I LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam Trong bất kì hình thái kinh tế xã hội nào, bất kì giai đoạn lịch sử nào và ở bất cứ đâu, phụ nữ cũng luôn có một vai[.]
Trang 1I LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam.
Trong bất kì hình thái kinh tế xã hội nào, bất kì giai đoạn lịch sử nào và
ở bất cứ đâu, phụ nữ cũng luôn có một vai trò rất quan trọng nhưng khôngphải bao giờ cũng có được địa vị cân xứng Trong quá trình phát triển của lịch
sử nhân loại, vai trò của phụ nữ đã không được thừa nhận và đánh giá đúng,
họ luôn bị bóc lột và đối xử một cách bất bình đẳng Nghiên cứu về vấn đềnày, Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng: Bất bình đẳng giữa nam, nữ là một sự bấtbình đẳng lớn nhất của lịch sử nhân loại và nó chính là nguồn gốc đích thực
về mặt lịch sử, xã hội của những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu trong quan hệ vợchồng Ông cũng chỉ ra rằng : muốn giải phóng phụ nữ thì phải xây dựng một
xã hội mới, một xã hội không còn áp bức bóc lột của người này đối với ngườikhác, của giai cấp này đối với giai cấp khác Như vậy để xây dựng một xã hộicông bằng văn minh thì cần phải giải phóng phụ nữ và đảm bảo cho họ đượcbình đẳng với nam giới trên mọi phương diện Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng
từng khẳng định: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội.Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.Nếu không giải phóng phụ
nữ là xây dựng XHCN một nửa”.
Trên tinh thần kế thừa và phát huy những tư tưởng tốt đẹp ấy, Đảng vàNhà nước ta luôn giành cho phụ nữ sự quan tâm rất lớn Trong cả bốn bảnHiến Pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992, quyền bình đẳng nam nữ đã đượcghi nhận và dần trở thành một nguyên tắc cơ bản, và theo đó, hầu hết các vănbản pháp luật ra đời đã cụ thể hoá quyền bình đẳng nam nữ để thực hiện triệt
để trong cuộc sống Luật Bình đẳng giới ra đời năm 2006 chính là sự cụ thểhoá một cách trực tiếp nhất, rõ rệt nhất tư tưởng ấy
Trang 2Tính đến thời điểm này, Luật bình đẳng giới đã có hiệu lực được hơn 5năm Tuy vậy xét từ góc độ thực tiễn và nghiên cứu, nó vẫn còn là đề tài khámới mẻ Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác
nhau, nhưng với đề tài khoá luận tốt nghiệp: “Một số vấn đề cơ bản của Luật Bình đẳng giới”, tác giả mong muốn làm rõ một số nội dung cơ bản và đóng
góp một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực thi Luật bình đẳnggiới trong cuộc sống
Theo số liệu thống kê của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFP), dân sốthế giới đã lên đến 6,5 tỉ người (năm 2005) Mỗi ngày có hơn 70.000 nữ thanhthiếu niên kết hôn và khoảng 40.000 phụ nữ sinh con Ở Việt Nam, theo sốliệu thống kê năm 2005, dân số đã lên tới hơn 82 triệu người, tăng 1,43% sovới năm trước đó Trong đó phụ nữ chiếm 51,8% dân số và 52% lực lượng laođộng Tuy nhiên, sự mất bình đẳng nam - nữ trên thế giới nói chung và ở ViệtNam nói riêng trong nhiều lĩnh vực vẫn đang là thực tế
Ở nước ta hiện nay, tuy đã bước vào một thời đại mới, bước vào một kỷnguyên mới, nhưng hiện tượng phụ nữ bị đánh đập, bị lạm dụng… vẫn đangdiễn ra khá phổ biến Vấn đề bất bình đẳng giới cũng như vấn đề giải phóngphụ nữ được nhà nước ta, các ban ngành và toàn xã hội quan tâm sâu sắc
Đây không phải là một vấn đề còn mới mẻ, nhưng cũng không phải làvấn đề cũ kỹ và có lẽ sẽ không bao giờ là một vấn đề bị coi là “lỗi thời” Khichọn đề tài này người viết muốn đi sâu vào nghiên cứu nguyên nhân dẫn đếntình trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, và chỉ xin đưa ra một sốgiải pháp nhằm hạn chế tình trạng này
2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Hiện nay, có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu về vấn đềnày, mặt khác như chúng ta cũng nhận thấy, trên các phương tiện thông tinđại chúng như đài, báo, truyền hình… luôn đăng tải các nghiên cứu, các cuộckhảo sát cũng như nhiều thông tin về vấn đề bất bình đẳng giới Các nghiên
Trang 3cũng như đưa ra được những kiến nghị, giải pháp nhằm dần dần xoá bỏ hiệntượng này trong xã hội Việt Nam.
