là cá thần, hàngnăm đã có hàng chục nghìn du khách đến thăm Năm 2004, UBND tỉnh Thanh Hoá đãphê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng và phát triển du lịch suối cá Cẩm Lương Đếnnay suối cá Cẩm Lương là điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài tỉnh
Hệ thống giao thông thuận lợi, toàn huyện có 19/20 xã, thị trấn đã có đườngnhựa đến trung tâm xã Mạng lưới cung cấp điện của huyện ngày càng được tăngcường cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo cung cấp điện ổn định cho sản xuất vàsinh hoạt 100 % số xã được sử dụng điện lưới quốc gia, có 01 thôn vùng sâu, vùng
xa chưa có điện Toàn huyện có 35 trạm BTS1 phủ sóng trên 90% địa bàn Hệthống điện thoại hữu tuyến đã đến 20/20 xã thị trấn và hầu hết các địa điểm dân cưtrên địa bàn huyện Thực hiện chương trình 134 của Chính phủ, đến nay huyện đã
có 2.000 hộ/2.018 hộ hỗ trợ công trình nước sinh hoạt phân tán, các cơ sở sản xuấtkinh doanh đều được cung cấp đủ nước theo yêu cầu
Năm 2011, Cẩm Thủy có 130.580 người Có 3 dân tộc anh em sinh sống,trong đó: dân tộc Mường chiếm 52,4 %, dân tộc Kinh: 44,5 %, dân tộc Dao 2,9%,
Trang 26còn lại là các dân tộc khác Các dân tộc ít người chủ yếu sống ở các xã vùng cao, xaxôi Đây là điều gây khó khăn cho công tác tuyên truyền nói chung và công táctuyên truyền hủ tục cho đồng bào dân tộc Dao trong huyện nói riêng Đồng thời sự
đa dạng các vùng địa bàn dân cư tạo nên sự không đồng đều về hiệu quả tuyêntruyền giữa các địa bàn trong huyện
Cẩm Thuỷ có lực luợng lao động dồi dào, chiếm 45,6 % dân số toàn huyện;
số lao động đã qua đào tạo: 8.285 người, chiếm 16,2 %, trong đó lao động được đàotạo nghề: 3.968 người, đào tạo các trình độ chuyên môn khác 4.317 người
Những kết quả đạt được trên đây, là tiền đề quan trọng nâng cao hiệu quảcông tác tuyên truyền với nhiều hình thức, các nội dung tuyên truyền có điều kiệnđến với người dân một cách toàn diện và chính xác hơn Dân số đông là lợi thế củahuyện, là nguồn cung cấp lực lượng làm công tác tuyên giáo Tuy nhiên, do dân cưphân bố không đều, phát triển kinh tế và trình độ học vấn có sự chênh lệch rõ rànglàm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác tuyên truyền trong huyện
2.1.2 Đặc điểm đồng bào dân tộc Dao ở huyện Cẩm Thủy
* Đặc điểm phân bố
Trên địa bàn huyện Cẩm thủy, có 3 dân tộc anh em sinh sống, trong đó: dântộc Mường 52,4 %, dân tộc Kinh 44,5 %, dân tộc Dao 2,9 % còn lại là các dân tộckhác…Theo số liệu thống kê dân số năm 1997, của Tổng cục Thống kê, ở ThanhHóa có 7.382 người Dao thuộc hai nhóm : Dao quần chẹt và Dao Đỏ Cho đến nay,
ở Thanh Hóa vẫn quen gọi người Dao Quần Chẹt là người Mán và Dao Đỏ là ngườiGiáo Nhóm Dao Quần Chẹt ở vùng thấp có 10 làng với số người là 6.748 Ở huyệnCẩm Thủy có 7 làng người Dao gồm: Phú Sơn, Sơn Lập, Bình Yên, Bình Sơn,Ngọc Sơn, Thạch An, Làng Ơi (Làng ghép) Người Dao cũng như bất kỳ một dântộc nào khác gắn bó với nhau khá chặt chẽ, tính cộng đồng rất cao và sống thànhvùng rõ rệt
Người Dao sinh sống và thích nghi với môi trường rừng núi, thống nhất vớimôi trường rừng núi Địa hình chủ yếu là đồi núi, cùng với đời sống du canh du cư,canh tác nương rẫy là chủ yếu, người Dao luôn phụ thuộc vào thiên nhiên, khí hậu
Trang 27khắc nghiệt làm cho đời sống kinh tế của đồng bào luôn bấp bênh, giao thông đi lạikhó khăn Từ đó nảy sinh nhiều vấn đề về tín ngưỡng nghi lễ trong đời sống vănhóa tinh thần của cộng đồng Hiện tại phần lớn người Dao đã bỏ lối sống du canh
