1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận cao học, phân tích lý luận giá trị, tiền công, lợi nhuận và địa tô của adam smith và david ricardo

38 21 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích lý luận giá trị, tiền công, lợi nhuận và địa tô của Adam Smith và David Ricardo
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị
Thể loại Tiểu luận cao học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 122,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1/ Lý do trọn đề tài (4)
  • 2/ Lịch sử nghiên cứu đề tài (4)
  • 3/ Mục đích và nhiệm vụ (5)
  • 4/ Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu (5)
  • 5/ Ý nghĩa đề tài (6)
  • 6/ Kết cấu đề tài (6)
  • CHƯƠNG I: PHÂN TÍCH LÝ LUẬN GIÁ TRỊ, TIỀN CÔNG, LỢI NHUẬN VÀ ĐỊA TÔ CỦA ADAM SMITH (1723-1790) (7)
    • 3/ Lợi nhuận (14)
  • CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH LÝ LUẬN GIÁ TRỊ, TIỀN CÔNG, LỢI NHUẬN VÀ ĐỊA TÔ CỦA DAVID RICARDO (1772-1823) (17)
    • 1/ lý luận giá trị (9)
    • 2/ Lý luận tiền công (13)
    • 4/ Địa tô (24)
  • CHƯƠNG IV: LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM (30)
    • 2/ Liên hệ thực tiến Việt Nam (30)

Nội dung

TIỂU LUẬN Môn Lịch sử các học thuyết kinh tế Đề bài Phân tích lý luận giá trị, tiền công, lợi nhuận và địa tô của Adam Smith và David Ricardo (Adam Smith,David Ricardo và T R Malthus) (Từ trái sang ph[.]

Lý do trọn đề tài

Đất nước ta đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước cùng nhiều giai đoạn phát triển, mỗi giai đoạn đều có phương thức sản xuất và hình thức sở hữu riêng biệt Các nhà kinh tế với các quan điểm và tư tưởng lý luận khác nhau đóng vai trò quan trọng trong sự thay đổi của nền kinh tế qua từng thời kỳ Hiện nay, khi nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ và quan hệ sản xuất đang tiến gần đến sự hoàn thiện, cần kế thừa và phát huy những giá trị kinh tế của các nhà kinh điển như Adam Smith, David Ricardo và Karl Marx để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Là sinh viên khoa kinh tế, chúng ta có trách nhiệm góp phần xây dựng nền kinh tế tương lai thông qua việc nắm vững các kiến thức về phát triển kinh tế như cổ phần hóa doanh nghiệp, kinh tế thị trường, cung-cầu và lợi nhuận Đặc biệt, việc hiểu rõ các lý luận về giá trị, tiền công, lợi nhuận và địa tô là yếu tố then chốt chi phối nền kinh tế và thúc đẩy sự phát triển bền vững Để làm được điều này, chúng ta cần phân tích các thành tựu và hạn chế của các học giả như Adam Smith và David Ricardo, từ đó tiếp thu những lý luận tiến bộ phù hợp để nâng cao nền kinh tế đất nước Vì lý do đó, tôi đã chọn đề tài: “Phân tích lý luận giá trị, tiền công, lợi nhuận và địa tô của Adam Smith và David Ricardo”.

Lịch sử nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu dựa trên những lý luận trong cuốn “Lịch sử các học thuyết kinh tế” của tác giả Ngô Văn Lương, cung cấp cái nhìn toàn diện về sự phát triển của các học thuyết kinh tế qua các thời kỳ Nội dung tập trung vào những học thuyết kinh tế cơ bản của kinh tế chính trị, giúp làm rõ những nguyên lý nền tảng và ảnh hưởng của chúng đến nền kinh tế hiện đại Phân tích các quan điểm kinh tế chính trị đã đóng góp vào sự hình thành và phát triển của các mô hình kinh tế ngày nay Đây là tài liệu quan trọng để hiểu sâu sắc về các trường phái kinh tế và quá trình diễn biến của các lý luận kinh tế qua thời gian.

Trong nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế, tác giả An Như Hải đã đề xuất phương pháp làm bài lịch sử các học thuyết kinh tế một cách rõ ràng và hệ thống Ngoài ra, giáo trình kinh tế chính trị của PGS.TS Ngô Văn Lương cũng là nguồn tài liệu quan trọng trong việc lý giải các khái niệm và lý luận kinh tế Các giáo trình như “Lịch sử các học thuyết kinh tế” của Nguyễn Văn Dũng và “Quản lý kinh tế” của Trần Trọng Bình đã phân tích kỹ lưỡng các vấn đề kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa, giúp làm rõ tình hình kinh tế trong từng lĩnh vực cụ thể.

Các tài liệu này tập trung nghiên cứu các vấn đề trong hoạt động kinh tế và quá trình phát triển của các học thuyết kinh tế từ khi hình thành Chúng phân tích các quy luật kinh tế cơ bản do các nhà kinh tế gia đề xuất nhằm làm rõ các hiện tượng kinh tế Ngoài ra, nghiên cứu còn đề cập đến các phương pháp luận giúp làm sáng tỏ quá trình hình thành, vận động và phát triển của các phương thức sản xuất và quan hệ kinh tế Mục tiêu chính là nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua việc hiểu rõ sự phát triển của các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu kinh tế.