Song, trong các nghiên cứu trước đây các tác giả chưa đi sâu vào nhữngnguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới, đặcbiệt trong đó có nguyên nhân chủ quan của bản thân người phụ nữ Vì vậytrong đề tài này người viết xin đi sâu vào nghiên cứu những nguyên nhân củahiện tượng bất bình đẳng giới trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Người viết muốn làm rõ khái niệm bình đẳng giới, bất bình đẳng giới,
từ đó đi sâu làm rõ những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới
ở nước ta hiện nay, góc độ nhận thức của nhà báo những nhà làm truyềnthông về vấn đề này nhằm đưa ra những giải pháp góp phần làm giảm tìnhtrạng này ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có sử dụng một số phương pháp như: phương pháp điều tra xãhội học, bằng phương pháp phỏng vấn sâu
5 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu tình trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam trong giớitruyền thông, những người tạo dựng và tuyên truyền thông điệp về vấn đềbình đẳng giới trong cả nước
6 Kết cấu nội dung của đề tài
Nội dung của đề tài dự kiến gồm 2 phần:
Chương 1: Hiện tượng bất bình đẳng giới trong đời sống xã hội ViệtNam hiện nay
Chương 2: Nội dung cụ thể của việc nghiên cứu
Trang 4II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM.
1 Một số khái niệm:
Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò, hành vi ứng xử xã hội và những kỳvọng liên quan đến nam và nữ Nó được coi là phạm trù xã hội có vai tròquyết định đến cơ hội cuộc sống của con người, xác định vai trò của họ trong
xã hội và trong nền kinh tế Giới chỉ khác biệt về xã hội quan hệ về quyền lựcgiữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới được hình thành vàkhác nhau trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thờigian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vui chơi, tráchnhiệm, nhu cầu, khó khăn và thuận lợi của các giới tính
Theo quy định tại Khoản 3 và khoản 6 Điều 5 của Luật bình đẳng giớithì : Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạođiều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộngđồng, của gia đình và hưởng thụ như nhau về thành quả của sự phát triển củacộng đồng về thành quả của phát triển đó Bình đẳng giới đề cập đến sự bìnhđẳng về quyền, trách nhiệm và cơ hội của nam giới và nữ giới, trẻ em gái vàtrẻ em trai Theo Luật Bình đẳng giới, thì mọi người dù nam giới hay phụ nữ,với tư cách là các cá nhân đều có quyền bình đẳng và cần được tạo cơ hội đểphát huy tiềm năng sẵn có của mình cũng như có quyền thụ hưởng bình đẳngtrong quá trình phát triển chung như:
Tiếp tục và sử dụng các nguồn lực (tài chính, đất đai, thời gian, cơhội…)
Tham gia giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc sử dụngnguồn lực
Tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
Trang 5Bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điềukiện và cơ hội bất lợi chon am, nữ trong công việc thực hiện quyền con ngườiđóng góp và hưởng thụ từ sự phát triển cảu gia đình, của đất nước.