du cư, 100% số hộ người Dao thực hiện định canh, định cư ở vùng núi thấp, các nhàthuộc bản làng người Dao sống quần tụ với nhau theo dòng họ, định cư thành vùngthôn, bản bền vững, có ranh giới đất đai rõ rệt
Những đặc điểm về địa lý trên đã tác động nhiều đến công tác tuyên truyềnbài trừ hủ tục ma chay, cưới hỏi của người Dao ở huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa Do
đó, công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục của người Dao trên địa bàn huyện cần phảichú ý tới những yếu tố địa lý, điều kiện tuyên truyền từ đó sử dụng các hình thứctuyên truyền phù hợp
* Đặc điểm kinh tế-văn hóa-xã hội
Người Dao thường sinh sống ở địa bàn vùng núi, hẻo lánh, đi lại khó khăn nênđời sống kinh tế nhìn chung chưa bằng các dân tộc khác trong huyện Bản thân hìnhthái canh tác làm nương rẫy hủy hoại môi trường sống, dẫn đến thiên tai trực tiếp uyhiếp đời sống cư dân trong huyện Hiện nay, đồng bào giảm dần diện tích nương rẫy,khai khẩn lúa nước, chuyển hướng vào nghề rừng và trồng cây công nghiệp Bêncạnh trồng trọt thì chăn nuôi vẫn giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế hộ giađình Đồng bào chăn nuôi các đại gia súc để lấy sức kéo, làm phương tiện vậnchuyển chuyên chở là chính Song hành với kinh tế sản xuất thì kinh tế chiếm đoạtthông qua hình thức săn bắn, hái lượm diễn ra phổ biến
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như: dệt, đan lát, rèn, làm giấy,trồngchàm và làm cao chàm, làm đồ bạc trang sức,…nhằm tiêu dùng trong gia đình vàtrao đổi hàng hóa, nhưng vẫn chỉ là nghề phụ của gia đình
Người Dao có đặc điểm là coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung
tổ tiên Các đặc trưng của mỗi họ đều thể hiện qua những nghi lễ cúng tổ tiên, cúng
ma như các trình tự, số lượng các lễ vật, cách thức tổ chức, bày bát cúng, các bàicúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay, cách bố trí mộ, xem hướng mộ…Trưởng họ
là người có uy tín, quyền uy được mọi người trong họ tôn trọng và nghe theo
Trang 28Người Dao chung thủy hôn nhân một vợ một chồng, đồng bào nhận thức được điềunày và đã nâng lên thành lẽ sống.
Người Dao trên địa bàn huyện có một nền văn hóa bản địa phong phú và độcđáo, làm phong phú thêm văn hóa của huyện Đời sống tâm linh của người Dao làlĩnh vực mang tính riêng biệt tộc người nhất và cũng mang tính bền vững nhất.Trong gia đình có những lễ nghi theo vòng đời người, trong dòng họ cũng có nhiều
lệ tục chung như lệ tục “Hồ La miên” tết nhảy, tạ mả, tết năm cùng Làng bản cũng
có nhiều lễ tục chung cúng ở chùa làng….Trong đó, Lễ tục cấp sắc (qua tang), tếtnhảy, tạ mả, những lễ nghi theo vòng đời người…cho đến nay vẫn còn bảo lưu khábền chặt và chắc chắn sẽ còn bảo lưu lâu dài
Những đặc điểm về kinh tế-văn hóa-xã hội trên có tác động không nhỏ tớihiệu quả công tác tuyên truyền Điều kiện kinh tế của vùng còn nhiều yếu kém dẫnđến sự hạn chế về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác tuyêntruyền Trình độ dân trí, trình độ văn hóa của đồng bào dân tộc Dao chưa cao nêngây khó khăn cho công tác tuyên truyền Mặt khác, sự khác biệt về văn hóa, đặc biệt
là sự khép kín, ít giao lưu với bên ngoài cũng là rào cản lớn đối với cán bộ tuyêntruyền Vì vậy, nắm vững được những đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội của dântộc Dao sẽ là tiền đề nâng cao hiệu quả cho công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục machay, cưới hỏi của đồng bào dân tộc Dao ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa
2.2 Thực trạng tồn tại những hủ tục trong ma chay, cưới hỏi của đồng bào dân tộc Dao, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa hiện nay
