MỞ ĐẦU 1 Lý do và tính cấp thiết của đề tài Học thuyết Mác – Lênin không chỉ là học thuyết khoa học chân chính mà còn là học thuyết mang tính nhân văn, nhân đạo cao cả Trong học thuyết lý luận của m[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do và tính cấp thiết của đề tài
Học thuyết Mác – Lênin không chỉ là học thuyết khoa học chânchính mà còn là học thuyết mang tính nhân văn, nhân đạo cao cả Trong họcthuyết lý luận của mình các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin luônlấy con người làm vị trí trung tâm, do vậy các nhà Mác xít luôn xem conngười là vấn đề cơ bản nhất của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa nhân văn tưsản và chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa Các Mác viết: “Sự thay thế xãhội tư bản với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó xuất hiện một liênhợp trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của mọi người” Để có sự tự do đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác – Lênin đã đặt ra cho xã hội loài người nhiệm vụ bức thiết phải xây dựngnhững con người “Hoàn toàn mới”, đó là những con người làm chủ tự nhiên,làm chủ xã hội, những con người được phát triển toàn diện về mọi mặt như:Trí, đức, thể, mỹ…để nhằm đáp ứng những yêu cầu của xã hội hiện đại – xãhội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội Kế thừa và pháttriển tư tưởng của Các Mác về xây dựng con người mới, xuất phát từ quanđiểm cho rằng quần chúng nhân dân là những người sáng tạo chân chính ralịch sử và cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Lênin coi vấn đề xây dựngcon người mới là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của cuộc cách mạng xãhội chủ nghĩa
Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng conngười mới, Hồ Chí Minh – Người học trò xuất sắc của các nhà Mác xít đã kếthừa và phát triển lý luận về con người và xây dựng con người mới lên mộttầm cao mới mang tính duy vật và khoa học thực sự
Sinh thời, Hồ Chí Minh đã quan tâm tới vấn đề con người Người đãnêu ra những yêu cầu, những tiêu chuẩn của con người mới phù hợp với thựctiễn đất nước Việt Nam Theo người muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước
Trang 2hết cần phải có những con người mới xã hội chủ nghĩa Tư tưởng đó củangười đã được thể hiện trong hệ thống tư tưởng về giải phóng dân tộc, giảiphóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động, tư tưởng về con người vừa làmục tiêu vừa là động lực của cách mạng cũng như thể hiện trong tư tưởng vềphát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh.
Cái vĩ đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ, Người đã đặttất cả niềm tin ở con người và khẳng định rằng: có dân là có tất cả, lấy sức ta
mà giải phóng cho ta, văn hóa soi đường cho quốc dân đi Rõ ràng, từ rất sớmNgười đã thấy vị trí quyết định của con người trong cách mạng, cách mạng xãhội chủ nghĩa cũng đồng nghĩa với cách mạng con người Do đó, ngay sau khitìm được chân lý cách mạng, Người đã đặt tất cả tâm huyết của mình vào việcxây dựng con người mới, con người chủ thể của cách mạng Từ đó, có thểnhận định sự nghiệp cách mạng ở nước ta có được những thành tựu vĩ đại nhưngày hôm nay là nhờ có được sự quan tâm đúng mực đến việc xây dựng conngười mới xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Xuất phát từ những lý do trên và đồng thời bản thân em hiện nay làsinh viên đang theo học hệ cử nhân chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa họcthì việc nghiên cứu về lí luận xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là phùhợp với ngành học và cần thiết cho việc bổ sung, củng cố thêm kiến thức của
mình Chính vì thế, em chọn đề tài: “Tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người mới xã hội chủ nghĩa trong các tác phẩm: “Cần kiệm liêm chính”,
“Thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, chống bệnh quan liêu”; “Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội” Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tư tưởng đó trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài tiểu
luận của mình
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Lý luận về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa của tư tưởng HồChí Minh đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, thể hiện trong nhiều côngtrình nghiên cứu, trong nhiều tài liệu khác nhau cụ thể như:
Trang 3- Giá trị di sản tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần xây dựng con ngườimới Việt Nam – Nguyễn Văn Dương sưu tầm và biên soạn – Nxb Văn hóathông tin (2010)
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội – Nxbchính trị quốc gia (1996)
- Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa – LêDuẩn – Nxb Văn hóa (1977)
- Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá: nghiên cứu xã hội học – PGS TS Phạm Minh Hạc – Nxb Chính trịquốc gia (1996)
- Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kì công nghiệp hoá,hiện đại hoá – PGS TS Phạm Minh Hạc – Nxb Chính trị quốc gia (2003)
- Mười năm xây dựng văn hóa mới, con người mới tại miền Nam (1975– 1985) – Nxb Văn hóa (1985)
Trong các tài liệu này, việc nghiên cứu nội dung xây dựng con ngườimới xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu hướng vào việctrình bày lí luận chung về con người, con người xã hội chủ nghĩa sau đó đisâu nghiên cứu về nội dung xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa trong
ba tác phẩm kinh điển của Hồ Chí Minh bao gồm: “ Cần kiệm liêm chính”;
“Thực hành tiết kiệm chống tham ô lãng phí, chống bệnh quan liêu”; “Xâydựng những con người của chủ nghĩa xã hội” Việc làm này là cần thiết và có
ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phương hướng xây dựng và phát huynhân tố con người, từ đó đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị, phát huy dânchủ ở Việt Nam hiện nay Trong đề tài tiểu luận đã chọn, em tập trung phântích những luận điểm về con người mới xã hội chủ nghĩa trong ba tác phẩmkinh điển của Hồ Chí Minh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu ba tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh tác giả nhằmlàm rõ những nội dung về con người mới xã hội chủ nghĩa và khẳng định ý
Trang 4nghĩa lý luận của nó đối với nội dung phương hướng xây dựng và phát huynhân tố con người trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Namhiện nay.
