MỤC LỤC Trang PHẦN MỞ ĐẦU 2 1 Lí do chọn đề tài 2 2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4 3 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu 4 4 Yêu cầu 4 5 Kết cấu của đề tài 5 PHẦN NỘI DUNG 6 CHƯƠNG I Giới thiệu về học[.]
Trang 1MỤC LỤC
TrangPHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu 4
4 Yêu cầu 4
5 Kết cấu của đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG
6CHƯƠNG I: Giới thiệu về học thuyết kinh tế trọng thương 6
1 Một số khái niệm về kinh tế học 6
2 Học thuyết kinh tế học trọng thương là gì 8
3 Hoàn cảnh ra đời của kinh tế học trọng thương 9
4 Một số đại biểu điển hình 11
CHƯƠNG II: Phân tích hai giai đoạn của học thuyết kinh tế trọng thương 12
1 Đặc điểm của học thuyết kinh tế trọng thương 12
2 Giai đoạn trọng thương sơ kỳ 17
3 Giai đoạn trọng thương chính thống 20
CHƯƠNG III: Những mặt tích cực và hạn chế của học thuyết kinh tế trọng thương 25
1 Mặt tích cực 25
2 Mặt hạn chế 27
3 Sự tan rã tất yếu của học thuyết kinh tế trọng thương 28
CHƯƠNG IV: Vận dụng vào thực tiễn Việt Nam 30
PHẦN KẾT LUẬN
34TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Lịch sử học thuyết kinh tế là một môn khoa học cơ sở cho việc nghiêncứu khoa học kinh tế chuyên ngành Nó là một môn khoa học không thểthiếu và được giảng dạy trong các chương trình đào tạo cử nhân và sau đạihọc ngành kinh tế ở nhiều trường đại học
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam, việc nghiên cứu học thuyết kinh tế trở nên rất cầnthiết không những đối với các nhà quản lý kinh tế nói riêng mà còn cần thiếtcho những đồng nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường Đặc biệt là đốivới những sinh viên đang theo học chuyên ngành quản lý kinh tế Bởi lẽ,môn lịch sử học thuyết kinh tế này đã cung cấp một cách có hệ thống, lôgic,khoa học và khách quan các khái niệm, các lý thuyết kinh tế của các trườngphái trong lịch sử
Trong số những học thuyết kinh tế trong lịch sử thì học thuyết kinh tếtrọng thương là học thuyết đầu tiên của giai cấp tư sản.Học thuyết kinh tếtrọng thương chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hộicủa các nước châu Âu thế kỷ XVI và thế kỷ XVII Tuy chưa phải là một họcthuyết kinh tế thật sự khoa học nhưng đã phản ánh một cách nổi bật nhữngtiến bộ mới trong đời sống kinh tế của châu Âu lúc bấy giờ Đồng thời đâycũng là học thuyết kinh tế đầu tiên phân tích về mặt lý luận một số vấn đềtrong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Học thuyết kinh tế trọng thương là những chính sách cương lĩnh kinh
tế của giai cấp tư sản thương nghiệp châu Âu trong thời kỳ tích luỹ vốn banđầu Họ kêu gọi thương nhân tận dụng ngoại thương, buôn bán mà sau này
ta gọi là thương mại Thương mại đã ra đời rất lâu và nó đã tồn tại qua các
Trang 3phương thức sản xuất xã hội Xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá Vì thếhoạt động thương mại vừu chịu sự chi phối của các quy luật của nền sảnxuất hàng hoá, vừa chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế vốn có của mỗichế độ xã hội – Chính trị mà nghành thương mại đang hoạt động Sản xuất làđiểm xuất phát, tiêu dùng là điểm cuối cùng còn thương mại: Thực hiệnchức năng phân phối và trao đổi là khâu trung gian Với vị trí này thươngmại một mặt chịu sự chi phối của sản xuất và tiêu dùng,mặt khác nó tácđộng tích cực và chủ động trở lại đối với sản xuất và tiêu dùng Thương mạivừu đại diện cho người tiêu dùng để tác động đến sản xuất,vừa đại diện chosản xuất để tác động đến tiêu dùng,góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất
mở rộng phát triển,nó đóng vại trò như một mắt xích trong bộ máy kinh tế
Sự phát triển lực lượng sản xuất toàn cầu,sự phát triển khoa học công nghệthông tin như vũ bão, và xét về bản chất sự phát triển các mối quan hệ kinh
tế thị trường, theo đó luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của uỷ bancủa liên hợp quốc về thương mại thông qua ngày 26/6/1985 đã xác định nộidung của hoạt động thương mại theo nghĩa rộng “bao gồm hầu như tất cảcác quan hệ liên quan đến hoạt động kinh tế như : Giao dịch, mua bán,dịch
vụ …”.Tuy nhiên xuất phát từ yêu cầu ,nội dung và phạm vi nghiên cứu củachương trình học nên trong tiểu luận này chỉ đề cập đến vấn đề hoạt độngtheo nghĩa hẹp : “thương mại trong học thuyết kinh tế trọng thương” mà cụthể của nội dung cần nghiên cứu là “Học thuyết kinh tế trọng thương là gì?Phân tích hai giai đoạn phát triển của nó Nêu những mặt tích cực và nhữngmặt hạn chế của học thuyết kinh tế trọng thương” Tuy có nhiều nỗ lực và cốgắng, song bài tiểu luận của em còn nhiều thiếu sót Vậy em rất mong nhậnđược sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo để bài tiểu luận của em đượchoàn thiện hơn
Trang 42 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài với mục đích là nghiên cứu khái niệm học thuyết kinh tế trọngthương, đặc điểm của học thuyết kinh tế trọng thương, các giai đoạn pháttriển của học thuyết kinh tế trọng thương và những mặt tích cực và hạn chếcủa nó
Nhiệm vụ của đề tài là:
Nêu được khái niệm học thuyết kinh tế trọng thương
Phân tích hai giai đoạn phát triển của học thuyết kinh tế trọng thương
Nêu được những mặt tích cực của học thuyết kinh tế trọng thương
Chỉ ra những hạn chế của học thuyết kinh tế trọng thương
Vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam
3 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu.
Với đề tài này ta có thể sử dụng các phương pháp sau:
Cơ sở lý luận, phương pháp luận của học thuyết kinh tế trọng thương
Trang 55 Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận đề tài gồm bốn chương chính sau:
Chương I: Giới thiệu về học thuyết kinh tế trọng thương.
1 Một số khái niệm về kinh tế học
2 Học thuyết kinh tế trọng thương là gì?
3 Hoàn cảnh ra đời của kinh tế học trọng thương
4 Một số đại biểu điển hình
Chương II: Phân tích hai giai đoạn phát triển của học thuyết kinh tế trọng thương.
1 Đặc điểm của học thuyết kinh tế trọng thương
2 Giai đoạn trọng thương sơ kỳ
3 Giai đoạn trọng thương chính thống
Chương III: những mặt tích cực và hạn chế của học thuyết kinh tế trọng thương.
1 Mặt tích cực
2 Mặt hạn chế
3 Sự tan rã tất yếu của học thuyết kinh tế trọng thương
Chương IV: Vận dụng vào thực tiễn Việt Nam
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: Giới thiệu về học thuyết kinh tế trọng thương.
1 Một số khái niệm kinh tế học.
Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu sự sản xuất, phân phối
và tiêu dùng các loại hàng hóa và dịch vụ Nghiên cứu kinh tế học nhằmmục đích giải thích cách thức các nền kinh tế vận động và cách tác nhânkinh tế tương tác với nhau Các nguyên tắc kinh tế được ứng dụng trong đờisống xã hội, trong thương mại, tài chính và hành chính công, thậm chí làtrong ngành tội phạm học, giáo dục, xã hội học, luật học và nhiều ngànhkhoa học khác
Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu sự chọn lựa của conngười trong việc sử dụng những nguồn lực có giới hạn để sản xuất ra của cảivật chất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người
Từ đó, kinh tế học trả lời cho chúng ta ba câu hỏi sau:
Sản xuất cái gì?
Sản xuất như thế nào?
Sản xuất cho ai?