2.2.1 Tình trạng tồn tại những hủ tục trong ma chay
2.2.1.1 Tình trạng để thi hài ở trong nhà lâu ngày trước khi đưa đi chôn cất.
Theo khoản 1, mục II, Thông tư số 02/2009/TT – BYT ngày 26 tháng 5 năm
2009 của Bộ Y tế về hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa táng:
“Đối với người chết do nguyên nhân thông thường:
Trong điều kiện thường không có bảo quản lạnh: Thời gian quàn ướp thi hài không qúa 48 giờ, kể từ khi chết;
Trang 29Trong điều kiện bảo quản lạnh ở nhiệt độ từ 2 độ C đến 4 độ C hoặc thấp hơn: Thời gian quàn ướp thi hào không quá 7 ngày, kể từ kkhi chết;
Đối với người chết do mắc các bệnh truyền nhiễm: Thời gian quàn ướp thi hài không quá 24 giờ, kể từ khi chết” [5; tr.2]
Trong tang ma của người dân tộc Dao hiện nay, qua kết quả khảo sát, số giađình để người mất trong nhà từ 4-5 ngày chỉ còn 15,7%, số gia đình người Dao thựchiện đúng quy định của Nhà nước chiếm 42,1% Đây là một sự chuyển biến lớn sovới những năm trước đây, chỉ có 2% số gia đình để thi hài trong nhà quá 6 ngày.Hầu hết các gia đình đã nhận thức được tập quán sinh hoạt đó là một hủ tục, có táchại xấu đến đời sống con người và không còn phù hợp với đời sống hiện nay, cầnphải xóa bỏ Có 40,2% gia đình giữ tục để thi hài trong nhà lâu ngày từ 2-3 ngày,chiếm tỉ lệ tương đối lớn
1 ngày 2 đến 3 ngày 4 đến 5 ngày Trên 6 ngày
Biểu đồ thể hiện tỉ lệ thời gian quàn ướp trong các đám tang người dân tộc Mông
Trang 30Hầu hết các xã, thị trấn và các tổ dân phố, thôn, bản trên địa bàn huyện đềuthành lập được Ban Tang lễ để giúp gia đình lo việc lễ tang chu đáo Các chi hộingười cao tuổi đã phối hợp tốt với địa phương và các đoàn thể giúp gia đình lo việc
lễ tang phù hợp với cuộc sống hiện đại mà vẫn đảm bảo những yếu tố truyền thống,phong tục tập quán của mỗi dân tộc Ông Phùng Văn Bằng (Chủ tịch xã Cẩm Châu)
cũng là người dân tộc Dao, khi được phỏng vấn cho biết “Thực hiện theo quy định của Đảng và Nhà nước, cán bộ chính quyền xã, các đoàn thể như Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, cũng đi vận động bà con đưa người chết đi chôn sớm Tình hình có những chuyển biến tốt, nhiều gia đình đã không để người chết ở trong nhà lâu nữa Khi nhà có người chết thì Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ được giao cho đi chuẩn bị, phụ giúp việc cho tang gia…” Những hủ tục lạc hậu, những
hiện tượng mê tín dị đoan trong việc tang ở những xã thuộc vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào các dân tộc thiểu số trong huyện đã giảm đi rõ rệt
Nếu so với trước đây, hủ tục để người chết lâu ngày trong nhà là phổ biến ởdân tộc Dao thì đây là bước chuyển biến tích cực Người chết để trong nhà thời gianngắn hơn, việc tổ chức lễ tang ngắn gọn và đỡ tốn kém hơn trước Nhiều gia đình đãthực hiện theo nếp sống mới, nhận thức được tác hại của những hủ tục đó nên cũng
đã xóa bỏ hoặc chuyển sang cách thức làm khác
2.2.1.2 Tình trạng không đảm bảo các điều kiện vệ sinh trong việc tang
Theo khoản 2, mục III, Thông tư của Bộ Y tế số 02/2009 ngày 26 tháng 5năm 2009 về hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa táng:
“ Thi hài phải được xử lý trước khi khâm liệm bằng các hóa chất diệt khuẩn thuộc danh mục các hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn trong lĩnh vực gia dụng và y tế đã được đăng ký lưu hành”.[5; tr.4]
Theo khoản 1, mục XI của Thông tư này:
“Trong thời gian tổ chức tang lễ, gia đình hoặc đơn vị tổ chức phải: Bảo đảm an toàn về vệ sinh thực phẩm Hạn chế tổ chức ăn uống để tránh xảy ra ngộ độc thực phẩm và lây lan dịch bệnh” [5; tr.11]
Trang 31Qua kết quả khảo sát thực tế, có 61,7% người dân được hỏi đánh giá là trongtang ma của dân tộc Dao không đảm bảo các điều kiện vệ sinh; có 56,4% người dâncho rằng những hủ tục ma chay ảnh hưởng đến sức khỏe Đây là con số tương đốilớn, cho thấy họ vẫn chưa nhận thức được tác hại của việc không đảm bảo vệ sinhcủa đồng bào dân tộc Dao ảnh hưởng đến đời sống.
