1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận báo chí, tìm hiểu về vấn đề đồng tính luyến ái về lý luận và thực tiễn

26 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận báo chí, tìm hiểu về vấn đề đồng tính luyến ái về lý luận và thực tiễn
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Báo chí
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 479,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÃ HỘI HỌC BÁO CHÍ Mục lục 1 Thế nào là Đồng tính luyến ái? 2 Lịch sử của đồng tính luyến ái tại A Châu Mỹ B Châu Âu C Châu Á D Hiện tại 3 Nhận thức giới tính và nhận thức tính dục 4 Đồng tính luyến á[.]

Trang 1

XÃ HỘI HỌC BÁO CHÍ

Mục lục:

1 Thế nào là Đồng tính luyến ái?

2 Lịch sử của đồng tính luyến ái tại:

4.Đồng tính luyến ái với Pháp Luật.

5.Đồng tính luyến ái với Xã Hội.

A Sự thành kiến, thái độ của xã hội

B Sự bạo hành đối với đồng tính luyến ái.

6.Đồng tính luyến ái với Tôn Giáo.

7.Đồng tính luyến ái với Sức khỏe.

8.Vấn đề con cái.

9.Một số thuật ngữ và tiếng lóng

10 Một số câu chuyện về người đồng tính

A Đám cưới đồng tính nữ ở Hà Nội

Trang 2

B Đám cưới đồng tính nam ở Hà Tiên.

11 Kết luận

1.Thế nào là Đồng tính luyến ái?

Đồng tính luyến ái, hay đồng tính chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diệntình yêu hay tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa nhữngngười cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài.Đồng tính luyến ái cũng chỉ nhận thực của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và

sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này Gay (từ tiếng Anh) chỉ ngườiđồng tính nam, lesbian hay đọc ngắn là les là chỉ người đồng tính nữ Đồng tínhluyến ái được coi là một dạng trong thang liên tục của thiên hướng tình dục

Đối với những nhà nghiên cứu việc xác định số người tự xác định mình là đồngtính và tỉ lệ người từng trải nghiệm tình dục đồng giới một cách tin cậy là mộtviệc khó vì nhiều lý do khác nhau Ở phương Tây hiện đại, theo nhiều nghiêncứu lớn, 1% đến 3% dân chúng là đồng tính, 2% đến 10% từng trải nghiệm vàidạng tình dục đồng giới trong cuộc đời Trong một nghiên cứu 2006, trong sốnhững người giấu tên, 20% trả lời rằng có cảm xúc tình dục đồng giới mặc dùchỉ có 2-3% tự nhận mình là đồng tính Đồng tính luyến ái cũng có ở nhiều loàiđộng vật

Trong nhiều nền văn hóa trước đây quan hệ đồng tính rất phổ biến Trong lịch

sử, đồng tính luyến ái, dưới góc độ cá nhân, từng được ca tụng hoặc lên án vìmỗi xã hội có những chuẩn mực tình dục khác nhau Ở những nơi đồng tínhđược ca ngợi, những quan điểm đó được coi là một cách làm cho xã hội tiến bộ

Ở những nơi đồng tính bị lên án, những hành vi cụ thể bị coi là một tội lỗi hoặc

Trang 3

bệnh hoạn và một số hành vi đồng tính bị luật pháp cấm Từ giữa thế kỷ 20,đồng tính dần dần không còn bị xem là một căn bệnh và phạm pháp ở hầu hếtcác nước phát triển Tuy nhiên, luật pháp về quan hệ đồng tính rất khác biệt ởcác nước khác nhau Ở nhiều nơi, vài hành vi đồng tính nào đó là phạm pháp và

bị xử rất nặng bao gồm cả tử hình

Nhiều người đồng tính che dấu cảm xúc và hành vi của họ vì sợ không đượccông nhận hoặc bị bạo hành Tuy vậy, có những người đồng tính công khai thiênhướng tình dục Những nổ lực nhằm giải phóng đồng tính luyến ái được cho làbắt đầu từ thập niên 1860 và từ giữa thập niên 1950, sự xuất hiện, sự công nhận

và quyền cho người đồng tính và song tính luyến ái ngày càng tăng lên Tuynhiên, chứng ghê sợ đồng tính luyến ái vẫn còn, đặc biệt là nó làm cho nhiềungười trẻ phải chịu đựng điều này và gặp nhiều khó khăn trong xã hội đôi khidẫn đến tự tử

Tại Việt Nam hiện nay không có luật cấm quan hệ tình dục đồng tính nhưng luậthôn nhân và gia đình Việt Nam cấm hôn nhân giữa hai người cùng giới tính

Trang 4

Nếu đứa bé nhận vai trò, nó sẽ được dạy dỗ về các nhiệm vụ của mình, theo cácphong tục của giới tính mà nó đã chọn Những người này thường làm thầy phápnhưng được xem là có nhiều quyền phép hơn các thầy pháp thường Trong lĩnhvực tình dục, họ sẽ có quan hệ với những người khác phái.