Kinh tế học là khoa học nghiên cứu sự vận động của các quan hệ kinh
tế của xã hội, chủ yếu là các quan hệ sản xuất trong sự tác động qua lại vớilực lượng sản xuất, để từ đó rút ra các phạm trù, các nguyên lí, các quy luậtkinh tế chi phối sự hoạt động của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cũng nhưtừng lĩnh vực kinh tế riêng biệt Kinh tế học hiện đại còn được hiểu là mộtmôn khoa học nghiên cứu vấn đề con người lựa chọn và vận dụng nhữngphương thức nào để sử dụng những nguồn tài nguyên có hạn một cách cóhiệu quả kinh tế- xã hội nhất, nhằm sản xuất ra các loại hàng hoá, dịch vụ vàphân phối cho tiêu dùng hiện tại và lâu dài của các cá nhân và những nhóm
Trang 7người trong xã hội Trên cơ sở đó, vận dụng vào thực tiễn chỉ đạo và quản lícác hoạt động kinh tế sao cho đạt hiệu quả cao nhất Kinh tế học được chia
ra thành nhiều môn khoa học có đối tượng nghiên cứu khác nhau như kinh tếhọc chính trị và các kinh tế học cụ thể (kinh tế học công nghiệp, kinh tế họcnông nghiệp, kinh tế học lao động, kinh tế học thương nghiệp, kinh tế họcvận tải, ….), trong đó, kinh tế học chính trị là cơ sở cho các kinh tế học cụthể Mọi đường lối, chính sách phát triển kinh tế, tổ chức và quản lí nền kinh
tế quốc dân đều dựa vào các môn khoa học kinh tế
Theo một khái niệm chung nhất, kinh tế học là một bộ môn khoahọc xã hội giúp cho con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh
tế nói chung và cách thức ứng xử của từng chủ thể tham gia vào nền kinh tếnói riêng Vấn đề khan hiếm nguồn lực yêu cầu các nền kinh tế hay các đơn
vị kinh tế phải lựa chọn Các Nhà Kinh tế cho rằng: Kinh tế học là "khoa họccủa sự lựa chọn" Kinh tế học tập trung vào việc sử dụng và quản lý cácnguồn lực hạn chế để đạt được thỏa mãn tối đa nhu cầu vật chất của conngười Đặc biệt, kinh tế học nghiên cứu hành vi trong sản xuất, phânphối và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong thế giới có nguồn lực hạn chế
Như vậy, kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ nền kinh tế
tổng thể và hành vi của các chủ thể riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồmcác doanh nghiệp,hộ tiêu dùng, người lao động vàchính phủ Mỗi chủ thểkinh tế đều có mục tiêu để hướng tới, đó là tối đa hóa lợi ích kinh tế của họ.Mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, mục tiêu của các hộtiêu dùng là tối đa hóa mức độ tiêu dùng, mục tiêu của người lao động là tối
đa hóa tiền công và mục tiêu của chính phủ là tối đa hóa lợi ích xã hội Kinh
tế học có nhiệm vụ giúp các chủ thể kinh tế giải quyết bài toán tối đa hóa lợiích kinh tế này
Trang 82 Học thuyết kinnh tế trọng thương là gì ?
Học thuyết kinh tế trọng thương là những chính sách,cương lĩnh kinh
tế của giai cấp tư sản thương nghiệp châu Âu trong thời kỳ tích luỹ vốn banđầu của chủ nghĩa tư bản Những chính sách, cương lĩnh này nhằm kêu gọithương nhân tận dụng ngoại thương , buôn bán để cướp bóc các thuộc địa vànhằm bảo vệ cho giai cấp tư sản đang hình thành Đây là học thuyết kinh tếđầu tiên, nhưng lý luận còn rất đơn giản và thô sơ, nó chỉ nhằm thuyết minhcho các chính sách, cương lĩnh, chứ không phải là cơ sở lý luận cho nhữngchính sách và cương lĩnh đó
Thực chất chủ nghĩa trọng thương là một cương lĩnh, một đường lốikinh tế của giai cấp tư sản trong thời kỳ tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tưbản Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đã vạch ra nguồn gốc củacủa cải và cách thức làm giàu Chủ nghĩa trọng thương có những đặc điểmchính sau đây:
Thứ nhất, chủ nghĩa trọng thương đánh giá cao vai trò của tiền được
coi là tiêu chuẩn căn bản của của cải, do đó mục đích chính trong chính sáchkinh tế mỗi nước là phải làm tăng khối lượng tiền tệ Trong một quốc giacàng có nhiều tiền (vàng) thì càng giàu có, còn hàng hóa chỉ là phương tiện
để làm tăng thêm khối lượng tiền tệ
Thứ hai, khối lượng tiền tệ chỉ có thể tăng lên bằng cong đường ngoại
thương và phải thực hiện xuất siêu Chủ nghĩa trọng thương coi nông nghiệp
là nghề trung gian giữa cái tích cực và cái tiêu cực, vì nông nghiệp khôngthể làm tăng hay làm tổn hại đến khối lượng tiền quốc gia
Thứ ba, chủ nghĩa trọng thương cho rằng lợi nhuận là do lĩnh vực lưu
thông trao đổi, mua bán sinh ra nó là kết quả của việc mua rẻ bán đắt mà có
Trang 9Thứ tư, chủ nghĩa trọng thương cho rằng nhà nước có vai trò lớn
trong việc phát triển kinh tế, thương nhân cần dựa vào nhà nước và nhà nướcphối hợp bảo vệ lợi ích thương nhân
Thứ năm, coi trọng thị trường dân tộc Theo họ, trên sở hình thành và
phát triển thị trường dân tộc, mới dần dần mở ra thị trường quốc tế
3 Hoàn cảnh lịch sử ra đời của học thuyết kinh
tế trọng thương.