2 Bất bình đẳng và các thước đo bất bình đẳng giới.
Bất bình đẳng giới được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và được
đo bằng các tiêu chí khác nhau Trong báo cáo phát triển con người củachương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đã đưa ra 2 chỉ số:
- Chỉ số phát triển giới (GDI) Chỉ số này phản ánh những thành tựutrong các khía cạnh tương tự như HDI (Tuổi thọ bình quân, giáo dục, thunhập…) nhưng lại điều chỉnh các kết quả đó theo bất bình đẳng giới Trongmỗi nước, nếu giá trị của GDI càng gần với HDI thì sự khác biệt theo giớitính càng ít (trường hợp của Na Uy và Singapore) Nếu thứ hạng GDI thấphơn thứ hạng HDI cho thấy sự phân phối không bình đẳng và phát triển conngười giữa nam và nữ (Lucxambua và Ai Cập Xê út) Ngược lại, nếu thứhạng GDI là cao hơn, cho thấy sự phân phối bình đẳng hơn về phát triển conngười giữa nam và nữ
Bảng so sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI một số nước chọn lọc năm 1999.
Trang 6- Thước đo vị thế giới (GEM) Thước đo này tập trung xem xét cơ hộicủa phu nữ chứ không phải là khả năng (năng lực) của họ Nó chỉ ra sự bấtbình đẳng giới trên 3 khía cạnh:
+ Tham gia hoạt động chính trị và có quyền quyết định- được đo bằng
tỷ lệ có ghế trong quốc hội cảu phụ nữ và nam giới
+ Tham gia hoạt động kinh tế và có quyền quyết định- được đo bằng tỷ
lệ các vị trí lãnh đạo, quản lý do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm và tỷ lệ các
vị trí trong ngành kỹ thuật, chuyên gia do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm
+ Quyền đối với các nguồn kinh tế- đo bằng thu nhập ước tính của phụ
nữ và nam giới (PPU- USD)
Các nghiên cứu của UNDP về GDI và GEM của các nước đã chỉ rarằng:
- Sự bình đẳng về giới cao hơn trong phát triển con người không phụthuộc vào mức thu nhập hoặc giai đoạn phát triển
- Thu nhập cao không phải là điều kiện tiên quyết để tạo ra các cơ hộicho phụ nữ
- Trong những thập niên qua, tuy đã có những tiến bộ vượt bậc về sựbất bình đẳng giới nhưng sự phân biệt giới vẫn còn phổ biến trong mọi mặtcủa cuộc sống và ở các nước trên thế giới
Vì vậy bình đẳng giới được coi là trung tâm của phát triển, là mục tiêucủa sự phát triển, đồng thời là một yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởngcảu quốc gia và xóa đói giảm nghèo
Bằng chứng thực tế cho thấy, phát triển kinh tế thế giới và sự phát triểncủa các nước đang phát triển đang mở ra nhiều hướng đi để nâng cao sự bìnhđẳng giới trong dài hạn Tuy nhiên, nếu chỉ sự tăng trưởng thì sẽ không tạo rađược kết quả mong muốn mà còn cần có một môi trường thể chế để mang lạiquyền hạn và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và nam giới, cần có những giảipháp chính sách phát triển liên quan đến bất bình đẳng giới
Trang 7I Thực trạng bình đẳng giới trong những năm qua.
Bình đẳng giới là lĩnh vực rộng và có liên quan đến nhiều ngành Đểtìm hiểu hết thực trạng của bất bình đẳng giới là một điều hết sức khó khănnhưng nhìn sâu trong một số lĩnh vực thì chúng ta cũng có thể hiểu thực trạngcủa bất bình đẳng giới đang tồn tại trong xã hội Việt Nam như thế nào Sauđây tìm hiểu về thực trạng bất bình đẳng giới một số ngành