Mục đích và nhiệm vụ

Để hiểu sâu hơn về các tư tưởng, quan điểm và lý luận của các học thuyết kinh tế qua các thời kỳ, cũng như đánh giá những đóng góp và hạn chế của chúng trong quá trình phát triển Đồng thời, phân tích nền kinh tế đất nước nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất, góp phần vào sự nghiệp "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh" Nhiệm vụ của nghiên cứu này là làm rõ tiến trình phát triển của các học thuyết kinh tế để nâng cao hiểu biết và ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn kinh tế đất nước.

Xuất phát từ mục đích trên đề tài có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề:

Làm rõ tư tưởng quan diểm lý luận về giá trị,tiền công, lợi nhuận và địa tô của Adam Smith và David Ricardo.

Trong thời đại ngày nay, tư tưởng ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng Tư duy đổi mới và sáng tạo thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển, nâng cao năng suất và cạnh tranh trên thị trường quốc tế Ngoài ra, tư tưởng phát triển bền vững giúp xây dựng nền kinh tế ổn định, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống Các chính sách dựa trên tư duy tiến bộ góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của tiểu luận tập trung vào các quan điểm của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh và tư tưởng của Mác-Lênin, nhằm làm rõ những nguyên lý cốt lõi trong nền kinh tế thị trường Đề tài cũng phân tích các đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước trong điều kiện nền kinh tế hiện nay để đưa ra các giải pháp phù hợp Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng bao gồm phân tích, tổng hợp, so sánh, liên hệ thực tế, đọc và ghi chép tài liệu, giúp tổng hợp những vấn đề cơ bản và phân tích sâu sắc nội dung của đề tài một cách toàn diện.

Ý nghĩa đề tài

Đề tài giúp chúng ta hiểu sâu hơn về thành tựu và hạn chế trong phân tích giá trị, tiền công, lợi nhuận và địa tô của A Smith và D Ricardo, đồng thời làm nền tảng cho sự phát triển của nghiên cứu kinh tế chính trị Mác-Lênin Qua đó, bài viết cũng nhằm cung cấp một góc nhìn chính xác về các vấn đề kinh tế của nước ta hiện nay, góp phần nâng cao nhận thức và định hướng phát triển bền vững.

Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở bài, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 4 chương:

Chương I: Phân tích lý luận giá trị, tiền công, lợi nhuận và địa tô của

Chương II: Phân tích lý luận giá trị, tiền công, lợi nhuận và đìa tô của

Chương III: Những vấn đề liên quan đến lý luận của A.Smith và

Chương IV: Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam.

PHÂN TÍCH LÝ LUẬN GIÁ TRỊ, TIỀN CÔNG, LỢI NHUẬN VÀ ĐỊA TÔ CỦA ADAM SMITH (1723-1790)

Lợi nhuận

A Smith tập trung vào việc tìm hiểu bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận, phân tích rõ quá trình lịch sử của chủ nghĩa tư bản và các quan hệ xã hội phát sinh từ nó Ông khẳng định rõ sự khác biệt giữa thu nhập tư bản và thu nhập của công nhân, cho rằng tư bản được tích lŨy qua cá nhân nhằm mục đích chiếm lấy nguyên liệu và tư liệu sinh hoạt của lao động để thu lợi nhuận Công nhân chỉ nhận được một phần giá trị do lao động tạo ra dưới dạng tiền công, phần còn lại hình thành lợi nhuận của nhà tư bản, trong đó một phần trả cho đất đai (địa tô) và vay tiền (lợi tức) A Smith đưa ra hai cách hiểu về lợi nhuận: hoặc là phần chênh lệch giữa giá trị tăng thêm và tiền công, hoặc là phần còn lại sau khi trừ đi địa tô và lợi tức, chính là lợi nhuận doanh nghiệp Tuy nhiên, ông thiếu một hiểu biết chính xác về quá trình chuyển hóa các hình thái này, đặc biệt là lý luận về giá trị thặng dư – yếu tố cốt lõi trong lý luận lợi nhuận.

A.Smith khẳng định một cách dứt khoát rằng lợi nhuận là một loại thu nhập mang tính chất bóc lột chứ không phải một dạng tiền công trả cho người lao động trông coi và quản lí xí nghiệp Quy mô của nó được quyết định bằng khối lượng hay sự nặng nhọc và phức tạp của lao động nói trên mà bởi quy mô của tư bản sử dụng thực tế.

Nghiên cứu của A Smith về lợi nhuận cho thấy xu hướng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận và sự cân bằng ngày càng rõ giữa các ngành sản xuất khác nhau Ông nhận thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa việc giảm lợi nhuận và giảm tỷ suất lợi tức, và cho rằng mức lợi nhuận và lợi tức thấp phản ánh sự phát triển kinh tế bền vững và sự thịnh vượng của quốc gia.