3.1) Nền sản xuất hàng hoá phát triển.
Vào cuối thời đại nguyên thuỷ đầu chiếm hữu nô lệ, do sự phân cônglao động xã hội phát triển và sự xuất hiện của chế độ tư hữu về tư liệu sảnxuất đã đưa tới sự ra đời của nền sản xuất hàng hoá Nhưng mãi đến cuối thế
kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phâncông lao động xã hội mới làm cho nền sản xuất phát triển mạnh mẽ Do đóviệc sản xuất để trao đổi đã lôi kéo mọi tầng lớp trong xã hội, kể cả nhữngngười tiểu thương và tiểu nông Như các nhà kinh điển đã từng nói: nền sảnxuất hàng hoá vào cuối thời đại phong kiến đã phát triển tới trình độ cổ điển,tức là tới trình độ hàng ngày, hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản Vì lúc nàynền sản xuất hàng hoá tạo ra những tiền đề nhất định cho sự ra đời của tưbản
Trước hết sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đưa đến việc xuấthiện tiền tệ Tiền tệ ra đời tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hoá vàlàm cho thị trường được mở rộng,do đó lại có tác dụng thúc đẩy sản xuấtphát triển mạnh mẽ hơn, không những trong phạm vi quốc gia, mà cả phạm
vi quốc tế
C.Mác viết: “Lưu thông hàng hoá là khởi điểm của tư bản Sản xuất
hàng hoá và một nền lưu thông hàng hoá phát triển, thương mại, đó là
Trang 10những tiền đề lịch sử của sự xuất hiện của tư bản Thương mại thế giới và thị trường thế giới trong thế kỷ XVI đã mở ra trang sử cận đại của tư bản”.
Tiếp đó, sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đã làm cho địa tô tiềnxuất hiện thay thế cho địa tô lao dịch và hiện vật Đó cũng là tiền đề cho sự
ra đời của tư bản
Cuối cùng, sản xuất hàng hoá phát triển sẽ đưa tới việc xoá bỏ kinh tế
tự cấp tự túc, làm cho kinh tế hàng hoá dần dần mang tính chất phổ biến vàthống trị trên toàn bộ xã hội Mặt khác còn đẩy nhanh quá trình phân hoágiàu nghèo, từ đó hình thành nên hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản, đó
là giai cấp vô sản và giai cấp tư sản
3.2) Có nhiều phát kiến địa lý.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, đến cuối thế
kỷ XV đầu thế kỷ XVI có nhiều phát kiến địa lý để tìm các vùng đất mới lạ,nhằm mở rộng thị trường ra thế giới Tiêu biểu cho việc tìm kiếm này là hainước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, vì đây là hai nước có nền sản xuất vàtrao đổi hàng hoá phát triển nhất lúc bấy giờ
Những phát kiến địa lý đã tạo điều kiện làm giàu nhanh cho tư bảnthương nhân châu Âu Vì những phát kiến địa lý này đã đưa tới việc buônbán nô lệ giữa các châu lục, tìm ra các mỏ vàng ở châu Mỹ, đưa tới việc xâmchiếm thuộc địa và hình thành các công ty buôn bán lớn như: Công ty Đông
Ấn của Anh (1600- 1858), Công ty Đông Ấn Hà Lan (1602- 1798), Công tyĐông Ấn Pháp (1664- 1793)…
Các công ty này là những công cụ quan trọng trong chính sách thuộcđịa của các nước châu Âu Của cải do các công ty này đem lại đã làm loámắt những người trọng thương, khiến họ dựa vào đó để giải thích nguồn gốccủa lợi nhuận và kêu gọi thương nhân đẩy mạnh ngoại thương để bóc lột cácnước thuộc địa, nhằm tạo ra nguồn vốn ban đầu cho chủ nghĩa tư bản
Trang 113.3) Về chính trị - tư tưởng.