1 Tỉ số giới tính khi sinh (SRB).
Tỷ lệ giới tính khi sinh được đo bằng số trẻ sơ sinh trai trên một trămtrẻ sơ sinh gái được sinh ra Tỉ lệ này được xem là bình thường khi có 105 đến
108 bé trai được sinh ra so với 100 bé gái, bởi vì tỷ lệ chết ở trẻ trai thườngcao hơn trẻ gái một chút do vậy khi đến tuổi trưởng thành số nam và nữ sẽcân bằng nhau Tỷ số sinh khi sinh có thể coi là một trong các chỉ số để đo vịthế của người phụ nữ ở khía cạnh bất bình đẳng giới, tỷ số này cũng càng rõràng nhận thấy đây là hậu quả của tư tưởng thích con trai hơn con gái và pháthai có sự lựa chọn giới tính Bất kỳ một sự thay đổi đáng kể nào của tỷ suấtnày chênh lệch khỏi mức sinh học bình thường điều này phản ánh những canthiệp có chủ định ở mức độ khác nhau đến mất cân bằng tự nhiên
Việt Nam tỷ số giới tính khi sinh tăng rất nhanh trong những năm quađược thể hiện như sau:
Bảng 2: Bảng số liệu : SRB ở Việt Nam trong những năm qua
(2005- 2009).
điều tra
SRB
2005 Điều tra dân số hàng năm 1/4/2005 106.0
2006 Điều tra dân số hàng năm 1/4/2006 110.0
2007 Điều tra dân số hàng năm 1/4/2007 111.6
2008 Điều tra dân số hàng năm 1/4/2008 112.1
2009 Điều tra dân số hàng năm 1/4/2009 110.5
2 Bất bình đẳng giới trong chính trị:
Trang 8Ngày nay người phụ nữ không chỉ lo việc bếp núc mà phải đi ra ngoàilàm việc, cuộc sống năng cao thì cả chồng cả vợ mới có thể đủ khả năngchăm sóc gia đình và nuôi nấng con cái Tại công sở, người phụ nữ nếu màđược những chức vụ cao, những chức vụ khá quan trọng, thì vấn đề giới tựnhiên bị đặt ra như một rào chắn, hay một vấn đề mà người phụ nữ đó phảiphấn đấu để vượt qua Để khẳng định được mình trong vị trí lãnh đạo và quản
lý thì thứ nhất bản thân những phụ nữ đó phải có năng lực, phải có trình độ,được đồng nghiệp tín nhiệm Thực tế hiện nay nhiều phụ nữ có năng lực vàtrình độ Nam giới họ cũng khẳng định về năng lực và trình độ đó Tuy nhiên
do quan niệm cho rằng phụ nữ lãnh đạo thì hiệu quả sẽ không cao bằng namgiới, nên tỷ lệ phụ nữ cso chức vụ cao vẫn còn hạn chế được thể hiện dưới cácbảng số liệu sau đây
Bảng 3: Tỷ lệ phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp.
(Nguồn : Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam , 2004).
Bảng 4: Tỷ lệ chủ tịch, phó chủ tịch hội đồn nhân dân các cấp:(%)
Nhiệm kỳ 1994- 2004 Nhiệm kỳ 2004- 2011Chức danh Cấp
tỉnh
Cấphuyện
Cấpxã
Cấptỉnh
Cấphuyện
Cấpxã
Phó chủ
tịch
Trang 9Bảng 5: Tỷ lệ nữ cán bộ trong UBND các cấp chia theo giới tính (%).