Trong nghiên cứu về lợi nhuận, ông đã gặp phải những hạn chế rõ rệt do không nhất quán trong việc xác định nguồn gốc giá trị và lợi nhuận Ông có hai quan điểm trái ngược: một mặt cho rằng lợi nhuận do công nhân tạo ra, mặt khác lại xem nó là kết quả của toàn bộ tư bản ứng trước, phản ánh mâu thuẫn trong tư duy phân tích Khuynh hướng san bằng tỷ suất lợi nhuận xuất phát từ quan sát thực tế, nhưng lại là sai lầm do không xác định chính xác nguồn gốc của lợi nhuận Thêm vào đó, phạm trù lợi nhuận của ông không được định nghĩa rõ ràng, không phân biệt rõ giữa hình thái chung, trừu tượng của lợi nhuận và các biểu hiện cụ thể của nó Chính sự thiếu một khái niệm khoa học về giá trị thặng dư khiến nghiên cứu lợi nhuận của ông thiếu cơ sở vững chắc và chính xác.

4/Về vấn đề địa tô

Nhiều ý kiến từ lâu nay cho rằng quan điểm về địa tô của A Smith còn nhiều mâu thuẫn và không tạo thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh Mặc dù ông không đóng góp nhiều về địa tô như D Ricardo, nhưng A Smith đã cố gắng tìm hiểu bản chất của địa tô dựa trên lý luận giá trị lao động.

A Smith xem địa tô là khoản thu nhập không xuất phát từ lao động, phản ánh sự khấu trừ giá trị hàng hóa có lợi cho chủ đất và được xác định là phần giá trị dư ra trên mức tiền công của công nhân và lợi nhuận bình quân của tư bản Tuy nhiên, ông không hiểu rõ đặc điểm riêng của giá trị và giá cả đất đai trong nông nghiệp, dẫn đến không giải quyết được vấn đề về lượng địa tô A Smith coi sở hữu ruộng đất cũng là nguồn gốc của địa tô, nhưng đồng thời hình thành mâu thuẫn khi xem địa tô là hình thức bóc lột hay phần thưởng cho “công lao của đất”, gây tranh cãi về quan điểm của ông Ông mô tả địa tô như là “tác phẩm còn sót lại của tự nhiên sau khi mọi thứ đã trở thành sản phẩm của con người”, điều này khiến ông bị xem là còn lạc hậu so với các nhà tư tưởng nhấn mạnh rằng địa tô trong nông nghiệp thực chất do lao động tạo ra.

A.Smith còn chứng minh rằng địa tô là một sự trả công hợp lý cho những người sở hữu ruộng đất bởi vì nhờ có địa tô mà những người này có thể đầu tư thêm làm cho đất đai tốt hơn, mặc dù trong khi đó ông chủ trương chống lại chế độ sở hữu lớn đối với ruộng đất như kiểu ở nước Anh Ông cũng có đề cập tới việc phân chia địa tô trên các loai đất khác nhau về độ phì nhiêu và vị trí xa gần nhưng ông không có quan niện rõ ràng về địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối Giống những người trọng nông ông cho rằng bản than đất đai không những có giá trị sử dụng mà còn có vai trò đặc biệt trong viecj tạo ra giá trị trao đổi.Điều đó có nghiã lã gắn địa tô một đặc tính vĩnh viễn,phi lịch sử.

PHÂN TÍCH LÝ LUẬN GIÁ TRỊ, TIỀN CÔNG, LỢI NHUẬN VÀ ĐỊA TÔ CỦA DAVID RICARDO (1772-1823)

lý luận giá trị

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Ví dụ của A.Smith: “không có gì hữu ích bằng nước và không khí nhưng với nó thì hầu như không thể mua được gì”.

Coi lao động là nguồn gốc tạo ra giá trị và giá trị trao đổi, điều này phản ánh quan điểm khoa học chính thống của A Smith Ông đã phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, nhấn mạnh rằng giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi Đồng thời, ông bác bỏ lý luận về lợi ích và khẳng định lợi ích không có mối liên hệ trực tiếp với giá trị trao đổi của hàng hóa.

A Smith không chấp nhận quan niệm cho rằng chỉ một loại lao động riêng biệt mới tạo ra giá trị, nhấn mạnh rằng mọi hình thức lao động sản xuất đều đóng góp bình đẳng trong việc tạo ra giá trị Ông đã đi xa hơn các nhà tiền bối trong việc xác định giá trị bằng lao động, thúc đẩy phân tích giá trị một cách trừu tượng và khoa học hơn Sự tiến bộ này được C Mác đánh giá cao, góp phần vào bước ngoặt lớn trong lý thuyết về thuộc tính hai mặt của lao động trong sản xuất hàng hóa.

A.Smith đã xác định rằng lượng giá trị là lượng lao động xã hội trung bình thay vì lao động chi phí thực tế để sản xuất hàng hóa Ông thực hiện điều này bằng cách trừu tượng hóa tất cả các dạng lao động cụ thể và loại bỏ các chi phí lao động cá biệt, nhằm xem xét giá trị lao động như một đại lượng xác định mang tính chất xã hội Phư­ơng pháp này giúp A.Smith loại bỏ các khúc mắc và mâu thuẫn thường gặp trong các lý thuyết khác, góp phần làm rõ bản chất của giá trị hàng hóa.