Để đảm bảo cho mục đích của đề tài tiểu luận được thực hiện, nội dungtiểu luận có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Cơ sở lí luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người xãhội chủ nghĩa bao gồm những quan điểm trước Mác và quan điểm của chủnghĩa Mác – Lênin về con người
- Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và con người mới xãhội chủ nghĩa trong từng tác phẩm
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng con người xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam hiện nay
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Lý luận về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là vấn đề cơ bảncủa chủ nghĩa xã hội khoa học Nội dung của nó bao hàm rất nhiều vấn đề vàđược chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trong nhiều tác phẩm và các công trình lýluận Mỗi tác phẩm, thường chỉ đi sâu một hoặc một số vấn đề thuộc về nộidung của lý luận Vì lẽ đó, xuất phát từ yêu cầu của tiểu luận, quỹ thời gian chophép và trình độ năng lực của người viết còn có hạn chế nhất định nên bản tiểuluận chỉ đi sâu nghiên cứu nội dung lý luận chủ yếu ở những tác phẩm:
- “ Cần kiệm liêm chính” ( Hồ Chí Minh toàn tập, tập5)
- “ Thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, chống bệnh quan liêu”( Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6)
- “ Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội” (Hồ Chí Minhtoàn tập, tập 10)
5 Phương pháp nghiên cứu
- Để đảm bảo cho nội dung đề tài được thể hiện đầy đủ và đảm bảo tính
khoa học, những phương pháp được sử dụng để thực hiện đề tài bao gồm cácphương pháp sau đây:
Trang 5- Về phương pháp luận, đề tài quán triệt sử dụng phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích nộidung xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minhtrong ba tác phẩm kinh điển.
- Phương pháp cụ thể để thực hiện đề tài là: Phân tích - tổng hợp, sosánh, lịch sử và một số phương pháp khác
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luậnkết cấu gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 6Chương 1: Cơ sở lí luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người xã hội chủ nghĩa
1.1 Quan niệm của các nhà triết học trước Mác về con người
Có thể nói vấn đề con người là một trong những vấn đề quan trọngnhất của thế giới từ trước tới nay Đó là vấn đề mà luôn được các nhà khoahọc, các nhà nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc nhất Không những thếtrong nhiều đề tài khoa học của xã hội xưa và nay thì đề tài con người là mộttrung tâm được các nhà nghiên cứu cổ đại đặc biệt chú ý Các lĩnh vực tâm lýhọc, sinh học, y học, triết học, xã hội học.v.v Từ rất sớm trong lịch sử đãquan tâm đến con người và không ngừng nghiên cứu về nó Mỗi lĩnh vựcnghiên cứu đó đều có ý nghĩa riêng đối vưói sự hiểu biết và làm lợi cho conngười
Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnh vực triết học lại có nhiều mâuthuẫn trong quan điểm, nhận thức và nó đã gây nên sự đấu tranh không biếtkhi nào dừng Những lập trường chính trị trình độ nhận thức và tâm lý củanhững người nghiên cứu khác nhau và do đó đã đưa ra những tư tưởng hướnggiải quyết khác nhau
Khi đề cập tới vấn đề con người các nhà triết học để tự hỏi: Thực chấtcon người là gì và để tìm cách trả lời câu hỏi đó phải giải quyết hàng loạt mâuthuẫn trong chính con người Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi conngười là một tiểu vũ trụ, là một thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bảnchất con người là bản chất vũ trụ Con người là vật cao quý nhất trong trờiđất, là chúa tể của muôn loài Chỉ đứng sau thần linh Con người được chialàm hai phần là phần xác và phần hồn Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo thì chorằng: Phần hồn là do thượng đế sinh ra; quy định, chi phối mọi hoạt động củaphần xác, linh hoòn con người tồn tại mãi mãi Chủ nghĩa duy vật thì ngượclại họ cho rằng phần xác quyết định và chi phối phần hồn, không có linh hồn
Trang 7nào là bất tử cả, và quá trình nhận thức đó không ngừng được phát hiện Càngngày các nhà triết học tìm ra được bản chất của con người và không ngừngkhắc phục lý luận trước đó.
Triết học thế kỷ XV - XVIII phát triển quan điểm triết học về con ngườitrên cơ sở khoa học tự nhiên đã khắc phục và bắt đầu phát triển Chủ nghĩaduy vật máy móc coi con người như một bộ máy vận động theo một quy luật
cổ Học chủ nghĩa duy tâm chủ quan và thuyết không thể biết một mặt coi cáitôi và cảm giác của cái tôi là trung tâm sáng tạo ra cái không tôi, mặt khả chorằng cái tôi không có khả năng vượt quá cảm giác của mình nên về bản chất lànhỏ bé yếu ớt, phụ thuộc đấng tới cao Các nhà triết học thuộc một mặt đề caovai trò sáng tạo của lý tính người, mặt khác coi con người, mặt khác coi conngười là sản phẩm của tự nhiên và hoàn cảnh
Các nhà triết học cổ điển đức, từ Cartơ đến Heghen đã phát triểnquan điểm triêt học về con người theo hướng của chủ nghĩa duy tâm Đặc biệtHeghen quan niệm con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối là con người ýthức và do đó đời sống con người chỉ được xem xét vè mặt tinh thần SongHeghen cũng là người đầu tiên thông qua việc xem xét cơ chế hoạt động củađời sống tinh thần mà phát hiện ra quy luật về sự phát triển của đời sống tinhthần cá nhân Đồng thời Heghen cũng đã nghiên cứu bản chất quá trình tư duykhái quát các quy luật cơ bản của quá trình đó