Tỷ lệ cán bộ, công chức của nước ta còn thấp so với nam giới, hiện tỷ
lệ nữ giới trong Quốc hội Việt Nam nhiệm kỳ 12 này chiếm 25,8% với 127đại biểu Điều này phản ánh cơ hội phấn đấu trong công việc của phụ nữtahasp hơn rất nhiều so với nam giới, từ tình hình thực tế đã cho thấy sự bấtbình đẳng vẫn còn tồn tại trong hoạt động chính trị Nhưng so với các nướckhác ở khu vực Đông Á, Thái Bình Dương, Việt Nam có tỷ lệ đại biểu nữtrong Quốc hội cao nhất
3 Bất bình đẳng giới trong giáo dục:
Bất bình đẳng giới trong giáo dục làm tăng chất lượng nguồn nhân lựctrung bình của xã hội Bất bình đẳng giới trong giáo dục có ảnh hưởng tíchcực đến chất lượng nguồn nhân lực của tương lai Khi mức độ bất bình đẳngtrong giáo dục giảm đi, tức là ở mỗi cấp đào tạo, tỷ lệ nữ so với nam tăng lên
và khi trình độ nhận thức của phụ nữ trong gia đình được cải thiện, số lượng
và chất lượng đầu tư cho giáo dục đối với con cái sẽ được cải thiện trực tiếpthông qua sự dạy dỗ cảu người mẹ cũng như khả năng thuyết phục hoặcquyền của người mẹ trong việc đầu tư nhiều cho giáo dục đối với con cái.Ngoài ra trình độ của người mẹ cao hơn, đóng vai trò quyết định trong việcchăm sóc và dinh dưỡng đối với con cái Về lâu dài, các tác động này sẽ làmcho chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện và năng suất lao động trungbình của toàn xã hội sẽ nâng lên
Trang 10Tại Việt Nam Phụ nữ và trẻ em gái được tạo điều kiện bình đẳng vớinam giới trong nâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn Ngân sách nhànước chi cho giáo dục không ngừng tăng lên: Năm 2002 chiếm 16,7%, đến
2008 lên 20% so với tổng ngân sách Mức chi cho giáo dục của Việt Nam caongang bằng với một sô nước phát triển Kết quả của những ưu tiên này đã thuhẹp khoảng cách giới và việc đầu tư vào con người đã góp phần làm cho ViệtNam đạt được chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới(GDI) khá cao Tỷ lệ phụ nữ so với nam giới trong số người biết chữ tăng lênđáng kể Chênh lệch về tỷ lệ học sinh nam- nữ trong tất cả các cấp bậc họcđược thu hẹp Về cơ bản Việt Nam có thể đạt được mục tiêu xóa bỏ cách biệtgiới ở các cấp học trước 2015 Có bốn loại hình giáo dục không chính quy,chủ yếu dành cho người lớn, trong đó có phụ nữ Các chương trình này đã tạonhiều cơ hội học tập đối với phụ nữ hơn rất nhiều so với trước Nhận thứcđược thực trạng và tầm quan trọng của người phụ nữ, đặc biệt là vai trò giáodục đối với xã hội, ngành Giáo dục & Đào tạo đã thực hiện tương đối tốt vềvấn đề bình đẳng giới Thứ trưởng Bộ Giao dục & Đào tạo Đặng Huỳnh Mai
đã khẳng định vai trò lớn của giới nữ : “ Chiếm hơn 70% đội ngũ toàn ngành,giới nữ đóng vai trò đáng kể vào sự phát triển của sự nghiệp Giáo dục & Đàotạo nước nhà” Nhiều học sinh , sinh viên nữ tự khẳng định vai trò của giớimình bằng cách tích cực hcoj tập và rèn luyện, đạt kết quả xuất sắc Trong kỳthi tuyển sinh vào ĐH, CĐ nhiều thủ khoa là nữ Còn trong kỳ thi tốt nghiệp,nhiều sinh viên nữ nhận bằng cử nhân với thành tích xuất sắc Ở bậc ĐH, CĐ
tỷ lệ sinh viên nữ đang có xu hướng tăng dần qua các năm và được thể hiện
cụ thể qua bảng số liệu dưới đây;
Trang 11Bảng 6: Tỷ lệ học sinh, sinh viên nữ trong các trường ĐH, CĐ (%).
(Nguồn: Bộ Giáo dục & Đào tạo)
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc thực hiện bình đẳng giớitrong lĩnh vực giáo dục- đào tạo cũng có những mặt hạn chế như: việc tiếpcận với giáo dục của trẻ em gái và phụ nữ dân tộc thiểu số ở các vùng sâu,vùng xa còn nhiều khó khăn và trở ngại hơn so với các em trai và nam giới, vìphụ nữ ở những gia đình nghèo và những dân tộc thiểu số ít được đi học,thường phải bắt đầu làm việc từ khi còn nhỏ tuổi
Có thể nói rằng bình đẳng giới trong giáo dục có tầm quan trọng to lớnđối với sự phát triển của đất nước Vì vậy, có một nhà giáo dục đã viết rằng:Giáo dục là một người đàn ông, ta được một gia đình, giáo dục một người phụ
nữ ta được cả thế hệ Lợi ích trăm năm trồng người chính là xuất phát từ việcbình đẳng giới trong giáo dục
II Góc độ nhận thức của nhà báo về vấn đề bình đẳng giới.