Thứ hai, A Smith đã thành công trong việc phân chia lao động thành lao động phức tạp lành nghề và lao động giản đơn không lành nghề, khẳng định rằng lao động phức tạp lành nghề tạo ra nhiều giá trị hơn trong cùng một thời gian so với lao động giản đơn không lành nghề Đây là một đóng góp rõ ràng và không thể phủ nhận đối với lý luận về giá trị Sau này, D Ricardo phát triển quan điểm này, cho rằng lượng giá trị của hàng hóa không chỉ do lao động trực tiếp (lao động sống) tạo ra mà còn chịu ảnh hưởng bởi lao động quá khứ, như máy móc, thiết bị và nhà xưởng.

Năng suất lao động ảnh hưởng trực tiếp đến lượng giá trị hàng hóa; khi năng suất lao động trong một phân xưởng tăng lên, khối lượng sản phẩm tạo ra cũng tăng, nhưng giá trị của mỗi hàng hóa lại giảm xuống, phản ánh mối quan hệ giữa năng suất và giá trị hàng hóa trong quá trình sản xuất.

Vào ngày thứ ba, A Smith tiếp tục phát triển các quan điểm khoa học về giá trị và phát hiện ra sự không phù hợp giữa giá trị và giá cả Ông dành nhiều thời gian nghiên cứu vấn đề này và đi xa hơn khi khám phá ra một loạt các quy luật khác nhau liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến giá cả.

+/Giá trị là cơ sở của giá cả.

Giá cả bao gồm hai loại chính: giá cả tự nhiên và giá cả thị trường Giá cả tự nhiên thể hiện giá trị thực của hàng hóa dựa trên các yếu tố nội tại, như trung tâm giá cả xung quanh đó, giống như trung tâm của mọi hàng hóa Nhà kinh tế A Smith đã nhận định rằng giá cả thị trường thường xoay quanh giá cả tự nhiên, dù có thể bị lệch do các yếu tố ngẫu nhiên Trong điều kiện cạnh tranh tự do lý tưởng, giá cả thị trường sẽ trùng khớp hoàn toàn với giá cả tự nhiên; tuy nhiên, trong thực tế và dài hạn, luôn tồn tại sự chênh lệch giữa hai loại giá này Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự chênh lệch này chính là sự tồn tại của các độc quyền tư bản, làm sai lệch giá cả thị trường khỏi giá cả tự nhiên.

Bên cạnh những đóng góp quan trọng đó.A.Smith cũng bọc lộ nhiều điểm hạn chế và mâu thuẫn trong lý luận giá trị của mình:

Ông không phân biệt được lao động tạo ra giá trị mới và lao động chuyển giá trị cũ trong hàng hóa, dẫn đến việc không đi sâu vào bản chất cuối cùng của giá trị-lao động Nghiên cứu của ông chủ yếu tập trung vào giá trị trao đổi và lượng giá trị biểu hiện trong trao đổi là giá cả, gây ra mặc hạn lớn trong việc giải quyết triệt để vấn đề bản chất của giá trị Trong khi đó, chỉ có C.Mác mới vượt qua được rào cản này bằng cách phát minh ra thuộc tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Mặc dù A.Smith có quan điểm khoa học trong lý luận giá trị, ông vẫn tỏ ra không nhất quán trong việc định nghĩa giá trị hàng hóa.

Trong bài viết, tác giả nhấn mạnh rằng giá trị của hàng hóa không chỉ được hiểu theo định nghĩa khoa học, mà còn được xác định bởi lao động mà người tiêu dùng có thể mua được hàng hóa đó quyết định Điều này cho thấy, giá trị hàng hóa phụ thuộc vào khả năng chi trả dựa trên lượng lao động cần thiết để sản xuất ra nó Như vậy, ngoài lý thuyết khoa học, yếu tố thị trường và khả năng mua bán cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị thực của hàng hóa.

A.Smith mắc phải sai lầm cơ bản khi vừa xác định giá trị hàng hóa dựa trên lượng lao động chứa đựng trong đó, vừa dựa trên khả năng mua bán lao động bằng hàng hóa Ông không phân biệt rõ giữa sản xuất hàng hóa giản đơn và sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, dẫn đến hiểu lầm về vai trò của người sản xuất và người làm thuê trong nền kinh tế tư bản Trong nền kinh tế hàng hóa phát triển, giá trị của hàng hóa không chỉ do lao động quyết định mà còn được cấu thành bởi ba nguồn thu nhập chính: tiền công, lợi nhuận và địa tô, gây ra sự nhầm lẫn giữa cấu thành giá trị và phân phối giá trị trong hệ thống kinh tế này.

Giá trị được xác định bởi sự kết hợp của tiền công, lợi nhuận và địa tô, trong trường hợp không có sự thuê mướn Khi không có thuê mướn, giá trị chỉ bao gồm tiền công của công nhân và lợi nhuận của nhà tư bản A Smith cho rằng, tiền công, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc ban đầu tạo ra mọi thu nhập và giá trị trao đổi, dựa trên quan điểm lao động là nguồn gốc của giá trị Tuy nhiên, ông lại phủ nhận điều này khi cho rằng các giá trị vật chất khác cũng đóng vai trò bình đẳng trong việc tạo ra giá trị, dẫn đến mâu thuẫn lý luận chính yếu của ông Chính mâu thuẫn này và các hạn chế trong lý luận của A Smith đã bị các lý luận gia tư sản sử dụng để bác bỏ quan điểm của ông về nguồn gốc của giá trị.