Sau khi đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy tâm Heghen, Phơ bách đã phêphán tính siêu tự nhiên, phi thể xác trong quan niệm triết học Heghen, ôngquan niệm con người là sản phẩm của tự nhiên, có bản năng tự nhiên, là conngười sinh học trực quan, phụ thuộc vào hoàn cảnh, ông đã sử dụng thành tựucủa khoa học tự nhiên để chứng minh mối liên hệ không thể chia cắt của tưduy với những quá trình vật chất diễn ra trong cơ thể con người, song khi giảithích con người trong mối liên hệ cộng đồng thì phơ bách lại rơi vào lậptrường của chủ nghĩa duy tâm
Trang 8Tóm lại: Các quan niệm triết học nói trên đã đi đến những các thức lýluận xem xét người một cách trừu tượng Đó là kết quả của việc tuyệt đối hoáphần hồn thành con người trừu tượng Tự ý thức còn chủ nghĩa duy vật trựcquan thì tuyệt đối hoá phần xác thành con người trừu tượng Sinh học, tuynhiên họ vẫn còn nhiều hạn chế, các quan niệm nói trên đều chưa chú ý đầy
đủ đến bản chất con người
1.2 Quan niệm về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin
1.2.1 Nguồn gốc và bản chất con người
Chủ nghĩa xã hội do con người và vì con người, do vậy hình thànhmới quan hệ đúng đắn về con người về vai trò của con người trong sự pháttriển xã hội nói chung, trong xã hội chủ nghĩa nói riêng là một vấn đề khôngthể thiếu được của thế giới quan Mác - Lênin
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con người là khái niệm chỉ những cá thểngười như một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hộicủa nó Con người là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giớisinh vật Do vậy nhiều quy luật sinh vật học cùng tồn tại và tác động đến conngười Để tồn tại với tư cách là một con người trước hết con người cũng phải
ăn, phải uống Điều đó giải thích vì sao Mác cho rằng co người trước hếtphải ăn, mặc ở rồi mới làm chính trị
Nhưng chỉ dừng lại ở một số thuộc tỉnh sinh học của con người thìkhông thể giải thích được bản chất của con người Không chỉ có “con người làtổng hoà các quan hệ xã hội” mà thực ra quan điểm của Mác là một quanđiểm toàn diện
C Mác và Ph Ăng - ghen nhiều lần khẳng định lại quan điểm củanhững nhà triết học đi trước rằng Con người là một bộ phận của giới tựnhiên, là một động vật xã hội, nhưng khác với họ, C Mác và Ph Ăng - ghen;xem xét mặt tự nhiên của con người, như ăn, ngủ, đi lại, yêu thích Khôngcòn hoàn mang tính tự nhiên như ở con vật mà đã được xã hội hoá Mác viết:
“Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân
Trang 9riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hoà củanhững mối quan hệ xã hội” con người là sự kết hợp giữa mặt tự nhiên và mặt
xã hội nên Mác nhiều lần đã so sánh con người với con vật, so sánh con ngườivới những con vật có bản năng gần giống với con người Và để tìm ra sựkhác biệt đó Mác đã chỉ ra sự khác biệt ở nhiều chỗ như chỉ có con người làm
ra tư liệu sinh hoạt của mình, con người biến đổi tự nhiên theo quy luật của tựnhiên, con người là thước đo của vạn vật, con người sản xuất ra công cụ sảnxuất Luận điểm xem con người là sinh vật biết chế tạo ra công cụ sản xuấtđược xem là luận điểm tiêu biểu của chủ nghĩa Mác về con người
Luận điểm của Mác coi “Bản chất của con người là tổng hoà các quan
hệ xã hội” Mác hoàn toàn không có ý phủ nhận vai trò của các yếu tố và đặcđiểm sinh học của con người, ông chỉ đối lập luận điểm coi con người đơnthuần như một phần của giới tự nhiên còn bỏ qua, không nói gì đến mặt xãhội của con người Khi xác định bản chất của con người trước hết Mác nêubật cái chung, cái không thể thiếu và có tính chất quyết định làm cho conngười trở thành một con người Sau, thì khi nói đến “Sự định hướng hợp lý vềmặt sinh học” Lênin cũng chỉ bác bỏ các yếu tố xã hội thường xuyên tác động
và ảnh hưởng to lớn đối với bản chất và sự phát triển của con người ChínhLênin cũng đã không tán thành quan điểm cho rằng mọ người đều ngang nhau
về mặt sinh học Ông viết “thực hiện một sự bình đẳng về sức lực và tài năngcon người thì đó là một điều ngu xuẩn Nói tới bình đẳng thì đó luôn luôn là
sự bình đẳng xã hội, bình đẳng về địa vị chỉ không phải là sự bình đẳng về thểlực và trí lực của cá nhân”
Để khẳng định cho tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài người
là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, Mác đã nói tới việclấy sự phát triển toàn diện của con người làm thước đo chung cho sự pháttriển xã hội, Mác cho rằng xu hướng chung của tiến trình phát triển lịch sửđược quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội bao gồm conngười và những công cụ lao động do con người tạo ra, sự phát triển của lực
Trang 10lượng sản xuất xã hội, tự nó đã nói lên trình độ phát triển của xã hội qua việccon người đã chiếm lĩnh xã hội và sử dụng ngày càng nhiều lực lượng tựnhiên với tư cách là cơ sở vật chất cho hoạt động sống của chính con người vàquyết định quan hệ giữa người với người trong sản xuất Sản xuất ngày càngphát triển tính chất xã hội hoá ngày cnàg tăng Việc tiến hành sản xuất tập thểbằng lực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do nómang lại sẽ cần đến những con người hoàn toàn mới Những con người cónăng lực phát triển toàn diện và đến lượt nó, nền sản xuất sẽ tạo nên nhữngcon người mới, sẽ làm nên những thành viên trong xã hội có khả năng sửdụng một cách toàn diện năng lực phát triển của mình theo Mác "phát triểnsản xuất vì sự phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi thànhviên trong cộng đồng xã hội và phát triển con người toàn diện là một quá trìnhthống nhất để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội" để sản xuất ra những conngười phát triển toàn diện hơn nữa, Mác coi sự kết hợ chặt chẽ giữa phát triểnsản xuất và phát triển con người là một trong những biện pháp mạnh mẽ đểcải biến xã hội.
