1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tầm quan trọng của việc bảo vệ đa dạng sinh học ở những khu vực không thuộc khu bảo tồn

5 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tầm Quan Trọng Của Việc Bảo Vệ Đa Dạng Sinh Học Ở Những Khu Vực Không Thuộc Khu Bảo Tồn
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 410,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các khu bảo tồn trên toàn thế giới được coi là nền tảng của việc bảo tồn sinh thái để bảo vệ sự suy thoái môi trường sống và suy giảm đa dạng sinh học. Trong suốt nhiều thập kỷ qua, các nỗ lực bảo tồn các vườn quốc gia và khu bảo tồn tập trung chủ yếu vào các điểm nóng đa dạng sinh học nơi chứa các loài hiếm, các loài bị đe dọa hay các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng. Tuy nhiên, các chiến lược bảo tồn dựa vào các khu bảo tồn có thể không đủ mức ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu. Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng môi trường sống ngoài các khu bảo tồn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của các loài và các quá trình lý sinh quan trọng trên toàn bộ cảnh quan. Vì vậy, các nỗ lực bảo tồn cần tập trung vào chiến lược toàn vẹn về hệ sinh thái. Đồng nghĩa, không chỉ tập trung vào bảo tồn trong các khu bảo tồn mà còn phải chú trọng hơn về việc bảo vệ các khu vực ngoài khu bảo tồn. Dựa vào những dữ liệu sẵn có và từ kiến thức đã được học cũng như những hiểu biết của bản thân, trong bài viết này, em muốn đề cập đến tầm quan trọng của việc bảo vệ đa dạng sinh học ở những khu vực không thuộc các khu bảo tồn.

Trang 1

-

BÀI TIỂU LUẬN

[Tầm quan trọng của bảo vệ đa dạng sinh học ở những khu vực không thuộc khu

bảo tồn]

Trang 2

I Mở đầu

Các khu bảo tồn trên toàn thế giới được coi là nền tảng của việc bảo tồn sinh thái để bảo vệ sự suy thoái môi trường sống và suy giảm đa dạng sinh học Trong suốt nhiều thập

kỷ qua, các nỗ lực bảo tồn các vườn quốc gia và khu bảo tồn tập trung chủ yếu vào các điểm nóng đa dạng sinh học - nơi chứa các loài hiếm, các loài bị đe dọa hay các loài đang

có nguy cơ tuyệt chủng Tuy nhiên, các chiến lược bảo tồn dựa vào các khu bảo tồn có thể không đủ mức ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng môi trường sống ngoài các khu bảo tồn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của các loài và các quá trình lý sinh quan trọng trên toàn bộ cảnh quan Vì vậy, các nỗ lực bảo tồn cần tập trung vào chiến lược toàn vẹn về hệ sinh thái Đồng nghĩa, không chỉ tập trung vào bảo tồn trong các khu bảo tồn mà còn phải chú trọng hơn về việc bảo vệ các khu vực ngoài khu bảo tồn

Dựa vào những dữ liệu sẵn có và từ kiến thức đã được học cũng như những hiểu biết của bản thân, trong bài viết này, em muốn đề cập đến tầm quan trọng của việc bảo vệ đa dạng sinh học ở những khu vực không thuộc các khu bảo tồn

Các hệ thống khu bảo tồn rộng lớn không thể đảm bảo bao quát hết tất cả sự đa dạng sinh học trên Trái Đất Các khu bảo tồn có thể chứa nhiều loài khác nhau, có độ đa dạng sinh học cao, và chứa các loài bị đe dọa Tuy nhiên, số lượng loài chúng ta biết đến nay chiếm bao nhiêu phần trăm số loài có trên Trái Đất? Có bao nhiều loài đang bị đe dọa?

đó là những câu hỏi không có câu trả lời, do đó còn nhiều quần thể quan trọng không có mặt trong các khu bảo tồn Điều đó cho thấy, việc bảo tồn ngoài khu vực bảo tồn là cần thiết cho việc bảo tồn đa dạng sinh học Dưới đây là một vài lý do cho thấy sự quan trọng của bảo vệ các khu vực không thuộc khu bảo tồn:

Thứ nhất, sự đa dạng sinh học vẫn tồn tại ở bên ngoài các khu bảo tồn Theo dữ liệu tính đến năm 2016, diện tích đất nằm trong các khu bảo tồn khoảng hơn 14% và các hệ

Trang 3

sinh thái nước được bảo tồn chiếm khoảng hơn 8.7% Thấy rằng gần 23% bề mặt trái đất nằm trong khu bảo tồn còn lại là nằm ngoài diện tích các khu bảo tồn Nhiều vùng đất nằm ngoài khu bảo tồn ở phần lớn các nước, vẫn chưa bị con người sử dụng một cách triệt để

và nhiều chỗ vẫn còn là nơi sinh sống phù hợp với nhiều loài hoang dã, mà nhiều loài động

vật, thực vật quý, hiếm vẫn gặp tại đây Phân tích của Rodrigues et al (2004) cho thấy một

phần tư số loài bị đe dọa trên thế giới hiện đang sống bên ngoài phạm vi của các khu bảo tồn Do đó, các khu bảo tồn không đủ để bảo tồn toàn bộ đa dạng sinh học Hơn nữa, mặc

dù các khu bảo tồn có kích thước nhỏ hay trung bình thì cũng có giá trị bảo tồn quan trọng, nhưng chúng có thể ít hộ trỡ sự tồn tại của nhiều quần thể về thời gian dài Hình dung đối với quần thể loài có kích thước vừa phải hay nhỏ, như loài sóc, khi các biện pháp bảo tồn được thực hiện tốt, quần thể phát triển nhanh chóng làm lượng các thể tăng lên, lúc này chúng cần khoảng không gian lớn hơn cho sự tồn tại lâu dài Đặc biệt đối với các loài có đặc tính di cư, cần vùng phân bố rộng, cần nguồn sống thay đổi theo thời gian và không gian thì sự có mặt của chúng trong các khu vực ngoài khu bảo tồn là chủ yếu Như vào năm