Lý luận tiền công

Trong lĩnh vực này, A Smith đã đưa ra những đóng góp cơ bản, nhận xét rằng công nhân trong chủ nghĩa tư bản chỉ nhận được một phần giá trị sản phẩm lao động dưới dạng tiền lương thay vì toàn bộ giá trị, do họ không còn sở hữu tư liệu sản xuất như trước Ông cho rằng xã hội tư bản ngày càng xóa bỏ sự độc lập của người sản xuất nhỏ và mở rộng hình thức làm thuê, phản ánh quy luật phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

A.Smith có thể coi là người đầu tiên xác định một cách chính xác và toàn vẹn cơ sơ của tiền công là giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết nhất cho đời sông của công nhân và gia đình họ.những tư liệu sinh hoạt này họ đổi được bằng lao động của mình trên thị trường Ông cũng quan niệm lao động và nghiên cứu cả giới hạn thấp nhất của nó là mức tối thiểu về thể chất cơ thể đòi hỏi để dùy trì sự sông và làm việc bình thường.Ông còn nhận xét cả sự phụ thuộc của tiền công vào điều kiện lịch sử truyền thống của từng nước mà xét đến cũng là trình độ phát triển kinh tế của nước đó quyết định.

A Smith khẳng định rằng thị trường tự do quyết định và điều tiết mức tiền công, đồng thời ông đặc biệt quan tâm đến cách giảm chênh lệch giữa tiền công thực tế và tiền công danh nghĩa Ông lập luận rằng khi tiền công tăng, sẽ thúc đẩy sinh đẻ nhiều hơn, tăng cung lao động và tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động Sự cạnh tranh này khiến tiền công giảm xuống, giảm sinh đẻ và giảm cung lao động, từ đó làm dịu bớt cạnh tranh và cuối cùng kéo tăng mức tiền công trở lại Đây chính là quy luật vận động của tiền công trong cơ chế thị trường tự do cạnh tranh mà A Smith đã nêu ra, góp phần quan trọng trong lý thuyết kinh tế cổ điển.

Trong quá trình vận động của tiền công, A Smith nhấn mạnh vai trò quan trọng của cuộc đấu tranh của công nhân chống lại tư sản nhằm thiết lập mức tiền công phù hợp Ông nhận thấy rằng sự cạnh tranh giữa người lao động và chủ tư bản ảnh hưởng trực tiếp đến mức lương, phản ánh mối quan hệ quyền lực trong nền kinh tế Cuộc đấu tranh này là yếu tố quyết định xác định mức tiền công phù hợp với giá trị sức lao động, góp phần thúc đẩy sự cân bằng trong thị trường lao động.

A.Smith đã khẳng định rằng mức tiền công cao sẽ thúc đẩy sản xuất tăng lên, trái ngược với nhiều nhà lý luận trước đó Ông khuyến khích các doanh nghiệp không ngần ngại tăng lương cho công nhân, vì thị trường lao động sẽ tự điều chỉnh để cân bằng Qua đó, A.Smith gián tiếp bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân làm thuê, mặc dù ông có quan điểm tiêu cực về giai cấp này.

A Smith tập trung vào việc khám phá bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận, phân tích rõ quá trình lịch sử của chủ nghĩa tư bản và bản chất các quan hệ xã hội phát sinh từ nó Ông nhấn mạnh sự khác biệt rõ ràng giữa thu nhập tư bản và thu nhập của công nhân, chỉ ra rằng tư bản tích lũy dựa vào lợi nhuận thu được từ sử dụng lao động và nguyên liệu Theo ông, công nhân chỉ nhận được phần giá trị do họ tạo ra dưới dạng tiền công, trong khi phần tăng thêm, hay giá trị thặng dư, trở thành lợi nhuận của các nhà tư bản, trong đó một phần trả cho địa tô và lợi tức vay mượn Ông trình bày hai quan điểm về lợi nhuận: hoặc là toàn bộ chênh lệch giữa giá trị tăng thêm và tiền công hoặc là phần còn lại sau khi trừ đi địa tô và lợi tức, được hiểu là lợi nhuận doanh nghiệp Tuy nhiên, A Smith chưa nắm rõ quá trình chuyển hóa các hình thái lợi nhuận này, do thiếu hiểu biết về lý luận giá trị thặng dư ở mức độ trừu tượng nhất.

A.Smith khẳng định một cách dứt khoát rằng lợi nhuận là một loại thu nhập mang tính chất bóc lột chứ không phải một dạng tiền công trả cho người lao động trông coi và quản lí xí nghiệp Quy mô của nó được quyết định bằng khối lượng hay sự nặng nhọc và phức tạp của lao động nói trên mà bởi quy mô của tư bản sử dụng thực tế.

Nghiên cứu của A Smith về vấn đề lợi nhuận cho thấy xu hướng giảm tỷ suất lợi nhuận và sự cân bằng giữa các ngành sản xuất khác nhau Ông nhận thấy mối liên hệ giữa việc giảm lợi nhuận và giảm tỷ suất lợi tức, đồng thời cho rằng mức lợi nhuận và lợi tức thấp phản ánh sự phát triển kinh tế và sự thịnh vượng của quốc gia.