Điểm nổi bật về chính trị - tư tưởng ở châu Âu lúc bấy giờ là giai cấpphong kiến vẫn là giai cấp nắm địa vị thống trị, song đó là giai cấp đang suytàn Còn giai cấp tư sản tuy chưa nắm quyền thống trị, nhưng lại là giai cấpđang lên, là giai cấp tiên tiến và đã có cơ sở kinh tế tương đối mạnh Do vậytrên lĩnh vực tư tưởng kinh tế chứa đựng đầy mâu thuẫn, vì nó vừa phản ánh
cơ sở kinh tế cũ, vừa phản ánh cơ sở kinh tế mới đang hình thành, vừa phảnánh lợi ích kinh tế của giai cấp địa chủ, phong kiến, vừa phản ánh lợi ích củagiai cấp tư sản
Học thuyết kinh tế trọng thương ra đời đã giải quyết được mâu thuẫntrên, vì nó đại diện cho giai cấp tiên tiến, đó là giai cấp tư sản Nhưng đâychưa phải là giai cấp tư sản công nghiệp mà là giai cấp tư sản thương nghiệptrước chủ nghĩa tư bản
4.Một số đại biểu điển hình.
William Stafford (1554-1612, người Anh)
Thomas Gresham (1519-1579, người Anh)
Gasparo Scaruffi (1519-1584, người Ý)
Thomas Mun (1571-1641, người Anh)
Antoine de Montchrétien (1576-1621, người Pháp)
Trang 12CHƯƠNG II: Phân tích hai giai đoạn của học thuyết kinh tế
trọng thương
1
Đặc điểm của học thuyết kinh tế trọng thương.
1.1)Học thuyết kinh tế trọng thương xuất hiện một cách độc lập.
Học thuyết kinh tế trọng thương không phải là một học thuyết kinh tếthuần nhất có tính chất phổ biến đối với tất cả các nước, mà trong các nướckhác nhau có học thuyết kinh tế trọng thương khác nhau và phản ánh sự pháttriển kinh tế khác nhau Cụ thể:
Ở Anh: Học thuyết kinh tế trọng thương ở Anh là học thuyết tiêu biểunhất, điển hình nhất và nó phát triển qua hai giai đoạn một cách rõ rệt Đây
là một học thuyết mang tính chất hoàn toàn tư sản, cho nên ngay bọn địa chủquý tộc cũng mang tính chất tư sản hoá Nó có một vai trò rất to lớn cho sự
ra đời của chủ nghĩa tư bản ở Anh
Ở Pháp: Học thuyết kinh tế trọng thương ở Pháp so với ở Anh kémphát triển hơn và nghèo nàn về mặt lý luận, chưa đưa ra một cương lĩnh tíchluỹ tư bản đầu cho chủ nghĩa tư bản Nhưng so với các nước khác ở châu Âuthì có điều kiện phát triển hơn và có đặc điểm sau:
Mang nhiều tính chất quý tộc
Đặc biệt chú ý nhiều tới nông dân
Hướng về phát triển công nghiệp (phát triển công trường thủ công)
Ở Italia: Học thuyết kinh tế trọng thương ở Italia phát triển trong điềukiện hết sức không thuận lợi do sự suy sụp về kinh tế và sự phân tán vềchính trị,làm cho mọi sáng kiến của những người trọng thương trở nên vôhiệu quả Điểm nổi bật của học thuyết kinh tế trọng thương ở đây là chú ýnhiều đến lưu thông tiền tệ, vì các đại biểu của học thuyết kinh tế trọngthương chủ yếu là các chủ ngân hàng
Trang 13Ở Đức: Học thuyết kinh tế trọng thương ở Đức có khuynh hướng rất
kỳ quái do tính chất phân tán về chính trị và do sự thống trị phản động củachế độ nông nô, bới hệ thống tô lao dịch của nó đã kìm hãm sự phát triểnkinh tế ở Đức Vì vậy những luận điểm cơ bản trong học thuyết kinh tế trọngthương là lý tưởng hoá chế độ phường hội và đem đối lập nó với chủ nghĩa
tư bản, ca ngợi sự xa hoa của giai cấp quý tộc, coi sự xa hoa đó là nhân tốlàm cho quốc dân phồn thịnh…
Ở Tây Ban Nha: Học thuyết kinh tế trọng thương chỉ dừng ở thuyếttiền tệ (trọng thương sơ kỳ) Điểm nổi bật của trọng thương Tây Ban Nha là
đi theo khuynh hướng quý tộc và chẳng có tác dụng gì về mặt kinh tế
1.2) Học thuyết kinh tế trọng thương mang tính chất không triệt để.