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất làyếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của
xã hội mà hơn nữa, con người còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quátrình lịch sử Thông qua hoạt động sản xuất vật chật con người sáng tạo ralịch sử của mình, lịch sử của xã hội loài ngoài Từ đó quan niệm đó Máckhẳng định sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội có ý nghĩa là sự pháttriển phong phú bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân Bởi vậytheo Mác ý nghĩa lịch sử mục đích cao cả của sự phát triển xã hội là phát triểncon người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá con người, giải phóngcon người, loại trừ ra khỏi cuộc sống con người để con người được sống vớicuộc sống đích thực Và bước quan trọng nhất trên con đường đó là giảiphóng con người về mặt xã hội
Trang 11Điều đó cho thấy trong quan niệm của Mác thực chất của tiến trìnhphát triển lịch sử xã hội loài người là vì con người, vì cuộc sống ngày cnàg tốtđẹp hơn cho con người, phát triển con người toàn diện và giải phóng conngười, nói theo Ăng-ghen là đưa con người từ vương quốc của tất yếu sangvương quốc của tự do, con người cuối cùng cũng là người tôn tại của xã hộicủa chính mình, đồng thời cũng trở thành người chủ của tự nhiên, người chủbản thân mình Đó là quá trình mà nhân loại đã tự tạo ra cho mình những điềukiện, những khả năng cho chính mình nhằm đem lại sự phát triển toàn diện, tự
do và hài hoà cho mỗi con người trong cộng đồng nhân loại tạo cho con ngườinăng lực làm chủ tiến trình lịch sử của chính mình
Quan niệm của Mác về định hướng phát triển xã hội lấy sự phát triểncủa con người làm thước đo chung càng được khẳng định trong bối cảnh lịch
sử của xã hội loài người Ngày nay loài người đang sống trong bối cảnh quốc
tế đầy những biến động, cộng đồng thế giới đang thể hiện hết sức rõ ràng tính
đa dạng trong các hình thức phát triển của nó xã hội loài người kể từ thời tiền
sử cho đến nay bao giờ cũng là một hệ thống thống nhất tuy nhiên cũng làmột hệ thống hết sức phức tạp và chính vì sự phức tạp đó đã tạo nên tínhkhông đồng đều trong sự phát triển kinh tế xã hội ở các nước, các khu vựckhác nhau Đến lượt mình, tính không đồng đều của sự phát triển này lại hìnhthành nên một bức tranh nhiều màu sắc về định hướng nào, thì mọi địnhhướng phát triển vẫn phải hướng tới giá trị nhân văn của nó - tới sự phát triểncon người
Xã hội bao giờ cũng tồn tại nhiều giai cấp đó điều quan trọng là giaicấp đó có phục tùng được lòng dân hay không Trải qua thời kỳ phát triển của
xã hội loại người chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp đáp ứng đầy đủ mọi quyluật của cuộc sống và đó chính là lý do tại sao mác lại lấy giai cấp vô sản đểnghiên cứu trong đó Mác tập trung nghiên cứu con người vô sản là chủ yếu Theo Mác, người vô sản là ngừơi sản xuất ra của cải vật chất cho xãhội hiện đại, nhưng lao động của họ lại bị tha hoá, lao động từ chỗ gắn bó với
Trang 12họ nay trở nên xa lạ nghiêm trọng hơn nữa chính nó đã thống trị họ, tình trạngbất hợp lý này cần phải được giải quyết Với Mác, người vô sản là người tiêubiểu cho phương thức sản xuất mới, có sứ mệnh và hoàn toàn có khả nănggiải phóng mình, giải phóng xã hội để xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn TheoMác "đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, con người không còn thất nghiệp, khôngcòn bị ràng buộc vào một nghề nghiệp nhất định họ có thể làm bất kỳ mộtnghề nào nếu có khả năng và thích thú, họ có quyền làm theo năng lực, hướngtheo nhu cầu tuy nhiên những ý muốn đó không xảy ra bởi vì cách mạng cộngsản chủ nghĩa không diễn ra theo ý của họ Nó không diễn ra đồng loạt trentất cả các nước tư bản, ít ra là ở các nước tư bản tiên tiến, trái lại nó lại diễn ra
ở những nước xã hội chủ nghĩa tiêu biểu là nước Nga (Liên Xô cũ)… Mộtnước công nghiệp chưa phát triển, nông dân chiếm số đông trong dân số Vìvậy quan niệm của ông về con người khó có điều kiện được chứng minh.1.2.2 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Con người đã bỏ xa giới động vật trong quá trình tiến hoá nhưngnhư thế không có nghĩa là con người đã lột bỏ tất cả những cái tự nhiên đểkhông còn một sự liên hệ nào với tổ tiên của mình Con người là sản phẩm tựnhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh, đã là conngười thì phải trải qua giai đoạn sinh trưởng, tử vong, mỗi con người đều cónhu cầu ăn, mặc ở, sinh hoạt Song con người khong phải là động vật thuầntuý như các động vật khác mà xét trên khía cạnh xã hội thì con người là độngvật có tính xã hội, con người là sản phẩm của xã hội, mang bản tính xã hội.Những yếu tố xã hội là tất cả những quan hệ, những biến đổi xuất hiện do ảnhhưởng của các điều kiện xã hội khác nhau, những quy định về mặt xã hội toạnên con người Con người chỉ có thể tồn tịa được khi tiến hành lao động sảnxuất của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu mình và chính lao động sản xuất làyếu tố quyết định hình thành con người và ý thức Lao động là nguồn gốc duynhất của vật chất, vật chất quyết định tinh thần theo logic thì lao động lànguồn gốc của văn hoá vật chất và tinh thần
Trang 13Mặt khác trong lao động con người quan hệ với nhau trong lĩnh vựcsản xuất, đó là những quan hệ nền tảng để từ đó hình thành các quan hệ xã hộikhác trong các lĩnh vực đời sống và tinh thần.