Trong nghiên cứu về lợi nhuận, ông gặp phải những hạn chế rõ rệt do thiếu tính nhất quán trong việc xác định nguồn gốc giá trị và lợi nhuận Ông vừa cho rằng lợi nhuận do công nhân tạo ra, vừa coi nó là kết quả của toàn bộ tư bản ứng trước, phản ánh sự mâu thuẫn trong quan điểm của ông Khuyết điểm lớn là ông không phân biệt rõ giữa hình thái chung của lợi nhuận và các dạng biểu hiện cụ thể của nó, dẫn đến thiếu một khái niệm khoa học rõ ràng về giá trị thặng dư Chính điều này khiến việc nghiên cứu lợi nhuận của ông thiếu cơ sở vững chắc, gây ra những nhầm lẫn trong phân tích nguồn gốc và đặc điểm của lợi nhuận trong hệ thống kinh tế.

4/Về vấn đề địa tô

Nhiều ý kiến cho rằng quan điểm của A Smith về địa tô chưa rõ ràng và còn mâu thuẫn, không hình thành một lý luận hoàn chỉnh Trong khi đó, ông không có đóng góp nổi bật về địa tô như D Ricardo về sau Tuy nhiên, A Smith đã cố gắng tìm hiểu bản chất của địa tô dựa trên nền tảng lý luận giá trị lao động.

A.Smith mô tả địa tô là thu nhập không do lao động, phản ánh phần giá trị thặng dư vượt quá tiền công của công nhân và lợi nhuận bình quân của tư bản, lợi ích dành cho người sở hữu đất đai Tuy nhiên, ông chưa hiểu rõ đặc điểm riêng của giá trị và giá cả đất đai trong nông nghiệp, dẫn đến khó xác định chính xác lượng địa tô Ngoài ra, ông coi sở hữu đất đai là nguồn gốc của địa tô, điều này mâu thuẫn khi ông coi địa tô như một hình thức bóc lột, trong khi lại xem đó là phần thưởng cho “công lao của đất” Chính quan điểm này khiến A.Smith bị xem là lạc hậu so với các nhà kinh tế nông nghiệp, những người cho rằng địa tô là sản phẩm của lao động nông nghiệp Ông hình dung địa tô như là tác phẩm còn sót lại của tự nhiên sau khi con người đã biến đổi thành sản phẩm, thể hiện sự thánh hóa tự nhiên trong quan điểm về đất đai.

A.Smith còn chứng minh rằng địa tô là một sự trả công hợp lý cho những người sở hữu ruộng đất bởi vì nhờ có địa tô mà những người này có thể đầu tư thêm làm cho đất đai tốt hơn, mặc dù trong khi đó ông chủ trương chống lại chế độ sở hữu lớn đối với ruộng đất như kiểu ở nước Anh Ông cũng có đề cập tới việc phân chia địa tô trên các loai đất khác nhau về độ phì nhiêu và vị trí xa gần nhưng ông không có quan niện rõ ràng về địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối Giống những người trọng nông ông cho rằng bản than đất đai không những có giá trị sử dụng mà còn có vai trò đặc biệt trong viecj tạo ra giá trị trao đổi.Điều đó có nghiã lã gắn địa tô một đặc tính vĩnh viễn,phi lịch sử

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH LÝ LUẬN GIÁ TRỊ, TIỀN CÔNG, LỢI

NHUẬN VÀ ĐỊA TÔ CỦA DAVID RICARDO

David Ricardo sinh tháng 4/1772 tại London, trong một gia đình kinh doanh thương nghiệp, sau đó chuyển sang lĩnh vực buôn bán cổ phiếu và chứng khoán Là con thứ ba trong gia đình có tới 17 người con, ông phải sớm lao vào cuộc sống do không được học một cách hệ thống Sau hai năm học ở trường thương mại tại Amsterdam, ông bắt đầu làm việc tại sở giao dịch ở tuổi 16, trở thành cộng sự gần gũi của cha Nhờ trí thông minh và nhanh nhẹn, Ricardo nhanh chóng làm việc độc lập và bắt đầu kinh doanh trên thị trường chứng khoán để nuôi ba con nhỏ, thách thức chính cha mình trong lĩnh vực này Chỉ sau 5 năm, ông đã trở nên giàu có và năm 1809-1810, David Ricardo trở thành một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất trong giới tài chính London, với tổng tài sản lên tới 1 triệu bảng Anh – một số tiền khổng lồ thời bấy giờ.

D.Ricardo bắt đầu sự nghiệp của mình bằng cách dành nửa thời gian hàng ngày để làm việc tại phòng giao dịch chứng khoán, đồng thời dành phần còn lại để nghiên cứu toán học và khoa học tự nhiên Trong sự nghiệp khoa học, ông chịu ảnh hưởng lớn nhất từ các nhà kinh tế học tư sản T.R.Malthus và A.Smith, nổi bật với tư tưởng kinh tế cổ điển J.Mill đã đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt D.Ricardo đến với lĩnh vực khoa học, giúp ông sắp xếp các công trình nghiên cứu của mình và trở thành người bạn trung thành, luôn tự nhận là học trò và người kế tục của ông đến cuối đời.

