1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phân tích thực trạng môi trường đầu tư tại Việt Nam. Đánh giá tác động của môi trường đầu tư đến ý định và hành vi của người Việt Nam

18 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích thực trạng môi trường đầu tư tại Việt Nam. Đánh giá tác động của môi trường đầu tư đến ý định và hành vi của người Việt Nam
Tác giả Đặng Ngọc Linh, Đặng Thị Minh Anh, Trịnh Hà Linh, Vũ Văn Long, Phạm Ngọc Dương
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế đầu tư
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 306,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình đó môi trường đầu tư đóng vai trò như một chất xúc tác ban đầu cho việc lựa chọn quyết định bỏ vốn của nhà đầu tư, vì vậy môi trường hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt độn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP NHÓM Môn: Kinh tế đầu tư 1

Nhóm 7

Đề bài: Phân tích thực trạng môi trường đầu tư tại Việt Nam Đánh giá tác động của môi trường đầu tư đến ý định và hành vi của người Việt

Nam.

Thành viên nhóm :

Đặng Ngọc Linh

Đặng Thị Minh Anh

Trịnh Hà Linh

Vũ Văn Long

Phạm Ngọc Dương

Trang 2

Phân tích thực trạng môi trường đầu tư tại VN

a Khái niệm môi trường đầu tư

Đầu tư là hoạt động bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại lợi ích trong tương lai Trong quá trình đó môi trường đầu tư đóng vai trò như một chất xúc tác ban đầu cho việc lựa chọn quyết định bỏ vốn của nhà đầu tư, vì vậy môi trường

hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Theo tổng quan môi trường đầu tư là hệ thống các yếu tố đặc thù của quốc gia đang định hình ra những cơ hội để các doanh nghiệp đầu tư có hiệu

quả,một tập hợp các yếu tố tác động tới các cơ hội, các ưu đãi, các lợi ích của các DN khi đầu tư mới, mở rộng sản xuất kinh doanh, có tác động chi phối tới hoạt động đầu tư thông qua chi phí, rủi ro và cạnh tranh,các yếu tố, điều kiện

và chính sách của nước tiếp nhận đầu tư chi phối đến hoạt động đầu tư của nước ngoài.Theo nghĩa chung nhất môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố của quốc gia, địa phương có ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư, và phát triển kinh tế.

b Thực trạng môi trường đầu tư

Trong bảng xếp hạng của Ngân hàng thế giới- WB về môi trường kinh doanh toàn cầu được công bố ngày 29/10/2013 thì Việt Nam đứng thứ 99 trên 189 nền kinh tế

WB nhận định, thứ hạng của Việt Nam không thay đổi mặc dù từ năm 2005 đến nay đã thực hiện 21 cải cách, nhiều nhất trong khu vực Đông Á- Thái Bình Dương Tuy vậy so với các nước trong khu vực các quốc gia cạnh tranh để thu hút FDI với Việt Nam thì việc cải thiện môi trường đầu tư diễn ra chậm chạp hơn, thậm chí tụt hậu khá xa

Trong chuyến thăm Việt Nam gần đây, Chủ tịch toàn cầu Tập đoàn tư vấn và kiểm toán Deloitte, Steve Almond nhận xét rằng, so với các nước trong khu vực thì Việt Nam chậm hơn trong cải thiện môi trường kinh doanh, như Campuchia tăng 23 bậc, Indonesia, Philippines những nước đông dân hơn Việt Nam tăng 19 bậc trên bảng xếp hạng về môi trường kinh doanh toàn cầu

Theo Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia, xếp hạng môi trường kinh doanh liên tục được cải thiện Theo đó, sau 6 năm thực hiện Nghị

Trang 3

quyết 19 và 4 năm thực hiện Nghị quyết 35, môi trường kinh doanh đã được cải thiện cả về điểm số và thứ hạng trong bảng xếp hạng quốc tế So với năm 2015, xếp hạng môi trường kinh doanh (Doing Business 2020) của Việt Nam đã tăng 20 bậc Trong đó, Việt Nam được đánh giá là nước thực hiện nhiều cải cách nhất trong 16 năm qua, với 42 cải cách được thực thi Chỉ riêng 5 năm từ khi thực hiện Nghị quyết 19 (2014), Việt Nam đã có 18 cải cách được ghi nhận, hàng ngàn điều kiện kinh doanh bất hợp lý đã được bãi bỏ Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam đã ở mức trung bình khá trên bình diện quốc tế với xếp hạng 70/190 về môi trường kinh doanh và 67/140 về năng lực cạnh tranh vào năm 2019