Chính nhạc disco có nguồn gốc từ sự liên kết ban đầu với lối sống của một bộphận giới đồng tính luyến ái nam ở Thành phố New York và sau đó được pháttriển trên nền tảng nhạc đại chúng da đen trong những năm của thập niên 1970

Trong thời Phục Hưng, những thành phố ở miền bắc nước Ý, đặc biệt là Firenze

và Venezia, rất nổi tiếng về việc ái tình đồng tính, được phần đông dân số namtheo và được tạo theo kiểu mẫu ở Hy Lạp và La Mã (Ruggiero, 1985; Rocke,1996) Tuy nhiên, trong khi phần đông dân số người nam theo tục lệ này, nhữngnhà chức trách vẫn khởi tố, phạt và bắt bớ nhiều người

Trang 5

C.Châu Á

Ở Đông Á, tình yêu đồng giới có trong những tài liệu lịch sử xa xưa nhất Đồngtính luyến ái ở Trung Quốc, được biết đến như mối tình chia đào, mối tình cắttay áo hoặc phong tục phương Nam, được ghi nhận có từ khoảng năm 600 TCN.Những từ nói trại này được dùng để miêu tả những hành vi chứ không phải nhậnthực Các mối quan hệ thường giữa những người có tuổi tác và địa vị xã hội khácbiệt nhau Tuy nhiên, trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng, những tình yêu và tìnhdục cùng giới cũng không xa lạ đối với độc giả như là các mối tình dị tính luyến

ái trong cùng một giai đoạn

Đồng tính luyến ái ở Nhật Bản, được biết đến dưới dạng chúng đạo hay nam sắc,những từ bị ảnh hưởng từ văn chương Trung Hoa, được ghi nhận từ hơn mộtngàn năm và từng là một phần trong đời sống Phật giáo và truyền thống samurai.Văn hóa tình yêu cùng giới làm truyền thống hội họa và văn chương nhằm tônvinh những mối quan hệ đó được nâng cao

Kathoey hay "trai nữ" (cô chàng) là một phần trong xã hội Thái Lan trong nhiềuthế kỷ và quốc vương Thái Lan cũng có các "cung phi" là nam cũng như nữ.Kathoey có thể nữ tính hoặc là biến trang (transvestism) Văn hóa Thái thườngcoi họ là giới tính thứ ba Họ thường được xã hội chấp nhận Thái Lan chưa từng

có luật cấm đồng tính luyến ái hoặc hành vi đồng tính

D.Hiện đại

Từ năm 1973, các nhà tâm lý học không còn xem đồng tính luyến ái là một bệnhtâm thần nữa Trong vài ba thập kỉ nay, tại các nước Tây phương có sự hình

Trang 6

thành của một nền văn hóa của những người ĐTLA Tuy nhiên, cũng có nhiềungười ĐTLA không tham gia trong xã hội đó.

Sau khi bị chính quyền Đức quốc xã cố ý tiêu diệt trong Đệ nhị thế chiến, nhữngngười đồng tính đã giành được nhiều quyền, đặc biệt là tại các nước Tâyphương Một số quốc gia gần đây đã cho phép người đồng tính có quyền kết hôncũng như nhận con nuôi Sự xuất hiện của HIV/AIDS trong giữa thập niên 1980

là một trong những điều mà nhóm người ĐTLA phải đương đầu trong thời giangần đây

Trong lĩnh vực tôn giáo, một số tôn giáo cũng bắt đầu tỏ ra cởi mở với ngườiđồng tính Một giáo phái Do Thái giáo cũng bắt đầu mở dịch vụ làm lễ kết hôncho người đồng tính, trong khi nhóm Anh giáo đã nhận một mục sư đồng tính

Âm nhạc

Các ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng như Cher, Madonna, Lady Gaga, Christina Aguilera,Cyndi Lauper, đã đưa chủ đề người đồng tính vào những bài hát, video âmnhạc, những màn biểu diễn của mình để góp phần lên tiếng ủng hộ quyền lợicủa giới đồng tính luyến ái