Chính vì con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội cho nên conngười chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên và xã hội cùng các quy luậtbiến đổi của chúng Các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp giữa cơthể và môi trường, quy luật về quá trình trao đổi chất tác động tạo nênphương diện sinh học của con người Các quy luật tâm lý, ý thức hình thành
và hoạt động trên nền tảng sinh học của con người hình thành tư tưởng tìnhcảm khát vọng niềm tin, ý chí Các quy luật xã hội quy định mối quan hệ giữangười với người, điều chỉnh hành vi của con người Hệ thống các quy luậttrên cũng tác động lên con người, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh giữa sinhhọc cái xã hội trong con người
Với tư cách là con người xã hội, là con người hoạt động thực tiễn conngười sản xuất và của cải vật chất, tác động vào tự nhiên để cải tạo tự nhiên,con người là chủ thể cải tạo tự nhiên Như vậy con người vừa do tự nhiên sinh
ra, bị phụ thuộc vào tự nhiên vừa tác động vào tự nhiên Tình cảm thống trị tựnhiên chỉ có con người mới khắc phục được tự nhiên bằng cách tạo ra nhữngvật chất, hiện tượng không như tự nhiên bằng cách toạ ra những vật chất, hiệntượng không như tự nhiên vốn có bằng cách đó con người đã biến đổi bộ mặtcủa tự nhiên, bắt tự nhiên phải phục vụ con người Tuy nó là sản phẩm của tựnhiên Một điều chắc chắn rằng có con người chỉ có thể thống trị tự nhiên nếubiết tuân theo và nắm bắt các quy luật của chính bản thân đó Quá trình cảibiến tự nhiên, con người cũng tạo ra lịch sử cho mình Con người khôngnhững là sản phẩm của xã hội mà con người còn là chủ thể cải tạo chúng.Bằng mọi hoạt động lao động sản xuất con người sáng tạo ra toàn bộ nền vănhoá vật chất, tinh thần Bằng hoạt động cách mạng Con người đánh dấu thêmcác trang sử mới cho chính mình mặc dù tự nhiên và xã hội đều vận động theonhững quy luật khách quan song quá trình vận động của con người luôn xuất
Trang 14phát từ nhu cầu, động cơ và hứng thú, theo đuổi những mục đích nhất định và
do đó đã tìm cách hạn chế hoặc mở rộng phạm vi tác dụng cuả quy luật chophù hợp với nhu cầu và mục đích của mình Nếu không có con người với tưcách là chủ thể sinh động nhất của xã hội thì không thể có xã hội, không thể
có sự vận động của xã hội mà vượt lên tất cả chính là của cải vật chất
1.2.3 Số phận con người và sức mạnh tự giải phóng của con người
Đối lập với các quan điểm của các nhà triết học trước đó, chủ nghĩaMác – Lênin khẳng định vai trò quyết định của đông đảo quần chúng nhândân đối với sự nghiệp tự giải phóng cho mình và phát triển lịch sử Khi quầnchúng chưa giác ngộ thì quần chúng bò đi một cách chậm chạp nhưng khiquần chúng đã giác ngộ thì lịch sử phát triển thì lich sử phát triển với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm”
Trang 15Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa qua các tác phẩm “ Cần, kiệm, liêm, chính”; “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí , chống bệnh quan liêu”; “Xây dựng những con
người của chủ nghĩa xã hội”
2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và con người mới xã hội chủ nghĩa
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là một bước phát triển mới củachủ nghĩa Mác - Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giảiphóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Điều cốt lõi của tưtưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giảiphóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàngđầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng củaNgười Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàndân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhânriêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng vàphát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộccũng như xây dựng đất nước Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản ủatoàn bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh
Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại vừa tư cách cá nhân, vừa làthành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống
cá nhân hài hòa, phong phú Người đã nêu một định nghĩa về con người:
"Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng làđồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người" Quan điểm đó thể hiện ở chỗNgười chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng.Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàncảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cáchnhu cầu chính đáng Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vôcùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi
cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể
Trang 16phát huy được Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân,Người viết: "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là "giày xéo lênlợi ích cá nhân" Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sốngriêng của bản thân và của gia đình mình" Trong quan điểm về thực hiện mộtnền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một nền dân chủ chânchính, không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể phảiđược đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và phápluật. Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồntại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài ngườitrên toàn thế giới.
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạmtrù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đếnmột cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèokhổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộcViệt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa lànhững "người nô lệ mất nước" và "người cùng khổ" Lôgíc phát triển tư tưởngcủa Người là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác -Lênin, đến với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Theo lôgíc phát triển tư tưởng
ấy, khái niệm "con người" của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm "giai cấp
vô sản cách mạng". Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thốngnhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao độngkhác (đặc biệt là nông dân) Người nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ cócuộc cách mạng duy nhất và tất yếu đạt tới được mục tiêu giải phóng dân tộc,giải phóng giai cấp và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức Toàn
bộ các tư tưởng, lý luận (chiếm một khối lượng lớn trong các tác phẩm củaNgười) bàn về cách mạng (chiến lược giải pháp; bàn về người cách mạng vàđạo đức cách mạng, về hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; về rènluyện và giáo dục con người v.v ) về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thựctiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh
Trang 17Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mụctiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực củachính sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lýluận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xãhội ở nước ta.
Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xâydựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủnghĩa xã hội Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dânchủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra nhữngtiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa xã hộicần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: "Đây là cuộcchiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra nhữngcái mới mẻ, tốt tươi" Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không
"dựa vào lực lượng của toàn dân" Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh khôngbao giờ quan niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một côngthức bất biến Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội,chính trị, văn hóa khách quan Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơbản nhất Theo Người: "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hộitrước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọingười có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc"; "Chủnghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân" xâydựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sungsướng, tốt đẹp Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợpvới điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quyluật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều, rậpkhuôn máy móc Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với luận điểmcủa Ăngghen: "Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng tháicần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn
Trang 18theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏtrạng thái hiện nay" Vì vậy, không chỉ trong lý luận về đấu tranh giành độclập dân tộc mà cả trong lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội khi định ra nhữngmục tiêu của chủ nghĩa xã hội, trước hết, "cần có con người xã hội chủnghĩa", Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm về con người: conngười là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội
và giải phóng chính bản thân con người
Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người. Người yêu thươngcon người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết làngười lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước Với Hồ Chí Minh,
"lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại" là "không bao giờ thayđổi" Người có một niềm tin lớn ở sức mạnh sáng tạo của con người Lòng tinmãnh liệt và vô tận của Hồ Chí Minh vào nhân dân, vào những con ngườibình thường đã được hình thành rất sớm Từ những năm tháng Người bôn batìm đường cứu nước, thâm nhập, lăn lộn, tìm hiểu thực tế cuộc sống và tâm tưcủa những người dân lao động trong nước và nước ngoài Người đã khẳngđịnh: "Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương ẩn giấu một cái gìđang sôi sục, đang gào thét, và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến".Tin vào quần chúng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đó là một trong nhữngphẩm chất cơ bản của người cộng sản Và đây cũng chính là chỗ khác cănbản, khác về chất, giữa quan điểm của Hồ Chí Minh với quan điểm của cácnhà Nho yêu nước xưa kia (kể cả các bậc sĩ phu tiền bối gần thời với Hồ ChíMinh) về con người Nếu như quan điểm của Hồ Chí Minh: "Trong bầu trờikhông có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lựclượng đoàn kết toàn dân", thì các nhà Nho phong kiến xưa kia mặc dù cónhững tư tưởng tích cực "lấy dân làm gốc", mặc dù cũng chủ trương khoanthư sức dân", nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở chỗ coi việc dựavào dân cũng như một "kế sách", một phương tiện để thực hiện mục đích "trịnước", "bình thiên hạ" Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí Minh,
Trang 19tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có mộtquan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sứcmạnh của quần chúng nhân dân. Quan điểm tin vào dân, vào nhân tố conngười của Người thống nhất với quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin: "Quầnchúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử".