1 Nhận thức chung về vấn đề bình đẳng giới.
Việt Nam vấn đề bình đẳng giới là một trong những mục tiêu to lớncủa Đảng và nhà nước ta đã được khẳng định trong các văn kiện, nghị quyết ,chỉ thị của Đảng , trong hiến pháp qua các thời kỳ và đã được thể chế hóatrong hầu hết các văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp lý , tạo điều kiện và cơhội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội
Đặc biệt, ngày 29/11/2006 Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hộithông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 Thủ tướng Chính phủ đã
Trang 12ban hành chỉ thị số 10/2007/CT- TTg ngày 3/5/2007 về việc triển khai thihành Luật Bình đẳng giới ; Nghị định số :70/2008/NĐ-CP ngày 4/6/2008 quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới; Nghị định số :48/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳnggiới Trong đó quy định cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới là BộLao động thương binh xã hội
Quốc hội đã phân công Ủy ban các vấn đề xã hội của quốc hội là cơquan chịu trách nhiệm thẩm định về lồng ghép giới trong các văn bản quyphạm pháp luật
Trong những năm qua công tác bình đẳng giới ở nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu đáng ghi nhận Ở tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội đã có sự tham gia của cả nam và nữ vào cơ quan quản lý, lãnh đạocác cấp trong bộ máy nhà nước
Tỉ lệ thất nghiệp của lao động nữ trong độ tuổi lao động ở khu vựcthành thị giảm xuống còn 5,29% Tỷ lệ nhập học và tốt nghiệp của học sinhnam và nữ trong tất cả các cấp bậc học gần như tương đương, tỉ lệ mù chữ ởnam và nữ đã giảm đáng kể Tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều chính sáchkhám chữa bệnh cho người nghèo, huy động mạnh mẽ các nguồn lực kháctrong xã hội đã góp phần đưa tØ lệ phụ nữ được tiếp cận với các dịch vụ y tếlên hơn 90% Trên 50% số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ được vay vốn từchương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo , 45% phụ nữ được vay vốn từngân hàng chính sách xã hội đã góp phần mạnh mẽ trong thành quả giảmnghèo ở Việt nam
Theo đánh giá của ngân hàng thế giới, Việt Nam là một trong nhữngnước dẫn đầu thế giới về tỉ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là quốcgia đạt được sự thay đổi đổi nhanh tróng nhất về xóa bỏ khoảng cách giớitrong 20 năm qua ở khu vực Đông Á(mục tiêu thứ 3 trong 8 mục tiêu thiênniên kỷ)
Trang 13Tuy nhiên với nhiều nguyên nhân khác nhau, công tác bình đẳng giớivẫn còn những hạn chế bất cập: nguyên tắc bình đẳng giới chưa được cụ thểhóa toàn diện và triệt để trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, một
số quy định được ban hành nhưng thiếu chế tài, biện pháp , nguồn lực và cơchế đủ mạnh để bảo đảm thực hiện Chênh lệch về tỉ lệ nam nữ tham gia quản
lý, lãnh đạo ở các cấp khá cao(phụ nữ chưa bằng 1/3 nam giới) Tỉ lệ nữ làlao động phổ thông và công nhân chưa qua đào tạo cao hơn nam giới 1,5 lần.Lao động nữ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chỉ bằng 42% so với laođộng nam Thu nhập bình quân của lao động nữ bằng khoảng 79% lao độngnam
Việc chăm sóc sức khỏe sinh sản chưa được quan tâm đầy đủ Côngviệc gia đình vẫn được coi là công việc không được trả công và phần lớn đều