Theo tục lệ tang ma của người Dao Cẩm Thủy, trong đám tang cả làng cùngnhau tụ tập ăn uống bên cạnh thi thể người quá cố trong suốt ba ngày diễn ra nghithức Thi hài để trong nhà nhiều ngày nhưng không được sử dụng một điều kiện vệsinh bảo quản nào, mặc cho người chết vì bệnh tật hay không, những người có mặttrong đám tang vẫn ăn uống, sinh hoạt như ngày thường xung quanh Cơm và thức
ăn được bày trên lá chuối rồi lấy tay bốc ăn Việc để thi hài lâu ngày ảnh hưởng rấtlớn tới sức khỏe của những người thân, gây ô nhiễm môi trường sống xung quanh.Đồng thời, việc ăn uống sinh hoạt nhiều ngày bên thi hài có thời gian quàn ướp lâungày, không được bảo quản, không được sử dụng một loại chất bảo quản nào sẽ gâynguy hiểm tới sức khỏe cộng đồng và gây phản cảm mỹ quan trong văn hóa dân tộc
2.2.1.3 Tình trạng nghi lễ diễn ra quá dài, tốn kém về thời gian và tiền của
Đồng bào Dao quan niệm rằng, con người ta có phần hồn và phần xác Chếttức là vĩnh biệt mọi người ở chốn trần gian, để đến sống với tổ tiên ở thế giới bên kia
Vì vậy, con cháu cần thờ cúng, để cung cấp những thứ cần thiết cho sinh hoạt hàngngày của người chết Niềm thương, nỗi nhớ của con cháu, anh em họ tộc đối vớingười chết được thể hiện qua việc tổ chức ma, chay, giỗ Vì vậy, trong đám tangngười Dao, gia chủ phải thiết cơm rượu cho làng xóm đến thăm viếng trong vài bangày Một đám tang tiến hành đầy đủ các nghi lễ phải có đủ ba thầy cúng, mỗi thầycúng có một nhiệm vụ riêng Mỗi một ngày phải làm 3 bữa cơm rượu để cúng mamới, mỗi một bữa cơm phải thịt một con lợn, một con gà, cùng nhiều lễ vật kèm theo
Theo tục lệ của người Dao, khi có người chết, ngoài lễ “ma tươi” còn phảilàm thêm lễ “ma khô” thì mới kết thúc việc tang Sau đó một vài năm, gia đình mới
tổ chức làm ma tượng trưng (các bước, các nghi lễ diễn ra y như đám ma tươi, chỉkhác là không có quan tài thật), để đưa hồn người chết về quê cha, đất tổ, để rửa tội,
Trang 32giải oan cho hồn ma Tục lệ làm “ ma khô” của người Dao là nghi lễ ứng xử, lý giảicho quá trình siêu thoát, sự tồn tại, trưởng thành của linh hồn ở thế giới bên kia, phùhợp với tín ngưỡng của đồng bào về vũ trụ, thể hiện đạo hiếu, đạo lý của cha mẹ đốivới cha (mẹ) Đây cũng là một minh chứng rằng người Dao chịu ảnh hưởng của vậtlinh giáo tín ngưỡng đa thần nguyên thủy (mọi vật đều có linh hồn và thể xác) vàĐạo giáo (người chết phải qua lễ cấp sắc – qua tang mới được làm tang ma to vớiđầy đủ các nghi lễ) Tuy nhiên, các nghi lễ, các thủ tục tiến hành rườm rà, phức tạp,tốn kém về thời gian, tiền bạc, lại mang nhiều yếu tố mê tín Qua kết quả khảo sát,
có 76,3% người dân được hỏi nhận thấy những hủ tục ma chay diễn ra quá dài vàtốn kém Nên cần thiết phải thay đổi sao cho vừa giữ được phong tục, tập quán củadân tộc lại vừa phù hợp với đời sống văn hóa mới
2.2.1.4 Tình trạng mồ mả của người chết được chôn cất rải rác khắp nơi không đảm bảo được vệ sinh môi trường
Trong đám tang của người Dao, việc xem tuổi, xem hướng, coi ngày, giờ đểchôn cất là rất quan trọng Chọn giờ tốt để hạ huyệt phải kiêng không được trùngngày sinh, giờ sinh của những người đang sống trong gia đình Vì đồng bào tin rằngnếu không tránh như vậy hồn người chết sẽ bắt hồn người sống đi cùng (tức là bắtngười có giờ sinh trùng giờ nhập quan chết cùng)
Khi trả lời với câu hỏi: Người chết có được chôn cất trong một khu vực,phạm vi nhất định không? Có 57,3% người Dao trả lời là không, còn lại 42,7% trảlời là có Theo tục lệ của người Dao, việc chôn cất người chết phải theo ý nguyệncủa gia đình và thầy cúng Thầy cúng xem tuổi của người chết để chọn địa điểmchôn cho đúng hướng, hợp với tuổi của người chết không kể xa hay gần, dù là đất
đã giao quyền sử dụng đất cho hộ khác, đất đã và đang qui hoạch xây dựng cáccông trình công cộng và đất thuộc địa phận của xã khác, huyện khác Quan niệmcủa người Dao, chết tức là vĩnh biệt mọi người ở chốn trần gian, để đến sống với tổtiên ở thế giới bên kia Ở đó người chết cũng ăn uống, giao lưu… và cần những thứnhư người sống Nên người chết được chôn ở địa điểm đó sẽ phù hộ cho con cháu,không về quấy nhiễu người thân Hủ tục này làm ô nhiễm môi trường sống (môi
