MỞ ĐÂU 1 Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp với 70% dân số sống ở nông thôn với trình độ dân trí, canh tác chưa cao nên trình trạng nghèo đói vẫn diễn ra khắp các vùng miền Ở V[.]
Trang 1MỞ ĐÂU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 70% dân số sống ở nông thônvới trình độ dân trí, canh tác chưa cao nên trình trạng nghèo đói vẫn diễn rakhắp các vùng miền
Ở Việt Nam vấn đề nghèo đói là vấn đề được Đảng và Nhà nước hếtsức quan tâm vì vậy, để cho người nghèo thoát nghèo vừa là mục tiêu, nhiệm
tượng từng khu vực ở từng địa phương Chính vì thế tôi chọn đề tài: “Vấn đề nghèo đói và chính sách xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
1.2 Mục tiêu chung:
Tìm hiểu thực trạng vấn đề nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở khu vựcnông thôn nước ta, từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần giảm tỷ lệ hộnghèo đói ở nông thôn
Trang 21.4.2 – Phạm vi
Khu vực nông thôn Việt Nam
2 Khái niệm nghèo đói và các khái niệm có liên quan
* Khái niệm nghèo đói
Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân không được hưởng và
thoả mãn những nhu cầu con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình
độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương
- Đối với thế giới:
Tại Hội nghị Xoá đói giảm nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 ở Bangkok đã đưa ra khái niệm nghèo: "Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và
phong tục tập quán của địa phương…"
- Đối với Việt Nam:
+ Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện
+ Đói: là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo, có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống
* Các khái niệm liên quan
- Nghèo tuyệt đối: là tình trạng của một bộ phận dân cư không có có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống
- Nghèo tương đối: là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của cộng đồng
- Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu cơ bản của con người gồm 8 yếu tố phân thành 2 loại đó là 3 nhu cầu thiết yếu: ăn, mặc, ở và 5 nhu cầu sinh hoạthàng ngày: văn hoá, giáo dục, y tế, đi lại, giao tiếp
Trang 3- Ngưỡng nghèo đói: Ngưỡng nhu cầu tối thiểu được sử dụng làm ranh giới để xác định nghèo đói hay không nghèo đói.
Nghèo đói là một khái niệm có tính thay đổi theo thời gian và không gian
3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Chỉ tiêu thu nhập quốc dân đầu người (GDP/người).
4 Phương pháp nghiên cứu
- Lấy thông tin từ sách, báo, giáo trình có liên quan
- Thu thập tài liệu trên Internet
Trang 4THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO Ở NÔNG THÔN NƯỚC TA
I Thực trạng nghèo đói ở nông thôn nước ta
Ở khu vực nông thôn tỷ lệ đói nghèo giảm chậm hơn thành thị nhưngtương đối ổn định từ 45,5% năm 1998 xuống 35,6% năm 2002 và còn 27,5%vào năm 2004
Khu vực đồng bào dân tộc tốc độ giảm nghèo chậm và còn rất cao, từ75,2% xuống 69,3%
Sự phân bổ hộ nghèo giữa các vùng, miền là không đồng đều Năm
2005 mặc dù tỷ lệ hộ nghèo trong toàn quốc giảm xuống chỉ còn 7%, tuynhiên có vùng chỉ có 1,7% hộ nghèo như vùng Đông Nam Bộ, trong khi đó cóvùng số hộ nghèo chiếm 12% tổng số hộ nghèo trong cả nước như Tây Bắc
Người dân chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có cácthiết chế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như: thiên tai, dịch bệnh,sâu hại, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, thất nghiệp…
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội đếncuối năm 2006, cả nước có 61 huyện với số dân 2,4 triệu người (gồm 797 xã
và thị trấn) thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%
Số hộ nghèo vẫn còn nhiều, và phần lớn ở vùng nông thôn, số hộ ở cận
kề chuẩn nghèo còn đông
Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo chung chia theo vùng (%)
Nguồn: Tổng cục thống kê (2004) Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình
năm 2002
Trang 5Sự bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư khá rõ nét, các hộ nghèo ít có
cơ hội tiếp cận đối với giáo dục, y tế, việc làm và các hoạt động văn hoá, tinhthần so với các hộ giàu
Sự bất bình đẳng giữa nhóm nghèo nhất và nhóm giàu nhất năm 2002
Các chỉ tiêu chủ yếu
Nhóm nghèo nhất giàu nhất Nhóm