do phụ nữ đảm nhận Tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn nặng nề.Tìnhtrạng ngược đãi, bạo lực, buôn bán phụ nữ và trẻ em gái vẫn tồn tại
Thực hiện nghị quyết số 11 /NQ-TW của TW Đảng về công tác phụ nữthời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Tổng Liên đoàn LĐVN đã xây dựngchương trình hành động số 190 /CTr-TLĐ ngày 30/1/2008 Riêng năm 2007
và 2008, Ban Nữ công TLĐ, với chức năng tham mưu giúp BCH, ĐCT TLĐnhững vấn đề về giới, bình đẳng giới, công tác vì sự tiến bộ phụ nữ, thông quacác dự án do quốc tế tài trợ và chương trình hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ đã
tổ chức một số lớp tập huấn, hội thảo về giới, lồng ghép giới trong hoạt độngcông đoàn, trong tuyên truyền về chính sách, trong công tác dân số, kế hoạchhoá gia đình… thu hút hơn 1000 lượt cán bộ tham gia
Đã có sự chuyển biến quan trọng ở các lớp tập huấn, hội thảo về bìnhđẳng giới Nếu trước đây còn có quan niệm vấn đề giới, bình đẳng giới là củachị em nên hầu hết chỉ có cán bộ nữ tham dự thì nay đối tượng tham dự đã có
cả nam giới, cán bộ lãnh đạo công đoàn Một số lớp đã có cán bộ quan lý, đạidiện người sử dụng lao động tham dự Việc cử đại biểu nam giới tham dự đãgiúp cho các hội thảo về giới, bình đẳng giới thu được những thành công
Trang 14bước đầu Thông qua các hội thảo, tầm quan trọng của vấn đề thực hiện bìnhđẳng giới đã được thừa nhận.
Vấn đề giới có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động với những cấp độkhác nhau, vì vậy cần nâng cao trách nhiệm cá nhân, tổ chức trong việcnghiên cứu các kỹ năng lồng ghép vấn đề giới vào trong các chương trình, kếhoạch và hoạt động của CĐ
Mặc dù đã đạt được một số kết quả bước đầu , nhưng vẫn còn nhiềukhó khăn bất cập cho hoạt động này, thể hiện trên các vấn đề sau: Nhận thức,thái độ và hành vi mang tính định kiến giới còn tồn tại ngay trong cả cán bộcông chức Khoảng cách giữa những quy định của pháp luật nói chung vàpháp luật về bình đẳng giới nói riêng với việc thực thi trên thực tế còn tồn tạikhá lớn Thiếu thông tin, dữ liệu tách biệt giới tính và trách nhiệm thực hiệnlồng ghép giới chưa được quán xuyến đầy đủ; thiếu các hướng dẫn mang tính
kỹ thuật để hình thành kỹ năng cho việc lồng ghép giới Nhiều cán bộ vẫnlúng túng trong việc lồng ghép giới vào các lĩnh vực đang quản lý hoặc đangthực hiện triển khai bình đẳng giới có hiệu quả, cần: Đẩy mạnh và đa dạnghoá các hình thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về giới, bìnhđẳng giới Mở rộng đối tượng tuyên truyền, từ nam giới, đến nữ giới, đến cán
bộ công đoàn, cán bộ công chức, đại diện người sử dụng lao động… Tăngcường mở các lớp tập huấn về kỹ năng lồng ghép giới cho cán bộ CĐ, cán bộlãnh đạo, quản lý và đại diện người sử dụng lao động đề đưa được vấn đề giớivào trong kế hoạch đào tạo , bồi dưỡng, trong quy hoạch cán bộ, trong cácvăn bản báo cáo đánh giá, trong xây dựng, giám sát kiểm tra chính sách phápluật, trong các cuộc họp …, nâng tỉ lệ nữ trong các hoạt động, trong các cuộchọp, trong các tổ chức , bộ máy của cơ quan , đơn vị nói chung, nâng tỉ lệnam trong các hoạt động về giới nói riêng…Phối hợp với các bộ, ban, ngànhliên quan đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra giám sát việc thực hiện phápluật về bình đẳng giới và các chính sách liên quan đến lao động nữ Tranh thủ