Trang 33trường đất, nước, không khí,…) ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân Các địaphương có quy hoạch nghĩa trang, nhưng người dân thường chôn cất tùy tiện nên đãxảy ra tranh chấp, kiện cáo, vi phạm các qui định của pháp luật về đất đai, môitrường gây mất trật tự xã hội Công tác tuyên truyền cần phải được đẩy mạnh để
bà con nhận thức được tác hại của hủ tục này đối với đời sống, sức khỏe của conngười và từ đó thay đổi hành vi nhằm bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan ra khỏi đờisống của bà con dân tộc Dao
2.2.2 Tình trạng tồn tại những hủ tục trong cưới hỏi
2.2.2.1 Tình trạng tồn tại nạn tảo hôn
Theo điều 4 chương II Nghị định Chính Phủ tháng 3 năm 2002 về việc ápdụng luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số quy định:
“Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn
để đảm bảo sự phát triển giống nòi, bảo đảm cho các bên nam, nữ có đủ điều kiện
về sức khỏe và khả năng chăm lo cuộc sống gia đình”.[6; tr.2]
Kết hôn sớm là một nếp nghĩ đã ăn sâu vào đời sống đồng bào Dao từ baođời nay Người Dao quan niệm, cần dựng vợ gả chồng sớm để có người làm nươngrẫy hoặc không lấy sớm sẽ hết con gái đẹp Nên trước đây tỉ lệ kết hôn sớm chiếm
đa số Khảo sát nhóm người dưới 40 tuổi cho thấy: số người kết hôn ở độ tuổi dưới
15 tuổi chiếm 9,1%, số người kết hôn ở độ tuổi từ 15-17 tuổi chiếm 23%, còn lại67,9% số người kết hôn trên 18 tuổi
Với những người trên 40 tuổi tham gia trả lời khảo sát thì số người kết hôn ở
độ tuổi dưới 15 tuổi chiếm 47,3%, 38,9% kết hôn ở độ tuổi 15-17 và 13,8% sốngười kết hôn trên 18 tuổi So sánh giữa hai nhóm tuổi này chúng ta có thể thấy tìnhtrạng tảo hôn đã giảm mạnh những năm gần đây Điều này chứng tỏ rằng, sựchuyển biến trong nhận thức của người Dao về nạn tảo hôn, cũng như những tác hạicủa việc tảo hôn ngày càng tiến bộ, nhất là đối với lớp trẻ Thanh niên dân tộc Daongày nay phần nhiều đã ý thức được tác hại của việc tảo hôn và thực hiện theo đúngluật hôn nhân gia đình
2.2.2.2 Tình trạng tồn tại tục hôn nhân cận huyết thống
Trang 34Theo điều 7 chương II Nghị định Chính Phủ tháng 3 năm 2002 về việc ápdụng luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số quy định:
“Nghiêm cấm tập quán kết hôn giữa những người có cùng dòng máu trực hệ hoặc có liên quan dòng họ trong phạm vi ba đời”.[6; tr.3]
Trong cưới xin, hôn nhân cận huyết thống là một hạn chế lớn của dân tộcDao Việc cho phép kết hôn trong vòng 1-2 đời sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến sứckhỏe của con người cũng như sự phát triển của giống nòi Trên thực tế, việc kết hôncận huyết thống vẫn còn tồn tại trong dân tộc Dao Theo cách lý giải của ngườiDao, con gái trong gia đình khi đã đi lấy chồng thì con của con gái đó được coi làmang dòng máu của nhà chồng, chết làm ma của nhà chồng nên vẫn được kết hônvới con của các anh, chị em khác trong gia đình Người Dao quan niệm rằng: lấyngười ngoài huyết thống, sau này vợ chồng chung sống không hòa thuận Con cháutrong gia đình, họ hàng kết hôn với nhau sẽ gần gũi hơn và không phải phân chia tàisản cho người ngoài và không sợ mất con Quan niệm đó cứ thế nối tiếp từ đời nàyqua đời khác …
Qua kết quả khảo sát thực tế, có 21,7% người Dao được hỏi, trả lời là có hônnhân cận huyết thống, trong đó có 37,1% là con chú con bác và 62,9% là con cô concậu 21,7% là một con số không nhỏ cho một hủ tục lạc hậu và rất nguy hiểm này.Tình trạng này sẽ dẫn đến nguy cơ giảm chất lượng nguồn nhân lực, ảnh hưởng lớnđến sức khỏe, tăng tỉ lệ bệnh tật, làm suy thoái chất lượng giống nòi
con chú con bác 62,9% con cô con c u 21,7% ậ
Biểu đồ về tỉ lệ hôn nhân cận huyết thống của đồng bào dân tộc Dao
Trang 35Mặc dù mỗi thôn bản đều có cộng tác viên dân số nhưng trước đây họ chỉchú trọng tuyên truyền về kế hoạch hóa gia đình mà ít quan tâm đến vấn đề hônnhân cận huyết thống Hạn chế này, chủ yếu là do trình độ nhận thức, trình độ dântrí của đồng bào người Dao còn thấp, ý thức về sức khỏe sinh sản và sức khỏe giốngnòi chưa cao Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền cho đồng bào dân tộc ở đây cũngchưa phát huy được vai trò của mình.