Tin dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương yêu nhân dâncủa Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống dân tộc, truyềnthống nhân ái ngàn đời của người Việt Nam Cũng như bao nhà Nho yêu nướckhác có cùng quan điểm "ái quốc là ái dân", nhưng điểm khác cơ bản trong tưtưởng "ái dân" của Người là tình thương ấy không bao giờ dừng lại ở ý thức,
tư tưởng mà đã trở thành ý chí, quyết tâm thực hiện đến cùng sự nghiệp giảiphóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại cần lao, xóa bỏ đaukhổ, áp bức bất công giành lại tự do, nhân phẩm và giá trị làm người cho conngười ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn bó không tách rời với chủnghĩa quốc tế chân chính Tình thương yêu cũng như toàn bộ tư tưởng vềnhân dân của Người không bị giới hạn trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà nótồn tại trong mối quan hệ khăng khít giữa các vấn đề dân tộc và giai cấp, quốcgia với quốc tế Yêu thương nhân dân Việt Nam, Người đồng thời yêu thươngnhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới Trong sự nghiệp lãnh đạocách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức mạnh đoàn kết toàn dân và sựđồng tình ủng hộ to lớn của bè bạn khắp năm châu, của cả nhân loại tiến bộ.Người cũng xác định sự nghiệp cách mạng của nước ta là một bộ phận khôngthể tách rời trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân loại trên phạm
vi toàn thế giới
Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của
"cái cá nhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứnggiữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương conngười, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con
Trang 20người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của
Hồ Chí Minh Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạonhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựngđất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhândân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân Tư tưởng về con ngườicủa Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người thông qua thực tiễn cáchmạng đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết địnhthắng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy
Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duyvật triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin Chính vì xuất phát từ thế giới quanduy vật triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình(với tư cách là lãnh tụ), Người không bao giờ cho mình là người giải phóngnhân dân Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ
là "đầy tớ trung thành" có sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người gópphần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng Tư tưởng này đã vượt xa vàkhác về chất so với tư tưởng "chăn dân" của những người cầm đầu nhà nướcphong kiến có tư tưởng yêu nước xưa kia Và đây, cũng chính là điều đã làmnên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn cộngsản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông
Một nước Việt Nam độc lập phải có những con người phù hợp với nó.Tinh thần ấy đã được Hồ Chí Minh nói rõ trong khi đặt vấn đề phải xây dựngnền văn hóa mới, xây dựng đời sống mới, ngay khi nước Việt Nam dân chủcộng hòa vừa mới ra đời
Vấn đề xây dựng con người mới đã được Hồ Chí Minh nêu ra trong
“Báo cáo chính trị” do Người trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần IIcủa Đảng (11 – 2 - 1951): “Xúc tiến công tác văn hóa để đào tạo con ngườimới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc”
Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nói chuyện tại lớp đàotạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I năm 1956, Người chỉ rõ: “ Mục đích giáo
Trang 21dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán
bộ mới”
Khái niệm “ con người xã hội chủ nghĩa”, “ con người mới xã hội chủnghĩa” được Bác đặt ra khi miền Bắc bước vào thời kì quá độ tiến lên chủnghĩa xã hội Năm 1961, nói chuyện với Hội nghị bồi dưỡng cán bộ lãnh đạocác cấp toàn miền Bắc nhằm quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng lần III,Người đã đi đến một luận điểm quan trọng : “Muốn xây dựng chủ nghãi xãhội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”
Đối với chúng ta luận điểm trên đây đã trở thành luận điểm kinh điểnkhi đề cập đến vấn đề xây dựng con người của chủ nghĩa xã hội Có thể hiểuluận điểm này với những nội dung chủ yếu sau đây:
- Chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra những “con người xã hội chủ nghĩa lại làchủ thể của toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Không xây dựngchủ nghĩa xã hội thì không thể nói đến việc xây dựng con người xã hội chủnghĩa, ngược lại không có những con người xã hội chủ nghĩa thì không thểxây dựng được chủ nghĩa xã hội Tinh thần ấy cũng đã được Hồ Chí Minh đềcập khi nói về vấn đề xây dựng văn hóa mới Tinh thần hoàn toàn phù hợp vớiquan điểm của Mác khi phê phán chủ nghĩa duy vật cũ cho rằng con người làsản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục nhưng “ cái học thuyết ấy quên rằngchính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân người giáo dụccũng cần phải được giáo dục” Đây chính là quan điểm biện chứng duy vật vềmối quan hệ giữa hoàn cảnh và con người
- Không phải chờ cho kinh tế, văn hóa phát triển cao rồi mới xây dựngcon người xã hội chủ nghĩa, cũng không phải xây dựng xong những co người
xã hội chủ nghĩa rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội Việc xây dựng con người
xã hội chủ nghĩa phải được đặt ngay ra từ đàu và phải được Đảng, Nhà nước,nhân dân, mỗi gia đình và cá nhân đặc biệt quan tâm trong suốt tiến trình xâydựng chủ nghĩa xã hội
Trang 22- Trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa, điều đó không cónghĩa tất cả mọi người phải và có thể trở thành con người mới xã hội chủnghĩa thật đầy đủ, thật hoàn chỉnh ngay một lúc vì như vậy là hoàn toàn ảotưởng Điều đó chỉ có nghĩa là, trước hết cần những con người tiên tiến, cóđược những nét tiêu biểu của những con người mới xã hội chủ nghãi có thểlàm gương cho người khác, từ đó lôi cuốn toàn xã hội vào việc đẩy mạnh việcxây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa “ Chúng ta cũng biết rằng trongbất cứ phong trào cách mạng nào, tiên tiến là số ít, số đông là trung gian,muốn củng cố và mở rộng phong trào, cần phải nâng cao hơn nữa trình độgiác ngộ của trung gian để kéo chậm tiến”.[579;9]Những lời chỉ dẫn trên đâycủa Người đối với việc giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho nông dântrong quá trình tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp còn có ý nghĩa đối với toàn
bộ sự nghiệp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Hồ Chí Minh đã nhiều lần nêu lên những tiêu chuẩn của con ngườimới xã hội chủ nghĩa, tập trung ở những điểm chủ yếu như:
- Có tư tưởng xã hội chủ nghĩa: có ý thức làm chủ; có tinh thần tập thể
xã hội chủ nghĩa; có tư tưởng “ mình vì mọi người, mọi người vì mình”; cótinh thần tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội; có tinhthần dám nghĩ dám làm, vươn lên hàng đầu
- Có đạo dức xã hội chủ nghĩa: trung với nước, hiếu với dân; yêu thươngcon người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; có tinh thần quốc tế trongsáng; có lối sống trong sạch lành mạnh
- Có tác phong xã hội chủ nghĩa: lao động có kế hoạch, có biện pháp, cóquyết tâm; lao động có tổ chức, có kỉ luật, có kĩ thuật; lao động có năng suất,chất lượng, hiệu quả; lao động quên mình, không sợ khó, sợ khổ vì lợi ích củabản thân, của tập thể và của xã hội
- Có năng lực để làm chủ bản thân, gia đình và công việc của chínhmình; phải có năng lực để nông dân xã viên làm chủ ruộng đồng, hợp tác xã,công nhân làm chủ công trường, xí nghiệp; công dân có thể tham gia làm chủ
Trang 23nhà nước và xã hội; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoahọc – kĩ thuật, chuyên môn nghiệp vụ để làm chủ.