3 Nhận thực giới tính và nhận thực tính dục

Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, Hiệp hội Lao động Xã hộiQuốc gia (Hoa Kỳ) khẳng định:

“ Thiên hướng tình dục chỉ một việc bị hấp dẫn về mặt tình dục hoặc tình cảm

đối với nam, nữ hoặc cả hai Nó chỉ cảm xúc cá nhân hoặc nhận thực xã hộidựa trên những hấp dẫn đó, những hành vi thể hiện và sự tham gia vào một

Trang 7

cộng đồng có những đặc điểm chung này Mặc dù thiên hướng tình dục thayđổi một cách liên tục từ hoàn toàn dị tính luyến ái cho đến hoàn toàn đồngtính luyến ái, thiên hướng tình dục thường được nói đến dưới ba dạng: dị tínhluyến ái (bị hấp dẫn tình dục và tình cảm chủ yếu hoặc hoàn toàn bởi ngườikhác giới), đồng tính luyến ái (bị hấp dẫn tình dục và tình cảm chủ yếu hoặchoàn toàn bởi người cùng giới) và song tính luyến ái (bị hấp dẫn tình dục vàtình cảm ở một mức độ đáng kể bởi cả nam và nữ) Thiên hướng tình dục làkhác biệt với những yếu tố tạo nên giới tính và tình dục Những yếu tồ nàybao gồm giới tính sinh học (đặc điểm giải phẫu, tâm lý và di truyền gắn liềnvới người nam hoặc người nữ), nhận thực giới tính (cảm giác của cá nhânrằng họ thực sự là nam hoặc nữ) và thể hiện giới tính (gắn liền với nhữngchuẩn mực văn hóa qui định những hành vi nam tính và nữ tính) Thiênhướng tình dục thường được nói đến như là một đặc điểm cá nhân, chẳnghạn như thiên hướng tình dục hướng tới một dạng giới tính sinh học, mộtdạng nhận thực giới tính hoặc một dạng tuổi tác nào đó Tuy nhiên không chỉbao gồm những yếu tố này vì thiên hướng tình dục là một khái niệm bao gồm

cả mối quan hệ với những cá nhân khác Những hành vi tình dục và hấp dẫntình cảm được phân loại là đồng tính hoặc dị tính dựa trên giới tính sinh họccủa những cá nhân tham gia Thực vậy, hành động hoặc ham muốn thực hiệnhành động với người khác là những biểu hiện thể hiện người đồng tính, dịtính hoặc song tính Những hành động này có thể đơn giản như nắm tay hoặchôn Do đó, thiên hướng tình dục có liên hệ mật thiết với những mối quan hệ

mà cá nhân có với người khác để đáp ứng nhu cầu tình yêu, sự gắn kết và sựthân mật Bên cạnh hành vi tình dục, những gắn kết đó còn bao gồm nhữngtình cảm thể chất phi tính dục cũng như những giá trị và mục tiêu chung, sự

Trang 8

hỗ trợ lẫn nhau và cả sự ràng buộc.

Cho nên, thiên hướng tình dục không đơn thuần là một đặc điểm cá nhân cóthể định nghĩa một cách độc lập mà nó là thế giới của từng cá nhân hướng tớimột người nào đó mà người này có thể đảm bảo hoặc đáp ứng một mối quan

hệ, mà mối quan hệ này thể hiện được bản chất cá nhân của mình.”

Các yếu tố hình thành

Có nhiều giả thuyết về các yếu tố hình thành nên thiên hướng tình dục đồng tínhluyến ái trong đó bao gồm:

 Kiểu gen (bẩm sinh)

 Môi trường sống và sự dạy dỗ

 Số lượng anh trai của đối tượng (đối với người đồng tính nam)

 Hoócmôn trong giai đoạn bào thai

 Sự lo âu của người mẹ khi mang thai

 Tổng hợp của các yếu tố trên

Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pedeatrics) khẳng định rằng

“Thiên hướng tình dục chỉ được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu gen,hoocmon và ảnh hưởng môi trường” Nhiều tranh cãi tiếp tục dựa trên các yếu tốsinh học và/hoặc tâm lí như kiểu gen và sự hoạt động của một số hoocmon ở bàothai Sigmund Freud và các nhà tâm lí khác xác nhận rằng sự hình thành thiênhướng tình dục do nhiều nhân tố trong đó có các sự việc quá khứ xảy ra trongthời thơ ấu