Công trình khoa học nổi tiếng nhất của ông là cuốn sách "Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và vấn đề thuế khóa," được xuất bản vào tháng 4 năm 1817 khi ông mới 35 tuổi, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực kinh tế học Trước đó, vào năm 1815, ông đã viết cuốn sách "Nghiên cứu về ảnh hưởng của giá cả thấp đới với lợi nhuận của tư bản," thể hiện sự nghiên cứu sâu rộng về tác động của biến động giá cả đến lợi nhuận trong nền kinh tế Các tác phẩm này góp phần định hình cơ sở lý luận cho các nguyên lý kinh tế chính trị và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nghiên cứu kinh tế sau này.

Địa tô

Dựa trên lý luận về giá trị lao động, ông giải thích rằng địa tô không phải là tặng vật của đất mà bắt nguồn từ chính lao động bỏ vào đất trong điều kiện sở hữu nhất định, và giá trị sản phẩm nông nghiệp được quyết định bởi chi phí lao động trên những mảnh đất xấu nhất Điều này giúp hiểu rõ nguồn gốc và cơ chế hình thành của địa tô, khi các nhà kinh doanh trên đất xấu chỉ thu lợi nhuận bình quân, còn ở đất tốt thì lợi nhuận cao hơn, tạo ra chênh lệch địa tô Nhà tư bản gộp phần chênh lệch này từ đất màu mỡ, dẫn đến sự gia tăng địa tô ngay cả khi không cần thêm đầu tư, đặc biệt khi tất cả các đất xấu đều được đưa vào canh tác Ông cũng phân tích rõ rằng lượng địa tô phụ thuộc vào chất lượng đất và mức độ tích lũy tư bản, khi nhịp độ tích lũy giảm, nhu cầu đất giảm, dẫn đến sụt giảm địa tô, và ngược lại.

D.Ricardo có một lạp luận độc đáo về mối quan hệ của địa tô với giá cả sản phẩm nông nghiệp.Theo ông thì địa tô không làm tăng giá trị lúa mì.Lúa mì đắt không phải vì nha kinh doanh phải trả địa tô mà ngược lại chính vì giá lúa mì cao cho nên phải trả địa tô cho chủ đất. Ông còn có hai nhận định lí thú về địa tô, đó là: Một là oonh khẳng định địa tô cao hay thấp đều là gánh nặng rơi vào vai người tiêu dung chứ khong phải ai khác Hai là trong trường hợp giá cả của luá mì giảm đến mức địa tô giảm chỉ là một tổn thất riêng cho chử đất chứ không phải cho tất cả mọi người.Song xét về toàn cục do kết quả của sự tiến bộ chung.hoàn cảnh của chủ đất cũng được cải thiện một cách tương đối.Điều này kiến cho lời khuyên của D.Ricardo đối với chủ đấy đừng sợ sự giảm sút của mức địa tô càng trở nên có cơ sở đáng tin cậy hơn.

Trong bài viết, điểm thiếu sót cơ bản của ông là việc phủ nhận địa tô tuyệt đối, tức là thứ địa tô thu được ngay trên những mảnh đất xấu nhất, điều tồn tại một cách hiển nhiên trong thực tế Tuy nhiên, sau này, C.Mác đã khắc phục hạn chế này một cách toàn diện trong công trình nghiên cứu của mình Người ta nhận thấy trong phân tích của D.Ricardo, ảnh hưởng của quy luật màu mỡ đất đai ngày càng giảm, nhưng ông đã cường điệu vai trò của các mảnh đất xấu và bỏ qua khả năng thực tế về việc cải thiện đất đai thông qua tiến bộ khoa học kỹ thuật Ngoài ra, việc D.Ricardo xem địa tô như một vấn đề phi lịch sử đã bộc lộ rõ hạn chế của thế giới quan tư sản, thể hiện thái độ bảo vệ chủ nghĩa tư bản bằng cách coi địa tô là vấn đề không liên quan đến lịch sử và sự phát triển xã hội.

CHƯƠNG III: NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN VỀ LÝ LUẬN CỦA

ADAM SMITH VÀ DAVID RICARDO

I/ Vì sao khi nghiên cứu lý luận giá trị A.Smith và D.Ricardo đều bắt đầu từ phân tích hai thuộc tính của hàng hóa

Trong nghiên cứu lý luận giá trị của A Smith và D Ricardo, hai nhà kinh tế cổ điển Anh bắt đầu bằng việc phân tích hai thuộc tính của hàng hóa Đối tượng chính của kinh tế chính trị tư sản cổ điển là nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất Họ tập trung vào quan hệ giữa người với người trong các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng nhằm rút ra các kết luận quan trọng để nâng cao tích lũy của cải và giảm chi phí sản xuất.

Quan hệ kinh tế giữa người với người không tồn tại độc lập mà ẩn chứa trong các sản phẩm do lao động tạo ra Trao đổi sản phẩm chính là trao đổi lao động giữa các cá nhân, trong đó tiêu dùng sản phẩm của nhau thể hiện sự sử dụng lao động của người này để đáp ứng nhu cầu của người khác Đây là hành động trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau với lượng giá trị bằng nhau, phản ánh mối quan hệ dựa trên việc trao đổi các giá trị sử dụng trong nền kinh tế Phân tích đặc điểm của hàng hóa giúp làm rõ bản chất của các quan hệ trao đổi, từ đó hiểu rõ hơn về thực chất của quan hệ kinh tế giữa các nhà sản xuất hàng hóa.