Người không chỉ nêu lên những tiêu chuẩn của con người mới xã hộichủ nghĩa nói chung mà còn nêu lên những tiêu chuẩn cụ thể đối với từnggiới, từng ngành như công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ, thiếuniên, nhi đồng, công an, quân đội
Những tiêu chuẩn của con người mới xã hội chủ nghĩa được Hồ ChíMinh xác định đã xuất phát từ bản chất của chủ nghĩa xã hội, từ nhữngnguyên lí của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về việc xây dựng con người và xã hộimới, và đặc biệt là quan trọng nhất là xuất phát từ thực tiễn Việt Nam – đấtnước, xã hội, con người cùng với những yêu cầu của cuộc cách mạng xã hộichủ nghĩa được tiến hành ở nước ta
Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của
"cái cá nhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứnggiữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương conngười, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân conngười, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của
Hồ Chí Minh Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạonhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựngđất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhândân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân Tư tưởng về con ngườicủa Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người thông qua thực tiễn cáchmạng đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết địnhthắng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy
Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vậttriệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin Chính vì xuất phát từ thế giới quan duyvật triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với
tư cách là lãnh tụ), Người không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân
Trang 24dân Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là
"đầy tớ trung thành" có sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người gópphần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng Tư tưởng này đã vượt xa vàkhác về chất so với tư tưởng "chăn dân" của những người cầm đầu nhà nướcphong kiến có tư tưởng yêu nước xưa kia Và đây, cũng chính là điều đã làmnên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn cộngsản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông
2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người xã hội chủ nghĩa qua các tác phẩm của Người
2.2.1 Vấn đề xây dựng con người xã hội chủ nghĩa trong tác phẩm
“Cần, kiệm,liêm, chính”
2.2.1.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập (3-9-1945), Chủ tịch HồChí Minh chủ toạ phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ Người trìnhbày sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong
đó có vấn đề thứ tư cần phải giải quyết lúc bấy giờ là “Chế độ thực dân đãđầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủhoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô vànhững thói xấu khác Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhândân chúng ta Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộcdũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước ViệtNam độc lập” Để làm được những điều đó, Người đề nghị “mở một chiếndịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm,chính”
Cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 1949, để cổ vũ phong trào Thi đua áiquốc và xây dựng Đời sống mới, Bác viết bài “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” Vớibút danh Lê Quyết Thắng, Bác đã viết bốn bài báo đăng trên báo “Cứu quốc”:
“Thế nào là cần?” (30 – 5 - 1949); “Thế nào là kiệm?” ( 31 – 5 – 1949); “Thế
Trang 25nào là liêm?” (1 – 6 – 1949); “Thế nào là chính?” (2 – 6 – 1949) Bốn bài báosau đó được tập hợp thành tác phẩm “ Cần, kiệm, liêm, chính”.