Khả năng thay đổi

Trang 9

Vài người đồng tính và song tính tìm cách giảm bớt ham muốn, tránh xa quan hệđồng giới hoặc thay đổi thiên hướng tình dục Họ thay đổi bằng trị liệu, thựchiện qui tắc tôn giáo hoặc tham gia vào các nhóm ex-gay (như nhóm ExodusInternational) Nhiều tổ chức sức khỏe và tâm thần phương Tây tin rằng thiênhướng tình dục luôn tiến triển trong suốt cuộc đời và họ cũng tôn trọng sự tựquyết định của mỗi người Tuy nhiên, chưa có bằng chứng khoa học nào chứngminh sự hiệu quả hoặc tác hại của những phương pháp trị liệu Các tổ chức nàykhuyến cáo rằng không nên cố gắng thay đổi thiên hướng tình dục vì lo ngại cótác hại nào đó.[35] Hoạt động của các nhóm ex-gay và việc trị liệu trong trườnghọc được tranh cãi nhưng lại được các tòa án Mỹ cho phép

Quan hệ tình cảm

Mỗi người đồng tính có thể thể hiện tình dục của họ bằng cách này hay cáchkhác và có thể cũng không có hành vi nào thể hiện ra Một số chủ yếu quan hệtình dục với người cùng giới, một số chủ yếu với người khác giới, cả hai giớihoặc kiêng tình dục Nghiên cứu cho thấy nhiều người đồng tính mong muốn cómối quan hệ bền vững và họ cũng đã thực hiện được Ví dụ kết quả thống kê chothấy 40% đến 60% người đồng tính nam và 45% đến 80% người đồng tính nữhiện đang có một quan hệ tình cảm Tuy nhiên thống kê cũng cho thấy chỉ có18% đến 28% cặp đồng tính nam và 8% đến 21% cặp đồng tính nữ ở Hoa Kỳ đãsống với nhau được 10 năm trở lên Như vậy quan hệ giữa các cặp đồng tínhkém bền vững hơn nhiều các cặp dị tính, lý do được đưa ra là họ ít có ràng buộc,chẳng hạn như không có hôn thú và con cái

Có những nghiên cứu cho thấy các cặp đồng tính và các cặp dị tính là tươngđương nhau về mặt toại nguyện và sự gắn kết nhiều hay ít trong quan hệ tìnhcảm Nghiên cứu cho thấy đặc điểm tuổi tác và giới tính có liên quan nhiều đến

Trang 10

sự toại nguyện và sự gắn kết hơn là thiên hướng tình dục; người đồng tính vàngười dị tính có chung những mong muốn và lý tưởng trong tình cảm

Đồng tính luyến ái khác với rối loạn định dạng giới

Cần phân biệt người có xu hướng tình dục đồng giới bẩm sinh (đồng tính thật sự)khác với ba dạng khác:

 Trạng thái tự cho bản thân thuộc giới khác: người hoàn toàn bình thường

về giải phẫu và sinh học nhưng tự cho bản thân thuộc giới khác và tìmcách thực hiện ý định chuyển giới bằng các phương pháp phẫu thuật vàsinh hóa

 Trạng thái tự cải trang quần áo để biểu lộ thành giới khác: là người chỉthích mặc quần áo khác giới để cảm thấy khác biệt với người khác

 Giả đồng tính có mục đích để làm mại dâm kiếm tiền, lừa đảo, ruồng bỏtrách nhiệm với người yêu cũ

Những trường hợp này còn gọi là Rối loạn định dạng giới (Gender identitydisorder) Rối loạn định dạng giới được phân loại như là một chứng rối loạn tâmthần bởi Trung tâm quốc tế về Phân loại bệnh và các vấn đề sức khỏe liên quan,biểu hiện của nó là những hành vi, thái độ chối bỏ giới tính của bản thân mình,gồm 3 tiêu chuẩn chẩn đoán

 Muốn được sống và chấp nhận như một người khác giới tính, thường đikèm với những mong muốn làm cho cơ thể, ngoại hình mình càng giốngngười khác giới càng tốt (qua ăn mặc, đi đứng, thậm chí phẫu thuật)

 Tâm lý trên tồn tại liên tục trong ít nhất hai năm

 Rối loạn này không phải là một triệu chứng của một chứng rối loạn tâmthần khác hoặc sự bất thường của nhiễm sắc thể

Trang 11

Một nghiên cứu của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ cũng khẳng định: 75% thiếuniên bị rối loạn định dạng giới sẽ có xu hướng đồng tính ở tuổi vị thành niên