2000, thống kê của nhóm nghiên cứu về Swift Parot cho thấy, chỉ 2% cá thể xuất hiện trong khu bảo tồn, các phần còn lại xuất hiện trong vùng đất tư nhân và khu rừng sản xuất Vì vậy, để bảo tồn dài hạn các loài phụ thuộc vào việc quản lý ở ngoài khu bảo tồn

Thứ hai, các khu không được bảo vệ giúp ổn định toàn bộ hệ sinh thái Để tăng cường khả năng tồn tại của quần thể của những loài di động, làm giảm các hiện tượng phân mảng, đáp ứng nhu cầu về kích thước và phạm vi bảo tồn thì các khu bảo tồn phải có tính kết nối với nhau Trong khi đó, các khu vực không được bảo vệ đệm ở giữa các khu bảo tồn có thể đóng vai trò là “hành lang sống” hoặc bàn đạp sinh thái Chúng có vai trò kết nối các khu bảo tồn hoặc kết nối những sinh cảnh quan trọng nhưng không được bảo vệ để tạo điều kiện trao đổi, di chuyển của loài, trao đổi gene… hay cung cấp nơi sống tạm thời cho những loài di cư Ngoài ra, các yếu tố luôn tác động lẫn nhau trong cùng một hệ sinh thái cũng như giữa các hệ sinh thái với nhau Các hệ sinh thái ảnh hưởng lẫn nhau thông qua mạch nước ngầm, độ pH của đất, Do đó các khu bảo tồn sẽ có khả năng bị tuyệt chủng và cô

Trang 4

lập về chức năng khi môi trường xung quanh bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của con người hoặc quá trình cải biến của con người với cảnh quan

Thứ ba, các điệu kiện vô sinh và hữu sinh ở các khu vực ngoài khu bảo tồn ổn định Các khu vực ngoài tự nhiên có khả năng tự điều chỉnh để duy trì trạng thái cân bằng và có

sự trao đổi trong hệ sinh thái tốt hơn, vì vậy năng suất sinh thái cao Hơn nữa, sự đa dạng thực và động vật thường liên quan tới năng suất sản xuất và các quần thể loài đặc trưng có thể bị giới hạn trong khu vực có mức năng suất thấp Vì vậy, việc bảo tồn cần ưu tiên bảo tồn các khu ngoài tự nhiên Tuy nhiên, ở nhiều nước trên thế giới, các khu có năng suất cao

và có độ da dạng sinh học cao thường là các vùng cho nông nghiệp, môi trường đô thị hay

là của chủ tư nhân

Cuối cùng, việc quản lý các khu vực ngoài khu bảo tồn còn tạo được sự cân bằng giữa các nhu cầu thiết yếu của con người với hệ sinh thái tự nhiên Các khu rừng được quản lý thông qua các thỏa thuận địa phương, các hệ sinh thái nông nghiệp, rừng trồng,… cung cấp lương thực thực phẩm đáp ứng nhu cầu sống của con người, thúc đẩy sản xuất hàng hóa đáp ứng yêu cầu thị trường, thu nhập của người dân; đồng thời cũng duy trì ổn định đa dạng sinh học, giảm bớt áp lực đến việc xây dựng các khu bảo tồn

Chúng ta không thể phủ định vai trò của các khu bảo tồn đối với việc duy trì sự ổn định

và phát triển đa dạng sinh học Nhưng để muốn sự bảo tồn mang ý nghĩa lâu dài cần phải kết hợp với quản lý các khu vực ngoài khu bảo tồn bao gồm các rừng sản xuất, vùng đất công nghiệp và vùng đất đô thị… Sự kết hợp này sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng như: tạo khả năng tồn tại lâu dài cho động thực vật ngoài tự nhiên, cân bằng hệ sinh thái, đóng vai trò chính cho nông nghiệp bền vững (giúp kiểm soát sự xói mòn, hỗ trợ quản lý độ mặn,

…), cung cấp những thứ cần thiết cho phép sự di chuyển của các loài hoang dã và trao đổi gen giữa các vùng trong với ngoài khu bảo tồn, tăng quy mô bảo tồn đa dạng sinh và đại diện cho môi trường hơn, giảm áp lực lên các khu vực bảo tồn Tuy nhiên, việc bảo tồn

Trang 5

ngoài khu vực bảo tồn lại gặp phải các dào cản về xã hôi và chính trị Vì vậy cần có những biện pháp cụ thể để thực hiện các phương án bảo tồn hiệu quả nhất

- Slide bài giảng Bảo tồn đa dạng sinh học, Trần Anh Đức

- David Lindenmayer and Mark Burgman, 2005, Practical conservation biology

- Halladay, Patricia, ed ; Gilmour, Donald A., ed., 1995, Conserving biodiversity outside protected areas : the role of traditional agro-ecosystems

- Joseph Gwandu Gambay, 2014, Conservation Outside Protected Areas

- The World bank: Marine protected areas (% of territorial waters); Terrestrial protected areas (% of total land area)

https://data.worldbank.org/indicator/ER.MRN.PTMR.ZS?end=2016&start=1990& view=chart >

Ngày đăng: 27/01/2023, 21:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w