2 Chi tiêu cho giáo dục bình quân năm (nghìn đồng) 236 1418
3 Tỷ lệ đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế (%) 16,5 22
4 Chi tiêu cho y tế bình quân năm (nghìn đồng) 395,03 1181,43
5 Số giờ làm việc trung bình tuần (giờ) 25 42,4
6 Thu nhập bình quân đầu người tháng (nghìn đồng) 108 873
7 Chi tiêu cho đời sốngbình quân/người/tháng (nghìn
Sự phân hóa giàu nghèo, giữa các khu vực nông thôn và thành thị, giữacác vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính đang tồn tại với khoảng cáchtương đối lớn, có xu hướng tăng
Với chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo đúng đắn của Đảng vàNhà nước, việc thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo mang lại nhữngkết quả to lớn, mang tính xã hội cao
Các giải pháp giảm nghèo cần đồng bộ, kết hợp hài hoà lợi ích củangười nghèo, cộng đồng và đất nước Các giải pháp cần hướng tới giảm
Trang 6nghèo bền vững trên cơ sở sự vận động của chính các hộ nghèo với sự trợgiúp và trách nhiệm của cộng đồng và xã hội
Giảm nghèo là một quá trình thường xuyên, liên tục, cần khắc phụcnhững tồn tại, yếu kém chủ quan, đồng thời xác định và giải quyết những khókhăn, thách thức trước mắt và lâu dài
II Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói
a) Nguyên nhân khách quan
- Đất nước ta trải qua một thời kỳ chiến tranh lâu dài
- Việt Nam là khu vực có nhiều thiên tai, sự phát triển không cân đói giữa các vùng, dân số tăng nhanh…
b) Nguyên nhân chủ quan
- Thiếu vốn sản xuất
- Thiếu kiến thức sản xuất
- Thiếu tư liệu sản xuất
- Thiếu lao động
- Một số nguyên nhân khác (một số hộ có thanh niên mắc các tệ nạn xã
hội,chính sách của Đảng và Nhà nước…)
Các nguyên nhân nghèo chung cả nước và chia theo vùng
(Tỷ lệ % ý kiến so với tổng số người nghèo)
Thiếuvốn Thiếuđất ThiếuLĐ
Thiếukinhnghiệm Bệnhtật nạn Rủi roTệ ngườiĐông
Cả nước 63,69 20,82 11,40 31,12 16,94 1,18 1,65 13,601.Đông Bắc 55,20 21,38 8,26 33,45 7,79 2,30 1,26 12,082.Tây Bắc 73,60 10,46 5,56 47,37 5,78 0,58 0,52 9,393.Đồng bằng
sông Hồng 54,96 8,54 17,50 23,29 36,26 1,46 2,39 7,304.Bắc Trung Bộ 80,95 18,90 14,60 50,65 14,42 0,80 1,92 16,615.Duyên hải
Nam Trung Bộ 50,84 12,59 10,80 17,57 31,95 0,83 1,34 20,71
Trang 76.Tây Nguyên 65,95 26,12 7,76 27,11 9,03 1,22 1,32 13,727.Đông Nam Bộ 79,92 20,08 8,64 20,60 17,54 0,37 0,39 9,50
8.Đồng bằng
sông Cửu
Long
48,44 47,73 5,47 5,88 4,22 0,87 1,80 11,95
Nguồn: Bộ LĐTBXH (2003), Số liệu nghèo đói năm 2002
III Sự cần thiết của công tác xóa đói giảm nghèo
Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phânhoà giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu không tích cực xoá đói giảm nghèo vàgiải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xâydựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huyđược truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh vàtiến bộ của thời đại
Do đó trong chính sách phát triển kinh tế -xã hội thời kỳ 1996-2000nhà nước đã xây dựng được các chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó
có chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia Xoá đói giảm nghèo khôngchỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó còn là vấn đề kinh tế -xã hội quantrọng, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữa chính sách kinh tế vớichính sách xã hội
Xuất phát từ điều kiện thực tế nước ta hiện nay, xoá đói giảm nghèo vềkinh tế là điều kiện tiên quyết để xoá đói giảm nghèo về văn hoá, xã hội Vìvậy, phải tiến hànhthực hiện xoá đói giảm nghèo cho các hộ nông dân sinhsống ở vùng cao, vùng sâu, hải đảo và những vùng căn cứ kháng chiến cáchmạng cũ, nhằm phá vỡ thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh, đẩy mạnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp trên toàn quốc theo hướngsản xuất hàng hoá, phát triển công nghiệp nông thôn, mở rộng thị trường nôngthôn, tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao đông ở nông thôn vào sản xuát tiểu thủcông nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ là con đường cơ bản để xoá đói giảmnghèo ở nông thôn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn phải được xem
Trang 8như là 1 giải pháp hữu hiệu, tạo bước ngoạt cho phát triển ở nông thôn, nhằmxoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay.
Tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sởnền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Đó là con đường để chomọi người vượt qua đói nghèo, để nhà nước có thêm tiềm lực về kinh tế đểchủ động xoá đói giảm nghèo Đây là sự thể hiện tư tưởng kinh tế của Hồ ChủTịch:" Giúp đỡ người vươn lên khá, ai khá vươn lên giàu, ai giàu thì vươn lêngiàu thêm".Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo không chỉđem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho ngườinông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh
tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển 1nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước
Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội Xoá đóigiảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăn sóc tốt sức khoẻ nhân dân,giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập vào cuộcsống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảmđược khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo, ổn định tinhthần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và chủ trươngcủa đảng và Nhà nước Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn xã hộikhác, bảo vệ môi trường sinh thái
Ngoài ra còn có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ
và yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được xuhướng gia tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp vớihậu quả là sự bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ tình hình ổn định chính trị và
xã hội làm chệch hướng XHCN của sự phát triển kinh tế -xã hội
Không giải quyết thành công các chương ttrình xoá đói giảm nghèo sẽkhông thể thực hiện được công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung.Như thế mục tiêu phát triển và phát triển bền vững sẽ không thể thực hiệnđược Không tập trung nỗ lực, khả năng và điều kiện để xoá đói giảm nghèo
Trang 9sẽ không thể tạo được tiền đề để khai thác và phát triển nguồn lực con ngườiphục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm đưa nước ta đạt tới ttrình
độ phát triển tương đương với quốc tế và khu vực, tháo khỏi nguy cơ lạc hậu
và tụt hậu.
IV Tổng quan về chương trình xoá đói giảm nghèo “Chương trình quốc gia”
1 Khái niệm về chương trình mục tiêu quốc gia
+ Được xây dựng nhằm xác định các mục tiêu, các chính sách, cácbước phải tiến hành, các nguồn lực cần sử dụng để thực hiện một ý đồ, mộtmục đích nhất định nào đó của Nhà nước Chương trình thường gắn với mộtngân sách cụ thể
+ Chương trình quốc gia: là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ vàcác giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội , khoa học công nghệ, môi trường,
cơ chế chính sách, tổ chức thực hiện 1 hoặc 1 số mục tiêu đã được xác địnhtrong chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước trong thời gian
đã định
Chương trình quốc gia bao gồm nhiều dự án khác nhau để thực hiệncác mục tiêu của chương trình Đối tượng quản lý và kế hoạch hoá được xácđịnh theo chương trình , đầu tư được thực hiện theo dự án
+ Dự án của một quốc gia: Là tập hợp các hoạt động để tiến hành mộtcông việc nhất định nhằm đạt một hay nhiều mục tiêu cụ thể đã được định rõtrong chương trình với một khoản ngân sách và một thời gian thực hiện đượcxác định rõ
+ Chương trình xoá đói giảm nghèo là một hệ thống các giải pháp xácđịnh rõ vai trò của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội, trong việc phânphối hợp lý các hành động của mình để nâng cao mức sống cho người nghèo,tạo cho hộ những cơ hội phát triển trong đời sống cộng đồng bằng chính laođộng của bản thân
2 Tiêu chuẩn để lựa chọn chương trình quốc gia
Trang 10- Các vấn đề được lựa chọn để giải bằng chương trình quốc gia phải lànhững vấn đề cấp bách, liên ngành, liên vùng và có tầm quan trọng đối với sựphát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần phải tập trung chỉ đạo giải quyết.