Trong cưới hỏi của người Dao, còn mang nặng tư tưởng lễ giáo phong kiến
“cha mẹ đặt đâu thì con ngồi đấy” Kết quả khảo sát thu được, có 82,6% người Dao
được hỏi, trả lời hôn nhân của họ là do bố mẹ quyết định, chỉ có 17,4% hôn nhân là
do tìm hiểu nhau Điều này cho thấy, trong hôn nhân của người Dao thì người quyếtđịnh là cha mẹ Con cái không có quyền tự do trong quyết định lấy vợ lấy chồng.Khi thấy người con gái nào ưng ý, gia đình nhà trai sang hỏi ý kiến nhà cô gái.Nhưng đến khi các nghi lễ cưới hỏi giữa hai gia đình đã xong thì chàng trai và côgái mới được nhìn mặt nhau Không được tự do tìm hiểu trong hôn nhân là trái vớiquy định và pháp luật của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộcsống vợ chồng không được hạnh phúc, hòa thuận Để bài trừ được hủ tục trên cần
có thời gian dài, vì hủ tục đã ăn sâu trong tiềm thức của bà con, tư tưởng lễ giáo đãđược lưu giữ qua nhiều thế hệ Do đó, công tác tuyên truyền cần phải phát huy đượcvai trò của mình trong việc bài trừ hủ tục này
2.2.2.4 Tình trạng tồn tại tục thách cưới và cưới rể mang tính mua bán
Theo quan niệm của đồng bào, khi con gái về làm dâu nhà khác là mất đi mộtlao động chính Bởi vậy, họ đương nhiên có quyền thách cưới thật cao Theo thống
Trang 36kê của bộ phận tư pháp xã Cẩm Bình, hàng năm có trên 10 đôi kết hôn nhưng có tớigià nửa trong số họ rơi vào hoàn cảnh bị thách cưới cao, trong khi xã có trên 57%
số hộ thuộc diện nghèo
Ông Phùng Văn An (Chủ tịch xã Cẩm Bình) cho biết: “Tục thách cưới của người Dao mình có từ bao giờ chẳng ai nhớ, chỉ thấy nhà nào có con trai, con gái trưởng thành đến tuổi lấy vợ lấy chồng thì đều làm thế Chưa đủ đồ thách cưới thì nhà vợ vẫn cho mang con gái về nhưng họ coi khinh lắm, không công nhận mình là
rể, là thành viên trong gia đình, nhất là khi nhà có công to việc lớn Người con trai không chịu được cảnh đó nên dù khổ đến mấy cũng phải kiếm đủ tiền thách cưới trả cho nhà vợ Như vợ chồng mình, có tới mấy mặt con với nhau rồi mới trả hết nợ thách cưới Không có tiền thách cưới cho con bị dân làng chê trách” Đói nghèo,
đông con và hệ quả của hủ tục cứ vây lấy cuộc sống của những đôi vợ chồng trẻmới cưới khiến họ khó thoát khỏi cái vòng vòng luẩn quẩn giống như cuộc đời củacha mẹ mình
Trong hôn nhân của người Dao còn có tục cưới rể đời cho con gái, thường làtrong những nhà không có con trai hoặc những nhà giàu có Các bước cũng diễn rađúng như đám cưới chung, nhưng nhà cô dâu lại làm các thủ tục để cưới rể và rước
rể về Người con trai đi làm rể đời phải là người chưa làm lễ qua tang Về nhà vợmới làm lễ, chú rể sẽ được cải họ sang tên (giữ nguyên tên của mình và lấy theo họ
bố vợ) và làm mọi nghĩa vụ và hưởng mọi quyền lợi giống như con trai trong nhà
Bên cạnh đó, một hạn chế khác tồn tại trong hôn nhân của người Dao dó làtình trạng so tuổi và xem chân gà Theo điều 5 chương II, Nghị định Chính Phủtháng 3 năm 2002 về việc áp dụng luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộcthiểu số quy định:
“Không ai được lợi dụng việc xem tướng số hoặc các hình thức mê tín dị đoan khác để cản trở việc thực hiện quyền tự do kết hôn của nam và nữ”.[6; tr.2]
Theo kết quả điều tra thực tế, có tới 86% người Dao được hỏi trả lời là hônnhân của họ có so tuổi và xem chân gà, còn lại 14% trả lời là không Theo cách xemtuổi của người Dao thì nếu chân gà đẹp, thuận (tốt) thì hai gia đình tiến hành tổ
Trang 37chức đám cưới Còn trường hợp chân gà không thuận, các móng chân gà theohướng khác nhau (xấu) thì chuyện cưới xin giữa hai gia đình sẽ chấm dứt Như vậy,nhận thức của bà con về hôn nhân vẫn chịu nhiều yếu tố của mê tín dị đoan, tin vàoviệc xem chân gà mà biết được tương lai đôi vợ chồng sắp cưới cũng như quyếtđịnh việc hôn nhân trọng đại của con người Điều này cho thấy, trình độ học vấn,nhận thức của bà con vẫn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi cần đẩy mạnh công tác tuyêntruyền để giúp người dân thay đổi nhận thức của mình và góp phần bài trừ mê tín dịđoan trong đời sống
2.3 Công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục trong ma chay, cưới hỏi cho đồng bào dân tộc Dao ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa - thành tựu và hạn chế
2.3.1 Những thành tựu đạt được và nguyên nhân