Học thuyết kinh tế trọng thương là trào lưu kinh tế tư sản, nhưng trongthực tế ở nhiều nước, giai cấp quý tộc đã lợi dụng để phục vụ cho lợi ích củamình và để cứu vãn sự suy tàn của xã hội phong kiến Vì vậy cơ sở giai cấpcủa học thuyết kinh tế trọng thương không phải chỉ có giai cấp tư sản màcòn bao gồm cả giai cấp quý tộc nên nó mang tính chất không triệt để
Chẳng hạn, ở Tây Ban Nha,các vua tiêu biểu là vua Charle V đã sửdụng học thuyết kinh tế trọng thương để củng cố địa vị của mình thông quaviệc điều tiết sự lưu thông tiền tệ và cấm xuất khẩu tiền ra nước ngoài
Ở nước Nga, Piotr đệ nhất cũng sử dụng các biện pháp của học thuyếtkinh tế trọng thương để phát triển kinh tế như:
Phát triển công nghiệp (công trường thủ công)
Thực hiện hàng rào thuế quan
Tìm mọi cách xuất khẩu được nhiều hàng hoá của mình ra thị trườngthế giới
Bảo trợ ngoại thương để thu hút kim loại quý vào trong nước
Trang 141.3) Học thuyết kinh tế trọng thương rất ít tính lý luận, nhưng lại rất thực tiễn.
Trong buổi ban đầu của chủ nghĩa tư bản,nhiệm vụ trung tâm của giaicấp tư sản là tạo ra nguồn vốn ban đầu, nghĩa là phải tích luỹ được nhiềutiền Muốn có được nhiều tiền phải dựa vào nhà nước để thưc hiện các biệnpháp phi kinh tế chứ không phải dựa trên sự vận động của các quy luật kinh
tế Học thuyết kinh tế trọng thương bị giới hạn bởi hoàn cảnh lịch sử đó nênkhông thể tiến xa hơn, do đó tính lý luận hết sức thô sơ, nông cạn và giảnđơn
A.Smith có nhận xét: Quan điểm lý luận của chủ nghĩa trọng thương làngây thơ
Tuy vậy học thuyết kinh tế trọng thương lại rất thực tiễn là đã biết kêugọi thương nhân dùng ngoại thương buôn bán và cướp bóc thuộc địa để làmgiàu Thông qua thực tiễn đó đã khái quát những kinh nghiệm lại thànhnhững quy tắc, cương lĩnh, chính sách
Do đó học thuyết kinh tế trọng thương đã đứng trên cơ sở hiện thực đểgiải quyết những vấn đề cấp bách lúc bấy giờ là tích luỹ vốn ban đầu Vì vậycương lĩnh kinh tế của học thuyết kinh tế trọng thương là hoàn toàn hiệnthực và tiến bộ
Một số quan điểm của chủ nghĩa trọng thương.
Quan điểm về lợi nhuận.
Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào thời kỳ quá độ mà nền kinh tếphong kiến bước vào thời kỳ suy đồi và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đầuhình thành Nó ra đời phản ánh những quan điểm của chủ nghĩa tư bản vàothời kỳ đầu tư bản hay thời kỳ tiền tư bản và nó được phát triển rộng rãi ởcác nước Tây Âu Mặc dù thời kì này chưa biết đến quy luật kinh tế trọngthương đã tạo ra nhiều tiền đề về kinh tế xã hội cho nhiều các lý luận kinh tế
Trang 15thị trường sau này phát triển Điều này được thể hiện ở chỗ họ đưa ra quanđiểm sự giàu có không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị tiền Mục đíchhoạt động của kinh tế hàng hoá thị trường là lợi nhuận.
“ Học thuyết kinh tế trọng thương cho rằng giá trị lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông mua bán, trao đổi sinh ra Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt mà có”.
Nhưng trong giai đoạn này các nhà kinh tế chưa hiểu quan hệ giữu lưuthông hàng hoá và lưu thông tiền tệ Vì đó ở giai đoạn đầu của thời kì này,các nước tư bản đã đưa ra các chính sách làm tăng của cải tiền tệ, giữ chokhối lượng tiền không ra nước ngoài, tập trung buôn bán phải dùng số tiền
mà họ có mua hết hàng hoá mang về nước họ… ở giai đoạn sau họ dùngchính sách xuất siêu để có thêm chênh lệch, mang tiền ra nước ngoài để thựchiện mua rẻ bán đắt…
Với những chính sách đưa ra nhằm đạt được lợi ích như trêncủa cácnwocs tư bản chỉ mang tính bề mặt nông cạn Chứng tỏ quan điểm về lợinhuận cũng như kinnh tế chưa có “chiều sâu” thực chất Chính điều này đãdẫn đến nhiều mâu thuẫn trong nền kinh tế Đòi hỏi phải thoát khỏi phươngpháp kinh nghiệm thuần tuý Phải phân tích kinh tế xã hội với tư cách là mộtchỉnh thể
Quan điểm về tiền tệ.