2.2.1.2 Nội dung con người mới xã hội chủ nghĩa trong tác phẩm “ Cần kiệmliêm chính”
Hồ Chí Minh đã nói về mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhằmsản xuất ra nhiều của cải vật chất và tinh thần để nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân Đây là quan điểm nhất quán, thường xuyên chiphối mọi suy nghĩ và hành động của Người Xuất phát từ quan điểm đó, HồChí Minh luôn đề cao và phát huy mọi nỗ lực của từng người dân, của từngcán bộ, đảng viên trong việc đẩy mạnh sản xuất để xây dựng đất nước giàumạnh và nâng cao đời sống của nhân dân Người luôn nhắc nhở và giáo dụcmọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đức tính cần, kiệm, liêm,chính và phải xem đây là nền tảng của đời sống mới, nền tảng của thi đua áiquốc
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cần, kiệm, liêm, chính” là phẩm chấtđạo đức cơ bản nhất của con người mới xã hội chủ nghĩa, đồng thời là chuẩnmực cơ bản của nền đạo đức mới của dân tộc ta Nghiên cứu tư tưởng củaNgười, có thể nhận thấy, đây là những phẩm chất được Người đề cập nhiềunhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức vừa rất mới, rất cách mạng
mà lại vẫn rất quen thuộc, truyền thống
Ngay ở phần mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết những vấn đềtrên trong tương quan với các quy luật của tự nhiên và xã hội bằng 6 câu thơnhư sau:
“Trời có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đôngĐất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, BắcNgười có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, ChínhThiếu một phương thì không thành đấtThiếu một đức thì không thành người
[13;233]
Trang 26Người khẳng định bốn đức tính cần, kiệm, liêm, chính, đó là nền tảngtất yếu để tạo nên giá trị con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa Nếu thiếumột trong bốn đức tính đó thì cũng không trở thành con người hoàn hảo, conngười chủ nghĩa xã hội được Để cho cần, kiệm, liêm, chính thực sự trở thànhnền tảng đạo đức trong xã hội mới, trở thành phẩm chất của con người mới,tại phiên họp Hội đồng Chính phủ đầu tiên ngay sau khi giành độc lập, ngày03/9/1945 Hồ Chí Minh đã phát biểu "Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáodục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính"
Qua đó cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao 4 đức tính trên nhưđiều kiện cần đối với mỗi con người xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới Nếu
là người tham gia hoạt động cách mạng trực tiếp, bốn đức tính ấy lại càngphải quán triệt và hành động triệt để hơn, có hiệu quả hơn, nghiêm minhhơn.Người đã giải thích rõ từng đức tính một:
- Cần: là cần cù, siêng năng, chăm chỉ, dẻo dai; lao động sáng tạo, có kếhoạch, có năng suất cao… Trái với Cần là lười biếng: biếng học, biếnglàm, không chịu động não tư duy Việc dễ thì dành cho mình, việc khóthì tìm cách lẩn tránh, đẩy cho người khác… Cần thì việc gì, dù khókhăn đến mấy, cũng làm được Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹpnhư: tay siêng làm thì hàm siêng nhai Nó còn có nghĩa rộng là mọingười đều phải Cần, cả nước đều phải Cần. Muốn cho chữ Cần cónhiều kết quả hơn thì phải có Kế hoạch cho mọi công việc Kế hoạchlại phải đi đôi với phân công. Cần và Chuyên phải đi đôi vớinhau. Cần không phải là làm xổi. Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luônchăm chỉ, cả năm cả đời Nhưng không phải làm quá trớn Phải biếtnuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài
“Trong 20 triệu đồng bào ta, cho 10 triệu là thanh niên và thành nhân
có sức làm việc Nếu mỗi người, mỗi ngày làm thêm một tiếng đồng hồthì: Mỗi tháng sẽ thêm 300 triệu giờ Mỗi năm thêm lên 3.600 triệugiờ… Cứ tính một giờ làm đáng giá một đồng bạc, thì mỗi năm nước ta
Trang 27đã có thêm được 3.600 triệu đồng Đưa số tiền đó thêm vào khángchiến, thì kháng chiến ắt mau thắng lợi, thêm vào kiến quốc, thì kiếnquốc ắt mau thành công” [13;635]
- Kiệm: là “tiết kiệm, không xa xỉ, không lãng phí, không bừa bãi” đó làtiết kiệm thời gian, tiền của; tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái lớn… Tiếtkiệm nhưng không bủn xỉn: “Khi không nên tiêu xài thì một đồng xucũng không nên tiêu Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào,cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng.Như thế mới đúng là Kiệm” Trái với Kiệm là xa hoa, lãng phí, bừa bãilàm tốn thời gian, tiền của một cách vô ích
- Liêm nghĩa là trong sạch, là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công, của
dân, không tham địa vị, không tham tiền tài Không tham sung sướng.Không ham người tâng bốc mình Chỉ có một thứ ham là ham học, hamlàm, ham tiến bộ Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủhoá Bác đã nhắc lại một số ý kiến của các bậc hiền triết ngày trước:Khổng Tử nói: "Người mà không Liêm thì không bằng súc vật"; Mạnh
Tử cho rằng: "Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy" Do vậy, Bác yêu cầumỗi người, nhất là cán bộ lãnh đạo phải thực hiện tốt chữ Liêm ChữLiêm và chữ Kiệm phải đi đôi với nhau như chữ Kiệm phải đi đôi vớichữ Cần Có Kiệm thì mới Liêm được, bởi xa xỉ ắt sinh tham lam,không giữ được Liêm Bác cũng chỉ rõ ngược lại với chữ Liêm là tham
ô, là ăn cắp của công làm của tư, đục khoét nhân dân, tiêu ít mà khainhiều, lợi dụng của chung của nhà nước làm quỹ riêng cho địa phươngmình Tham ô là trộm cướp, là kẻ thù của nhân dân Muốn Liêm thật sựthì phải chống tham ô
- Chính: nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn Điều gì khôngđứng đắn, thẳng thắn, tức là tà Nói về chính, Bác viết: “Một người phảicần, kiệm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn Trên quả đất cóhàng muôn triệu người sống, số người ấy có thể chia thành hai hạng: Người
Trang 28thiện và người ác Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc, song, nhữngcông việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà Làm việc chính
là người thiện Làm việc tà là người ác
- Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính Nhưng một cây cần có gốc rễ,lại cần có ngành, lá, hoa, quả, mới là hoàn toàn Một người phải Cần,Kiệm, Liêm nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn
Cần, Kiệm, Liêm, Chính có mối quan hệ biện chứng, gắn bó mật thiếtvới nhau Theo Bác: “Cần và Kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân củacon người Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”… Kiệm
mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển được” “Chữ Liêm phải
đi đôi với chữ Kiệm Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần Có Kiệmmới có Liêm được Vì xa xỉ mà sinh tham lam.“Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễcủa Chính Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mớihoàn toàn. Một người có Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới làngười hoàn toàn”[13;636] Bác nhấn mạnh: Cần, Kiệm, Liêm, Chính là vôcùng quan trọng và cần thiết; là nền tảng của đời sống mới; là cái cần để làmviệc, làm người, làm cán bộ, phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổquốc và nhân loại; là thước đo văn minh tiến bộ của một dân tộc Ngườikhẳng định: Một dân tộc biết Cần, Kiệm, Liêm, Chính “là một dân tộc giàu vềvật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ” Cần, Kiệm,Liêm, Chính là đạo đức của một xã hội hưng thịnh: nếu không có nhữngphẩm chất đó thì xã hội suy vong Do đó, thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính
sẽ dẫn đến Chí công vô tư Ngược lại, Chí công vô tư, một lòng, một dạ vìdân, vì Đảng thì nhất định sẽ dễ thực hiện được Cần, Kiệm, Liêm, Chính và
có được nhiều đức tính tốt khác Kết quả: “Bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm
no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽmau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiên tiến trên thế giới”[13;638]