Hàng hóa là kết quả của quá trình lao động hao phí và đóng vai trò là tế bào kinh tế của xã hội tư bản A Smith và D Ricardo bắt đầu phân tích hàng hóa bằng cách xem xét hai thuộc tính chính: giá trị sử dụng và giá trị, trong đó nghiên cứu lý luận về giá trị dựa trên lao động để trừu tượng hóa và làm rõ bản chất của lao động ẩn chứa trong các vật phẩm.

II/So sánh lý luận của A.Smith và D.Ricardo

Cả A.Smith và D.Ricardo đều cho rằng:

+Tiền tệ là vật tham gia trong việc trao đổi và mua bán.

+ Phân phối việc tăng lương cho công nhân.

+Thay đổi tiền vàng và bạc bằng tiền giấy là hoàn toàn hợp lý

+Việc tăng lương của công nhân chỉ cần thiết khi nền kinh tế đó phát triển.

Phương pháp luận dựa trên nguyên tắc suy luận từ một cá nhân lý tưởng để xác định các định luật chi phối đời sống sinh hoạt và kinh tế Quá trình này giúp tổng quát hóa các quy luật kinh tế đó, từ đó áp dụng cho toàn bộ các chủ thể trong xã hội Đặc trưng của phương pháp này là hướng tới xây dựng các nguyên tắc chung dựa trên quan điểm lý tưởng hóa cá nhân.

+Xem quyền sở hữu là nền tảng của đời sống kinh tế xã hội

Giá trị hàng hóa được xác định dựa trên lao động hao phí trong quá trình sản xuất Nó phản ánh số lượng lao động cần thiết để tạo ra hàng hóa đó, thể hiện qua khả năng mua hoặc trao đổi hàng hóa bằng lao động Giá trị hàng hóa phản ánh mối quan hệ trao đổi dựa trên lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra chúng, giúp hiểu rõ về quá trình hình thành giá trị trong nền kinh tế.

Phân biệt rõ ràng giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.Khẳng định giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi

Giá trị hàng hóa hay số lượng của một hàng hóa quyết định khả năng sản xuất ra hàng hóa đó, không phụ thuộc vào khoản thưởng lớn hơn hay nhỏ hơn trả cho người lao động Ông phân biệt rõ ràng giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, nhấn mạnh rằng tính có ích (giá trị sử dụng) không phải là thước đo cho giá trị trao đổi của hàng hóa Giá trị của cải không phụ thuộc vào điều kiện sản xuất hay lợi nhuận, và việc tăng giá trị của cải không đồng nghĩa với việc tăng giá trị của hàng hóa.

Tiền lương là số tiền trả cho công nhân theo một mức nhất định, đảm bảo đủ để người lao động sống còn Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức lương bao gồm giá trị của sản phẩm hàng hóa để nuôi sống người công nhân và gia đình, cùng với lượng cầu lao động trên thị trường Tiền công lao động còn phụ thuộc vào tốc độ phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời lập luận rằng việc trả lương cao cho công nhân là cần thiết, trong khi lương thấp lại gây ra thảm họa kinh tế Mặc dù lương cao mang lại lợi ích, một số người vẫn phản đối việc đấu tranh đòi tăng lương của công nhân.

Khi quy mô tư bản tăng, quy mô sản xuất cũng mở rộng theo, dẫn đến việc tiền lương vượt mức tối thiểu Do đó, mức lương chỉ có thể tăng khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng và ổn định, đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của thị trường lao động.

Khi quy mô tư bản giảm, quy mô sản xuất cũng giảm theo, dẫn đến lượng cầu lao động giảm và tiền lương giảm xuống mức tối thiểu Trong bối cảnh nền kinh tế trì trệ hoặc suy thoái, việc tiền lương thấp là biểu hiện rõ nét của sự chững lại và chậm phát triển của nền kinh tế.

Tiền công là giá cả của lao động, phản ánh giá trị của sức lao động trên thị trường Ông phân biệt rõ hai loại giá cả lao động: giá cả tự nhiên và giá cả nhân tạo Sự biến động của tiền lương phụ thuộc vào hai nguyên nhân chính: sự thay đổi của giá cả tự nhiên của lao động và quan hệ cung cầu về lượng lao động trên thị trường.

Khi tiền lương tăng, lợi nhuận doanh nghiệp thường giảm, dẫn đến tiền lương trung bình giảm và quy mô sản xuất bị thu nhỏ, từ đó làm chậm lại quá trình phát triển kinh tế Đây được xem là một thảm họa kinh tế, vì mức lương thấp được xem là tự nhiên, còn mức lương cao gây ra hậu quả tiêu cực cho hoạt động sản xuất Lợi nhuận là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến sự bền vững của doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế.

Lợi nhuận là khoản khấu trừ vào giá trị sản phẩm do công nhân tạo ra, phản ánh phần giá trị thặng dư do lao động của công nhân tạo ra vượt quá chi phí trả lương Ông xây dựng lý luận về lợi nhuận dựa trên cơ sở lý luận giá trị—lao động, nhấn mạnh vai trò của lao động trong quá trình hình thành lợi nhuận và giá trị thặng dư trong nền kinh tế.

LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

Ngày đăng: 27/01/2023, 23:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w