Chủ nghĩa trọng thương đánh giá cao vai trò của tiền, tiền được coi làtiêu chuẩn căn bản của của cải, do đó mục đích chính trong chính sách kinh
tế của mỗi nước là phải làm gia tăng khối lượng tiền tệ Mỗi quốc gia càng
có nhiều tiền (vàng) thì càng giàu có, còn hàng hóa chỉ là phương tiện đểtăng thêm khối lượng tiền tệ
Trang 16Quan điểm về ngoại thương.
Chủ nghĩa trọng thương đánh giá cao vai trò của thương mại đặc biệt
là ngoại thương Chủ nghĩa trọng thương xuất phát từ chỗ cho rằng tiền tệ(vàng, bạc) chỉ có thể gia tăng qua các hoạt động thương nghiệp, cụ thể làngoại thương Ngoại thương đóng vai trò sinh tử đối với phát triển kinh tế
của một quốc gia Chủ nghĩa trọng thương cho rằng: Nội thương là hệ thống
ống dẫn, ngoại thương là ống bơm Muốn tăng của cải phải có ngoại thương
nhập dẫn của cải qua nội thương Khối lượng tiền tệ chỉ có thể tăng lên bằngcon đường ngoại thương và ngoại thương phải thực hiện chính sách xuấtsiêu bằng cách hạn chế nhập khẩu và tăng cường xuất khẩu Sự phồn thịnhcủa một quốc gia chính là nhờ thương nghiệp đặc biệt là ngoại thương chứkhông phải do sản xuất (trừ việc khai thác vàng)
Trong quan điểm ngoại thương, tính dân tộc thể hiện rất rõ Các đạibiểu của chủ nghĩa trọng thương đều đòi hỏi nhà nước phải có các biện phápnhằm bảo vệ thị trường nội địa tránh sự xâm nhập, cạnh tranh của hàng hóanước ngoài; chủ trương tìm mọi cách để bảo vệ vàng bạc nước mình khôngchảy ra nước ngoài
Quan điểm về chính sách ngoại thương.
Xuất phát từ chỗ coi nguồn gốc của của cải được sinh ra trong lưuthông và luận điểm về ngoại thương phải thực hiện xuất siêu của mình, chủnghĩa trọng thương chủ trương xuất siêu với các mức độ khác nhau giữa cáckhuynh hướng của quốc gia trong những thời kỳ khác nhau Để thực hiệnxuất siêu thì phải phát triển công nghiệp Nhập khẩu có thể giảm nếu từ bỏviệc tiêu dùng quá mức hàng nước ngoài Chỉ nên nhập khẩu những hànghóa mà trong nước không sản xuất được hay sản xuất được nhưng có chi phí
Trang 17quá lớn so với hàng ngoại cùng kiểu cách, chất lượng Xuất khẩu phải chú ýđến những mặt hàng dư thừa trong nước và nhu cầu của nước quan hệ tronghoạt động ngoại thương Chủ nghĩa trọng thương ủng hộ chính sách thuếquan, chính sách bảo hộ mậu dịch có lợi cho những hoạt động ngoại thương.
Quan điểm về cơ chế kinh tế.
Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển tốt đẹp nếu như có sự điều chỉnh
và quản lý của nhà nước, khuyến khích sự độc quyền trong ngoại thương.Vai trò của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế được chủ nghĩa trọngthương đề cao và cho rằng: Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển có hiệu quảnếu chịu sự chi phối, quản lý của nhà nước Thương nhân cần dựa vào nhànước và nhà nước phối hợp bảo vệ thương nhân
2 Giai đoạn trọng thương sơ kỳ.
Học thuyết kinh tế trọng thương là hình thái đầu tiên của hệ tư tưởng
tư sản trong lĩnh vưc kinh tế Nó phản ánh xu thế đi lên của giai cấp tư sảnđang hình thành và phát triển trong lòng xã hội phong kiến Do đó người taphân học thuyết kinh tế trọng thương ra là hai giai đoạn: Giai đoạn trọngthương sơ kỳ và giai đoạn trọng thương chính thống
Giai đoạn này xuất hiện từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVI Đại biểu
điển hình cho giai đoạn này là William Stafford(1554- 1612) người Anh.