- Mục tiêu của chương trình quốc gia phải rõ ràng, lượng hoá được vànằm trong mục tiêu chung của quốc gia
- Thời gia thực hiện chương trình phải được quy định giới hạn, thường
là 5 năm hoặc phân kì thực hiện trong 5 năm
3 Nội dung của chương trình quốc gia
- Đánh giá thực trạng tình hình của lĩnh vực mà chương trình sẽ sửdụng, luận chứng những vấn đề cấp bách phải giải quyết bằng chương trìnhquốc gia
- Xác định phạm vi, quy mô và mục tiêu cua chương trình , các chỉ tiêu
cơ bản phải đạt được trong từng thời gian cụ thể
- Xác định tổng mức vốn của chương trình trong đó mức vốn chia từngnăm, phưong thức huy động các nguồn vốn
- Xác định hiệu quả kinh tế -xã hội chung của chương trình và của các
dự án đấu tư
- Đề xuất khả năng lồng ghép với các chương trình khác
- Kế hoạch, tiến độ thực hiện dự án
Trang 11- 75% hộ nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản ( đủ ăn, đủ ấm,nhà ở không dột nát, ốm đau được chữa bệnh, trẻ em được chữa bệnh , đihọc ).
b) Phương hướng
- Xoá đói giảm nghèo gắn với tăng trưởng kinh tế
-Phát huy nguồn lực tại chỗ (nội lực) để người nghèo, xã nghèo vươnlên tự xoá đói giảm nghèo
- Xoá đói giảm nghèo gắn với công bằng xã hội, ưu tiên giải quyết cho
xã nghèo, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc ít người, vùng căn cứ cáchmạng
- Thực hiện xã hội hoá công tác xoá đói giảm nghèo
c) Phạm vi
Chương trình được thực hiện trong phạm vi cả nước, trong những nămđầu tập trung ưu tiên các xã nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, vùng cao, vùngsâu, hải đảo, vùng xa
Đối tượng của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia
Bao gồm người nghèo, xã ngèo, những hộ thuộc diện chính sách, hộthuộc diện định canh định cư, đồng bào dân tộc ít người, dân tộc chăm , khơ
me và các xã thuộc khu vực 3
d) Nhiệm vụ
- Làm chuyển biến trong toàn đảng, toàn dân về chủ trương xoá đóigiảm nghèo
- Phát triển tổng hợp nguồn nhân lực
- Thực hiện những ưu tiên về xã hội cần thiết cho việc xoá đói giảmnghèo ở những vùng đặc biệt khó khăn , với các đối tượng đặc biệt
- Đi đôi với việc hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, Nhà nước cần tiếp tụcxây dựng và hoàn thiện chính sách, cơ chế khuyến khích mọi người làm giàuhợp pháp, coi 1 bộ phận dân cư giàu lên là cần thiết cho sự phát triển chung
Trang 12- Thực hiện lồng ghép chương trình xoá đói giảm nghèo với cácchương trình kinh tế xã hội khác.
V Thành tựu và tồn tại trong xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta và giải pháp khắc phục
1 Thành tựu
- Tỷ lệ người nghèo, tính theo chuẩn nghèo quốc tế, đã giảm liên tục từhơn 60% vào năm 1990, xuống 58% vào năm 1993, 37% vào năm 1998, 32%vào năm 2000, 29% vào năm 2002 và còn 18,1% vào năm 2004 Năm 2006
có khoảng 10,8% số hộ được xếp vào loại thiếu ăn (nghèo lương thực) theochuẩn nghèo quốc tế
- Căn cứ vào chuẩn nghèo quốc gia do Bộ Lao động thương binh và xãhội ban hành, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ hơn 30% năm 1990, 30% vào năm
1992, 15,7% năm 1998 xuống xấp xỉ 17% vào năm 2001(2,8 triệu hộ) và 10%năm 2000
- Số hộ nghèo của năm 2004 là 1,44 triệu hộ, tỷ lệ nghèo là 8,3%, đếncuối năm 2005 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ Như vậy tỷ lệ hộ nghèonăm 2005 đã giảm khoảng 50% so với năm 2000
- Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh, từ 17,2% năm 2001 xuốngcòn 6,3% năm 2005 (theo chuẩn nghèo cũ), bình quân mỗi năm giảm đượctrên 30 vạn hộ, đạt được mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII và IX
đề ra.
2 Tồn tại
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong thời gian qua, chúng ta vẫncòn nhiều hạn chế, bất cập cần được quan tâm và khắc phục trong giai đoạntiếp theo Đó là:
Thứ nhất, những bất cập trong chính sách, dự án Tuy chúng ta đã ban
hành nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo từ nguồn vốn ngân sách nhà nước(NSNN), nhưng chưa thực sự cân đối với khả năng của NSNN, do đó ít nhiều
đã tạo áp lực trong việc bố trí dự toán NSNN hàng năm Các chính sách, dự