Thu hút FDI là một mảng sáng của bức tranh kinh tế năm những năm gần đây Tính đến ngày 20 tháng 12 vốn FDI thực hiện đạt 20,38 tỷ USD, tăng 6,7% so với 2018; 3.833 dự án mới đăng ký với 16,75 tỷ USD, bằng 93,2%, 1.381 dự án điều chỉnh vốn 5,8 tỷ USD, tăng 18,1%; 9.842 lượt góp vốn, mua cổ phần với 15,47 tỷ USD, tăng 56,4% so với cùng kỳ năm 2018, chiếm 40,7% tổng vốn đăng ký

Tổng vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38,02 tỷ USD, tăng 17,2% Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành kinh tế, trong đó chế biến, chế tạo với 24,56 tỷ USD, chiếm 664,6%, kinh doanh bất động sản với 3,88 tỷ USD, chiếm 10,2% vốn đăng ký, tiếp theo là bán buôn bán lẻ, khoa học và công nghệ Doanh nghiệp FDI có kim ngạch xuất khẩu (kể cả dầu thô) đạt 181,35 tỷ USD, tăng 4,2%% và chiếm 68,8% kim ngạch xuất khẩu cả nước; kim ngạch nhập khẩu đạt 145,5 tỷ USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2018 và chiếm 57,4% kim ngạch nhập khẩu cả nước

126 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam Hàn Quốc đứng đầu với vốn đăng ký 7,92 tỷ USD, Hồng Kông (Trung Quốc thứ hai với vốn đăng ký 7,87

tỷ USD (có 3,85 tỷ USD mua cổ phần của công ty TNHH Vietnam Beverage tại Hà Nội), Singapore đúng thứ 3 với vốn đăng ký 4,18 tỷ USD, tiếp theo là Nhật Bản, Trung Quốc 60 tỉnh thành phố có dự án FDI mới; Hà Nội đúng thứ nhất với 8,3 tỷ USD, TP Hồ Chí Minh đứng thứ 2 với 7.0 tỷ USD, tiếp theo là Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh Tính lũy kế đến ngày 20/12/2019, cả nước có 30827 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký 362,58 tỷ USD, vốn thực hiện 211,78 tỷ USD, bằng 58,4% vốn đăng ký

Trang 4

c Các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của Việt nam

● Môi trường tự nhiên

Nằm trong cái nôi của Đông Nam Á, vị trí địa lý thuận lợi của Việt Nam có thể đóng vai trò là bệ phóng và cơ sở cho việc tập trung dân số lớn nhất trên trái đất (tổng số ASEAN cộng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Bắc Trung Hoa là hơn 2

tỷ người).Việt Nam có bờ biển phía đông của bán đảo Đông Nam Á và có chung biên giới đất liền với Trung Quốc ở phía bắc và Lào và Campuchia ở phía tây Bờ biển này cho phép Việt Nam tiếp cận trực tiếp vào Vịnh Thái Lan và Biển Đông Đặc điểm địa hình chủ yếu ở phía bắc là cao nguyên và đồng bằng sông Hồng và phía nam bao gồm núi trung tâm, vùng trũng ven biển và đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam có đường biển đẹp dài 3.444 km, là điều kiện lý tưởng để phát triển ngành hàng hải, thương mại, du lịch nói riêng và vươn lên trở thành trung tâm vận tải biển của thế giới nói chung

Kể từ khi bắt đầu thăm dò dầu khí ngoài khơi vào những năm 1970, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu ròng dầu thô, ngoài ra trữ lượng khí đốt và dầu mỏ, trữ lượng than và khai thác thủy điện cung cấp các nguồn năng lượng sẵn có khác

Khoáng sản ở Việt Nam bao gồm quặng sắt, thiếc, đồng, chì, kẽm, niken, mangan,

đá cẩm thạch, titan, vonfram, bôxít, graphit, mica, cát silica và đá vôi

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp ra thị trường thế giới với tư cách là nước xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất thế giới, nước xuất khẩu cà phê và gạo lớn thứ hai, và nước xuất khẩu hạt điều lớn thứ ba cùng các sản phẩm khác

Kết hợp với các yếu tố khác, Việt Nam là một điểm đến thuận lợi cho các nhà đầu tư