4 Đồng tính luyến ái với Pháp Luật

Mặc dù đồng tính luyến ái đã không bị coi là phạm pháp nhiều nơi ởphương Tây, chẳng hạn như Ba Lan 1932, Đan Mạch 1933, Thụy Điển 1944 vàAnh 1967, cộng đồng đồng tính vẫn chưa có quyền hợp pháp dẫu chỉ là hạn chếcho đến giữa những năm 70 Một bước ngoặt quan trọng là vào năm 1973, Hiệphội Tâm thần Hoa Kỳ đưa đồng tính luyến ái ra khỏi Danh sách các rối loạn tâmthần Năm 1977, Quebec tại Canada đã trở thành bang đầu tiên cấm kỳ thị dựatrên thiên hướng tình dục Những năm 80 và 90, nhiều nước phát triển đã hợppháp hóa đồng tính luyến ái và cấm kỳ thị người đồng tính trong công việc, cưtrú và dịch vụ Tính tới năm 2012, trong tổng số hơn 200 quốc gia và vùng lãnhthổ trên thế giới, có 10 quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính

5.Đồng tính luyến ái với Xã Hội.

A Thành kiến, thái độ của xã hội:

Thái độ xã hội đối với đồng tính luyến ái khác nhau ở các nền văn hóa và ởcác giai đoạn trong lịch sử cũng như thái độ đối với ham muốn tình dục, hành vitình dục và các mối quan hệ nói chung Mỗi nền văn hóa có những chuẩn mựcriêng về tình dục trong đó vài nền văn hóa tán thành tình yêu và tình dục đồnggiới trong khi những nền văn hóa khác không tán thành Cũng như trong dị tínhluyến ái, có những qui định khác nhau tùy thuộc vào giới tính, độ tuổi, giai cấphoặc/và tầng lớp xã hội Chẳng hạn, thời cận đại ở Nhật Bản, đối với các

Trang 12

samurai, một thiếu niên được khuyến khích quan hệ tình dục với một chiến binhlớn tuổi nhưng quan hệ giữa hai người nam trưởng thành là không thích hợp Hầu hết các nền văn hóa trên thế giới coi tình dục truyền chủng của quan hệđược thừa nhận (ví dụ như hôn nhân) là chuẩn mực Quan hệ đồng giới về mặttình cảm hoặc tình dục đôi khi cũng được xét tới Vài tôn giáo đặc biệt là các tôngiáo Abraham lên án hành vi và quan hệ đồng tính luyến ái, nhiều trường hợptrừng phạt rất nặng Từ thập niên 1970, nhiều nơi trên thế giới bắt đầu công nhậnquan hệ tình dục đồng giới giữa những người đủ tuổi Thống kê về thái độ toàncầu năm 2003 của Trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy châu Phi và Trung Đôngchống đối đồng tính một cách mạnh mẽ Trong khi người ở Mỹ Latin nhưMexico, Argentina, Bolivia và Brasil thì cởi mở hơn rất nhiều Quan niệm ởchâu Âu thì nằm giữa phương Tây và phương Đông Đa số các nước Tây Âutrong cuộc thăm dò cho rằng xã hội nên chấp nhận đồng tính trong khi ngườiNga, người Ba Lan và người Ukraina phản đối Người Mỹ chia làm hai nhóm:51% ủng hộ và 42% phản đối

Từ những năm 1970, thái độ đối với người đồng tính và người song tính cũngnhư những yếu tố văn hóa và xã hội tạo ra những thái độ đó đã được nghiên cứu.Nhiều công trình nghiên cứu sự phổ biến của thái độ chấp nhận và thái độ phảnđối cho thấy những kết quả thống nhất ở từng vùng hoặc từng nhóm người.Chẳng hạn, nhiều nghiên cứu (chủ yếu ở Hoa Kỳ) cho thấy những người có thái

độ cởi mở với đồng tính luyến ái thường là một trong những nhóm người nhưphụ nữ, người da trắng, người trẻ tuổi, không theo tôn giáo nào, có trình độ họcvấn, tư tưởng chính trị tự do hoặc ôn hòa hoặc là người có quan hệ cá nhân vớingười đồng tính công khai Họ cũng có thái độ cởi mở đối với các nhóm thiểu sốkhác và thường không ủng hộ vai trò giới tính (gender role) thông thường Nhiều nghiên cứu cho thấy đàn ông dị tính luyến ái có thành kiến đối với người

Ngày đăng: 28/01/2023, 10:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w