Bộ Chính trị về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội”; 2 năm triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Cẩm Thủy đã đạt được những kết quả quan trọng
Qua kết quả khảo sát bằng bảng hỏi, có 62,3% người dân được hỏi đánh giá
về vai trò của công tác tuyên truyền trong bài trừ hủ tục ma chay, cưới hỏi của dân
tộc Dao là rất quan trọng Phong tục tập quán đã ăn sâu vào tiềm thức của bà con
dân tộc Dao, do đó muốn bài trừ các hủ tục thì việc đầu tiên là thay đổi từ trongnhận thức, đến thay đổi hành vi của họ Do đó mà công tác tuyên truyền có vai tròđặc biệt quan trọng Có 57,1% người dân được hỏi đã đánh giá về công tác tuyêntruyền bài trừ hủ tục ma chay, cưới hỏi của dân tộc Dao đã mang lại hiệu quả Điềunày cho thấy, công tác tuyên truyền đang phát huy được vai trò quan trọng của
Trang 38mình, thu được những kết quả đáng ghi nhận Trong công tác tuyên truyền, nhiềuphương pháp tuyên truyền đã được đổi mới cho phù hợp với đối tượng là dân tộcDao Do những khó khăn về địa lý như: người Dao thường cư trú ở vùng núi, hiểmtrở; phần đông đồng bào không hiểu tiếng phổ thông nên phương pháp tuyên truyền
sử dụng chủ yếu và đạt hiệu quả là tuyên truyền miệng bằng tiếng Dao Ngoài ra sửdụng phương tiện trực quan như tranh, ảnh, pano, biểu ngữ, phim đèn chiếu,…
Hình thức tuyên truyền được vận dụng với đối tượng dân tộc Dao rất phongphú và đa dạng Những lớp giảng dạy chuyên đề, học tập Nghị quyết được tổ chứcthường xuyên tại các cơ quan, xã, thị trấn trong toàn huyện Theo báo cáo tổng kếtcông tác tuyên giáo năm 2012 của Ban Tuyên giáo huyện ủy Cẩm Thủy, số đợt,buổi tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở vùng đồngbào dân tộc Dao là 16 lượt; số người tham gia là 2.914 người Qua các lớp giảngdạy đó, các báo cáo viên, tuyên truyền viên cung cấp nhiều tài liệu, những tri thứccần thiết cho cán bộ chính quyền đoàn thể xã Qua các lớp học tập, tập huấn đườnglối, chính sách của Đảng, Nhà nước về hủ tục và bài trừ hủ tục, thực hiện nếp sốngvăn minh trong việc tang, việc cưới và lễ hội được truyền bá và giải thích để độingũ cán bộ xã hiểu rõ, từ đó làm cơ sở tuyên truyền cho đồng bào dân tộc Dao
Việc triển khai các mô hình tiêu biểu trong công tác vận động quần chúng ởvùng đồng bào dân tộc Dao như mô hình “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa ở khu dân cư”; mô hình xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa; nêugương điển hình tiên tiến trong bài trù hủ tục…giúp bà con có điều kiện được thamquan, học tập, được hướng dẫn cụ thể để thực hiện, thi đua nhiều gương điển hìnhtiên tiến, nhiều gia đình văn hóa, thôn bản được công nhận
Các lực lượng đã phối hợp nhau để cùng tổng hợp sức mạnh trong việc bàitrừ hủ tục ma chay, cưới hỏi cho đồng bào dân tộc Dao Chủ tịch UBND huyện đãgiao nhiệm vụ cho Mặt trận và các đoàn thể huyện nghiên cứu và triển khai các Chỉthị, Nghị quyết,văn bản bằng các kế hoạch thực hiện cụ thể, rõ ràng cho từng ban,ngành, cơ quan, đơn vị, các xã và thị trấn; Mặt trận và các đoàn thể cần tiếp tục làmtốt công tác vận động, hướng dẫn, tôn vinh những tấm gương điển hình và phê phán
Trang 39các trường hợp sai trái; trung tâm bồi dưỡng chính trị tạo điều kiện cho người Daonâng cao được nhận thức thông qua việc mở các lớp đào tạo về nghiệp vụ, chuyênmôn; đài truyền thanh truyền hình tăng cường thời lượng tuyên truyền về nếp sốngvăn minh; ủy ban dân số và hội phụ nữ tuyên truyền, vận động và giải thích về táchại của những hủ tục và vận động bà con thực hiện theo đời sống mới… Cán bộtuyên giáo là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tiến hành công tác tư tưởng, bên cạnh đólực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên; đội thông tin lưu động; cán bộ, đảng viêncủa các cơ quan, đoàn thể có chức năng giáo dục tư tưởng từ cấp huyện tới cơ sở đãcùng phối hợp trong công tác tuyên truyền vận động, vận động đồng bào dân tộcDao xây dựng gia đình văn hóa, thôn bản văn hóa, tạo ra dư luận xã hội phê phánnhững hủ tục trong ma chay, cưới hỏi không phù hợp với nếp sống văn minh, thônbản văn hóa Phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới tại các xã, thị trấn đã đưanội dung thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang vào quy ước xâydựng thôn, cụm dân cư văn hóa và đạt được nhiều kết quả Tính đến năm 2012, toànhuyện có 107/214 làng văn hóa chiếm 50%; có 16.955 gia đình văn hóa.