● Môi trường chính trị

Sau 40 năm hòa bình và phát triển, Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến đầu tư tin cậy của nhiều quốc gia do sự ổn định và nhất quán về chính trị Một trong những yếu tố quan trọng nhất để các doanh nghiệp FDI lựa chọn đầu tư vào Việt Nam là vấn đề an ninh; cùng với các chính sách mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài

Thời gian gần đây, Việt Nam được các nhà đầu tư coi là điểm sáng trong ASEAN nhờ chính trị ổn định, tăng trưởng kinh tế bền vững, lực lượng lao động dồi dào, thị

Trang 5

trường rộng lớn, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, hội nhập quốc tế sâu rộng, ưu đãi cạnh tranh, cộng với vị trí địa lý ở trung tâm Đông Nam Á

Việt Nam hiện có hơn 32.000 dự án trị giá 378 tỷ USD từ 136 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong khi các nước trên thế giới vẫn đang chiến đấu chống lại Covid-19, Việt Nam đã trở lại các hoạt động kinh doanh bình thường và trở thành một trong những quốc gia đầu tiên đa dạng hóa chuỗi cung ứng Do đó, các nhà đầu tư nước ngoài đang coi Việt Nam là một điểm đến đầu tư tiềm năng trong giai đoạn hậu Covid-19

Một khảo sát của Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) vào tháng 2/2020 cho thấy hơn 63% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam có kế hoạch tăng cường đầu

tư, tỷ lệ cao nhất trong khối ASEAN

● Môi trường văn hoá xã hội

- Dân số Việt Nam được ghi nhận ở con số 97,34 triệu vào năm 2020 với cơ cấu dân số vàng, nguồn lao động rẻ, dồi dào Đây chính là lợi thế, giúp thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đặt nhà máy sản xuất tại Việt Nam

- Về văn hoá, Việt Nam có bề dày truyền thống hàng nghìn năm lịch sử, trải qua nhiều cuộc chiến tranh cũng như biến cố thăng trầm, con người Việt Nam được kết tinh và lắng đóng nhiều giá trị tích cực, có khả năng thích ứng cao với sự thay đổi của hoàn cảnh Việt Nam được bạn bè quốc tế biết đến là đất nước thanh bình, hiện đại, trẻ trung, “hoà nhập nhưng không hề hoà tan" Chính nhờ những đặc điểm này, Việt Nam rất nhanh học hỏi, tiếp thu những cái mới, đặc biệt là sẵn sàng học hỏi tiếp thu qua những lần chuyển giao công nghệ của nhà đầu tư

- Về chất lượng nguồn lao động, Việt Nam luôn cố gắng cải cách chương trình đào tạo để sản xuất ra nhiều nhân tài cống hiến cho đất nước Các doanh nghiệp luôn tạo điều kiện cho cán bộ được đi học hỏi, đào tạo ở nước ngoài để về cống hiến, phát triển xây dựng đất nước Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã

có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN Theo Tổng cục Thống kê, năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD), tăng 346 USD so với năm 2017 Tính theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017, bình

Trang 6

quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm, cao hơn mức tăng 4,35%/năm của giai đoạn 2011-2015

● Môi trường kinh tế

Sự phát triển của Việt Nam rất đáng chú ý trong hơn 30 năm qua Những cải cách kinh tế và chính trị dưới thời Đổi mới, bắt đầu từ năm 1986, đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, biến một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp Từ năm 2002 đến 2018, GDP bình quân đầu người đã tăng 2,7 lần, đạt hơn 2.700 USD vào năm 2019 và hơn 45 triệu người đã thoát khỏi đói nghèo Tỷ lệ nghèo đói giảm mạnh từ hơn 70% xuống dưới 6% (tương đương 3,2 đô la Mỹ / ngày) Phần lớn người nghèo còn lại của Việt Nam - 86% - là người dân tộc thiểu số

Năm 2019, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục thể hiện sức mạnh cơ bản và khả năng phục hồi, được hỗ trợ mạnh mẽ bởi nhu cầu trong nước và sản xuất hướng xuất khẩu GDP thực tế ước tính tăng 7% trong năm 2019, tương đương năm 2018, một trong những tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực

Trang 7

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu nhiều tác động nặng nề bởi đại dịch COVID-19 đang diễn ra nhưng đã cho thấy khả năng phục hồi đáng kể Tác động sức khỏe của đợt bùng phát không nghiêm trọng ở Việt Nam như các nước khác do các biện pháp chủ động ở cấp quốc gia và địa phương Chính sách kinh tế vĩ mô và tài khóa vẫn được duy trì ổn định với tốc độ tăng trưởng GDP ước tính là 1,8% trong nửa đầu năm 2020, dự kiến đạt 2,8% cho cả năm

Trang 8

Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới không dự báo suy thoái, mặc dù tốc độ tăng trưởng trong năm nay thấp hơn nhiều so với dự báo ở mức 6-7% trước khủng hoảng Tuy nhiên, khó có thể dự đoán tác động về mức độ và thời gian của cuộc khủng hoảng COVID-19 đang diễn ra Các yêu cầu về tài chính công sẽ tăng lên do doanh thu giảm và chi tiêu cao hơn do gói kích cầu được đưa ra nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của đại dịch đối với các hộ gia đình và doanh nghiệp Nhờ vào các nền tảng cơ bản vững chắc và khả năng kiểm soát tương đối đại dịch COVID-19 cả ở Việt Nam và thế giới, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi vào năm

2021 COVID-19 cũng cho thấy sự cần thiết phải cải cách mạnh mẽ hơn để giúp nền kinh tế phục hồi trong trung hạn, chẳng hạn như cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế kỹ thuật số, nâng cao hiệu suất và hiệu quả đầu tư công, là một số chương trình chính mà Việt Nam cần xem xét để có các hành động cải cách mạnh mẽ và nhanh hơn

Mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2022 là 6-6,5% Tăng trưởng kinh tế năm 2022 có thể dựa vào một số yếu tố, như kế thừa những kết quả đạt được từ việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020 và lực đẩy từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế ổn định, tạo tiền đề cho điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ hiệu quả hơn

● Môi trường pháp luật

Tính đến tháng 8 năm 2020, tổng vốn đăng ký đầu tư được cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đạt 20 tỷ USD, bằng 86,3% so với cùng kỳ năm 2019 Đó là minh chứng cho việc các nhà đầu tư đang

Trang 9

chọn Việt Nam như một điểm đến hấp dẫn Một trong những nguyên nhân khiến các nhà ĐTNN “mạnh dạn” rót vốn vào thị trường Việt Nam chính là những chính sách ưu đãi đầu tư, quy định về tiếp cận thị trường, các nhóm ngành, nghề với điều kiện đầu tư linh hoạt dần được hoàn thiện…

Nhằm cải thiện môi trường đầu tư cũng như điều chỉnh hành vi kinh doanh của các nhà đầu tư Luật Đầu tư năm 2020 ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 Luật Đầu tư 2020 bổ sung, sửa đổi một số quy định, hạn chế đầu tư của Luật đầu tư

2014 đồng thời còn là cú hích lớn nhằm đón luồng vốn đầu tư lớn chuyển vào Việt

Nam trong tương lai.

Luật đầu tư 2020 đã khắc phục được vấn đề chưa làm sáng tỏ đánh giá điều kiện đầu tư và điều kiện tiếp nhận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài:

- Luật đầu tư 2020 chú trọng vấn đề an ninh quốc phòng.

Theo các quy định tại Luật Đầu tư 2020, một điểm đáng lưu ý và đang còn gây bối rối cho các nhà đầu tư và các cơ quan chức năng khi thẩm duyệt dự án đầu tư có điều kiện cũng như xử lý các sai phạm liên quan đến hoạt động đầu tư chính là khái niệm và tiêu chí cụ thể của yếu tố “quốc phòng, an ninh quốc gia”

- Luật Đầu tư 2020 bổ sung, sửa đổi một số quy định về ngành nghề cấm đầu tư, hạn chế đầu tư của Luật Đầu tư 2014.