Ngoài ra còn có các đại biểu khác như: Thomas Gresham (1519- 1579) người Anh và Gasparo Scaruffi (1519- 1584) người Ý.
Trang 18Trong giai đoạn này những người trọng thương đưa ra thuyết chế độtiền tệ hay hệ thống tiền tệ Chủ nghĩa trọng thương trong giai đoạn này còn
được gọi là chủ nghĩa trọng kim.
Nội dung chủ yếu của thời kỳ này là lấy tiền tệ làm cân đối chính, từ
đó đưa ra một cương lĩnh gọi là cương lĩnh của thuyết tiền tệ hay bảng cânđối tiền tệ
Để thực hiện cương lĩnh trên, họ đòi hỏi nhà nước phải can thiệp vàođời sống kinh tế, trước hết can thiệp vào lưu thông tiền tệ bằng các biệnpháp:
Cấm xuất khẩu tiền vàng, bạc ra nước ngoài Vì các nhà trọng thươnggiai đoạn này coi tiền là của cải duy nhất của xã hội Vì vậy khi xuấtkhẩu tiền, bạc ra nước ngoài là mang của cải của đất nước ra khỏiquốc gia Do đó trong giai đoạn này chủ trương cấm xuất khẩu tiền rakhỏi đất nước
Phải thu hút tiền về càng nhiều càng tốt Do đó trong giai đoạn nàycác nhà trọng thương chủ trương đầu tư phát triển để thu hút tiền, bạcvào trong nước để tăng thêm phần của cải cho quốc gia
Giám sát thương nhân nước ngoài, không cho đem tiền về, mà phảibuộc mua hàng Vì coi tiền là đại diện cho sự giàu có nên khi thươngnhân nước ngoài vào trong nước buôn bán họ không cho những ngườithương nhân này đem tiền ra khỏi đất nước mà buộc phải mua hàng.Một mặt, chính sách này giúp cho đất nước bán được nhiều hàng hoá,mặt khác thu được nhiều tiền bạc tăng sự giàu có cho đất nước
Tích trữ tiền lại Chính sách của quốc gia là bằng mọi cách phải tíchtrữ tiền (vàng) bằng các chính sách như: tìm các mỏ vàng, không đểvàng ra khỏi quốc gia
Trang 19Như vậy, những người trọng thương sơ kỳ hướng vào việc dùng biệnpháp hành chính là chủ yếu để giải quyết các vấn đề kinnh tế.
Thông qua các biện pháp trên ta thấy, những người trọng thương sơ
kỳ đã có đầu óc thực tiễn Nghĩa là họ đã biết khái quát hoá những sự kiện
có tính chất kinh nghiệm
Nhưng bên cạnh đó những người thuộc trường phái trọng thương vẫncòn nhiều sai lầm về lý luận
Thứ nhất, coi tiền tệ là của cải duy nhất của xã hội Tiền là sản phẩm
của lao động, nó là vật ngang giá chung cho mọi hàng hoá, tức là làm chứcnăng thước đo giá trị cho tất cả các loại hàng hoá khác, nên nó không phải làcủa cải duy nhất của xã hội Chỉ có lao động sản xuất mới tạo ra giá trị, mới
là nguồn gốc của của cải cho xã hội
Thứ hai, chủ trương tích trữ tiền Muốn giàu có phải đẩy mạnh sản
xuất, mà muốn phát triển sản xuất lại phải đưa tiền vào quá trình lưu thông,chứ không phải tích trữ tiền lại Như C.Mác đã nói : “ Tư bản không thể xuấthiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nóphải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông” Do
đó chủ trương tích trữ tiền là một sai lầm
Thứ ba, sử dụng các biện pháp phi kinh tế Những người trọng thương
sơ kỳ không biết đến các quy luật kinh tế và không thừa nhận là có các quyluật kinh tế Vì vậy họ chỉ sử dụng các biện pháp hành chính để can thiệpvào quá trình kinh tế
Kết luận: Một số đại biểu trọng thương trong giai đoạn này đã bắt đầu nhìn
thấy nguồn gốc của sự giàu có trong lĩnh vực trao đổi hàng hoá Nhưng họvẫn cho rằng mục đích của việc trao đổi hàng hoá vẫn là để lấy tiền và tíchtrữ tiền