Nhận thức của đồng bào dân tộc Dao ở Cẩm Thủy hiện nay về thực hiện nếpsống văn minh trong việc cưới, việc tang đã được nâng cao hơn Khi được hỏi:
“Ông (bà) hiểu thế nào là thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang?”,
có 74% người cho rằng đó là việc thực hành tiết kiệm, gọn nhẹ, có văn hóa trongviệc cưới, việc tang
Đến nay, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động bà con người Dao xóa
bỏ đi đáng kể những hủ tục trong ma chay, cưới hỏi gắn với phong trào“ Xây dựngđời sống văn hóa mới” thì hủ tục thách cưới được xóa bỏ đáng kể Xóa bỏ hủ tụcđược đưa vào những tiêu chí đánh giá gia đình văn hóa, thôn, bản văn hóa Nhiềugia đình thực hiện cưới hỏi theo “ Nếp sống văn minh trong việc tang, việc cưới và
lễ hội” Có 57,1% người dân được hỏi đã đánh giá về công tác tuyên truyền bài trừ
hủ tục ma chay, cưới hỏi của dân tộc Dao đã mang lại hiệu quả Điều này cho thấy,công tác tuyên truyền đang phát huy được vai trò quan trọng của mình
2.3.1.2 Nguyên nhân
Trang 40Trước hết, là do sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, các ngành trong toàn
huyện, nhờ đó các kế hoạch tuyên truyền được xây dựng, cơ sở vật chất phục vụcho công tác tuyên truyền được nâng cấp, đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyềnđược bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ Từ đó công tác tuyên truyền bàitrừ hủ tục được nâng cao vai trò của mình, đạt được những kết quả tích cực
Thứ hai, trình độ dân trí của người dân ngày càng được nâng lên, công tác
tuyên truyền đã làm thay đổi trong nhận thức, chuyển biến thái độ và hành vi củađối tượng Trình độ dân trí của người Dao đang ngày được nâng cao nhờ nhữngchính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng và Nhànước Tạo điều kiện cho con em dân tộc Dao đi học và học lên trung cấp, cao đẳng,đại học …nhiều hơn góp phần tạo ra nguồn cán bộ là dân tộc Dao Điều này sẽ tạođiều kiện thuận lợi hơn cho công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục
Thứ ba,công tác tuyên truyền những năm gần đây đã phát huy được vai trò
của mình trong xây dựng đời sống văn hóa mới cho đồng bào dân tộc Dao Có60,3% người dân được hỏi đã đánh giá công tác tuyên truyền bài trừ hủ tục machay, cưới hỏi của dân tộc Dao được tiến hành một cách thường xuyên Các cán bộtuyên truyền không quản ngại khó khăn đi về từng thôn, bản người Dao để vậnđộng, thuyết phục bà con bài trừ hủ tục
Từ kết quả khảo sát thực tế với thôn người Dao Sơn Lập (xã Cẩm Châu) có52,6% tiếp nhận thông tin từ báo cáo viên, tuyên truyền viên; có 89,3% biết đến việcbài trừ hủ tục qua đoàn thể các cấp; Có 83,5% tiếp nhận qua đài phát thanh Chothấy, thông qua các đội thông tin lưu động, hệ thống đài truyền thanh truyền hình,hoạt động của cán bộ tuyên giáo, báo cáo viên, tuyên truyền viên của các cơ quanđoàn thể, các lớp bồi dưỡng chính trị và học tập chuyên đề,…nội dung tuyên truyềnbài trừ hủ tục được truyền tải đến với đồng bào dân tộc Dao dưới nhiều hình thức
Cán bộ đã biết tranh thủ các đối tượng như già làng, trưởng bản, trưởng dòng
họ, những người có uy tín trong thôn bản,… để tác động sâu, rộng vào nhận thứccủa bà con dân tộc Dao, vận động bà con xóa bỏ những hủ tục Chính quyền địaphương có phương hướng đẩy mạnh tuyên truyền, giải thích với phương châm