Theo Điều 6 của Luật Đầu tư 2020, kinh doanh dịch vụ đòi nợ trở thành ngành, nghề cấm đầu tư, thay vì là ngành, nghề đầu tư có điều kiện như quy định tại Phụ lục 04 của Luật Đầu tư 2014

Cũng theo Luật Đầu tư mới, việc sửa đổi, bổ sung ngành, nghề đầu tư kinh doanh

có điều kiện hoặc điều kiện đầu tư kinh doanh phải phù hợp với các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh và tiếp cận thị trường Như vậy, Luật Đầu tư 2020 đã quy định rõ hơn tiêu chí để phân loại và xác định những ngành, nghề đầu tư có điều kiện và hạn chế đầu tư

- Ưu đãi về đầu tư:

Luật Đầu tư 2020 quy định thêm hai hình thức ưu đãi đầu tư so với Luật Đầu tư

2014[1], cụ thể, bổ sung thêm hình thức ưu đãi khấu hao nhanh, tăng mức chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế Quy định này rất phù hợp và đem lại nhiều lợi ích cho nhà đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu tư có vốn đầu tư cao và hoạt động kinh doanh với quy mô lớn

- Việc chấp thuật chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư

“Chấp thuận chủ trương đầu tư” không phải là một khái niệm mới, vì đã từng được

quy định tại Điều 59 của Nghị định 118/2015/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, nhưng đến Luật Đầu tư 2020 thì khái niệm này mới bắt đầu được sử dụng thay thế cho khái niệm “quyết định chủ trương đầu tư” ở Luật Đầu tư 2014 Theo

Trang 10

Khoản 1, Điều 3 của Luật Đầu tư 2020, “Chấp thuận chủ trương đầu tư là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận về mục tiêu, địa điểm, quy mô, tiến độ, thời hạn thực hiện dự án; nhà đầu tư hoặc hình thức lựa chọn nhà đầu tư và các cơ chế, chính sách đặc biệt (nếu có) để thực hiện dự án đầu tư.” Như vậy, theo Luật

Đầu tư 2020, việc chấp thuận chủ trương đầu tư sẽ được hướng dẫn và quy định

cụ thể, thay thế cho việc xin “quyết định chủ trương đầu tư”, dựa trên các tiêu chí phân quyền chấp thuận chủ trương của Quốc hội, Thủ tướng chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Các tiêu chí và điều kiện để dự án đầu tư được xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư 2020 cũng có nhiều tính mới, chú trọng mức độ ảnh hưởng của dự án đối với kinh tế – xã hội, ngành, nghề hoạt động đầu

tư, kinh doanh của dự án, và quy mô dự án về vốn đầu tư, diện tích thực hiện đầu

Bên cạnh đó, quy định “Lựa chọn nhà đầu tư” lần đầu được đưa vào lĩnh vực đầu

tư tư, thay vì chỉ thuộc lĩnh vực đầu tư công và đấu thầu như trước đây, được cụ thể hóa với các điều kiện, hình thức tiến hành lựa chọn để đảm bảo việc thực hiện các dự án được trao đúng đối tượng có đủ khả năng và năng lực

- Vấn đề môi trường trong quá trình thực hiện dự án đầu tư:

Theo Khoản 3, Điều 75 của Luật Đầu tư 2020, việc báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc đối tượng phải báo cáo đánh giá tác động môi trường theo Điều 18 của Luật Bảo vệ môi trường 2014 (được sửa đổi, bổ sung một

số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 39/2019/QH14) đã được thay thế

bởi khái niệm “đánh giá sơ bộ tác động môi trường” Cụ thể, đánh giá sơ bộ tác

động môi trường là một nội dung của báo cáo đề xuất dự án đầu tư và là cơ sở để chấp thuận chủ trương đầu tư; nhà đầu tư chỉ được thực hiện dự án sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt

Như vậy, thay vì phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn chuẩn bị thực hiện dự án đầu tư thì các dự án thuộc Điều 18 của Luật Bảo vệ môi trường 2014 như dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử – văn hóa, khu di sản thế giới, khu

dự trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng; dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường sẽ thực hiện đánh giá sơ bộ tác động môi trường Theo ý kiến của nhóm chúng em , đây sẽ là một quy định mang tính nới lỏng cho các nhà đầu tư và đem lại sự công bằng trong các lĩnh vực đầu tư công và đầu tư

tư Bởi lẽ hiện nay, theo quy định tại Điều 99 của Luật Đầu tư công 2019, việc quyết định chủ trương đầu tư sẽ chỉ căn cứ vào đánh giá sơ bộ tác động môi trường mà không phải là báo cáo đánh giá tác động môi trường như một số dự án đầu tư tư (nhận định)

Nhận định: Luật Đầu tư 2020 đã “cởi trói” và thúc đẩy những ý tưởng đầu tư táo

bạo với quy mô lớn, đem lại lợi nhuận cho thị trường Việt Nam, nhưng đồng thời

Ngày đăng: 28/01/2023, 18:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w