1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận cao học triết, vai trò của tri thức và tri thức khoa học đối với quá trình tiến hành công nghiệp hoá hiện đại ho

14 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của Tri thức và Tri thức Khoa học đối với Quá trình Tiến hành Công nghiệp hoá Hiện đại ho
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận cao học triết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 29,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, toàn cầu hoá đang là xu hướng chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới Các quốc gia hợp tác với nhau trên mọi lĩnh vực trong đó có lĩnh vực kinh tế Sự hợp tác đã đưa cá[.]

Trang 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, toàn cầu hoá đang là xu hướng chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới Các quốc gia hợp tác với nhau trên mọi lĩnh vực trong đó có lĩnh vực kinh tế Sự hợp tác đã đưa các Quốc gia xích lại gần nhau hơn, ranh giới giữa các Quốc gia dần bị xoá nhoà Trong hoàn cảnh hội nhập như vậy, trong khi nhiều ở quốc gia tình hình chính trị bất ổn thì Việt Nam với chính trị ổn định kết hợp với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam nổi lên thành thị trường nhiều tiềm năng và an toàn của các nhà đầu tư nước ngoài Những điều kiện khách quan đó đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội: giúp chúng ta có thể nhanh chóng tiếp cận được những phát minh thành tựu mới nhất của tiến bộ khoa học đồng thời góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho một lượng lớn lao động trong nước Tuy nhiên bên cạnh những cơ hội có được chúng ta cũng phải đương đầu với không ít thách thức Đó là cùng với làn sóng đầu tư mạnh mẽ thì mở cửa hội nhập khiến cho hàng hoá nước ngoài với chất lượng cao, giá thành rẻ tràn vào sẽ uy hiếp những mặt hàng cùng loại nhưng chất lượng kém hơn giá, thành lại cao hơn do trong nước sản xuất Ngoài ra, lao động Việt Nam phần lớn chỉ quen với lao động giản đơn, sản xuất nhỏ chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ trong điều kiện mới

Ngay từ Đại hội Đảng VIII, Đảng ta đã khẳng định:thời kỳ phát triển mới của đất nước là thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá Cũng

theo Đại hội Đảng VIII, mục tiêu Công nghiệp hoá là: “Xây dựng nước ta thành một nước có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,quốc phòng và an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội ”[trích văn kiện Đại hội Đảng VIII] Trong hoàn

cảnh đất nước hiện nay, Đảng và nhà nước ta vẫn kiên định đi theo mục tiêu của tinh thần Đại hội Đảng VIII: đẩy mạnh Công nghiệp hoá-Hiện đại hóa

Trang 2

Trong việc thực hiện chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế mà Đảng

và Nhà nước đã đề ra,để có khả năng tiếp nhận được những thành tựu của khoa học và công nghệ, để có thể rút ngắn quá trình Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá tri thức giữ một vai trò hết sức quan trọng Tri thức và tri thức khoa học đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và quan trọng hàng đầu

Xu thế tất yếu phát triển sức sản xuất là tập trung vào các ngày kinh tế đòi hỏi lao động trí óc là chủ yếu Việt Nam muốn đi lên Chủ nghĩa xã hội thì không thể dựa vào cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu, lực lượng lao động trình độ thấp mà phải xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủ nghĩa

xã hội,đó là cơ sở vật chất hiện đại với người lao động có trình độ chuyên môn cao Để đạt được những điều ấy chúng ta phải dựa trên nền tảng tri thức

và tri thức khoa học

Hiện nay Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn chuyển từ kinh tế Nông nghiệp sang kinh tế Công nghiệp trong khi đó trên thế giới rất nhiều Quốc gia

đã xây dựng thành công nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ hiện đại Trong hoàn cảnh đó, quá trình Công nghiệp hoá ở Việt Nam phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ lớn: Chuyển từ nền kinh tế Nông nghiệp sang nền kinh tế Công nghiệp đồng thời chuyển sang nền kinh tế dựa vào tri thức_kinh tế tri thức Hai nhiêm vụ này phải được thực hiện đồng thời, hỗ trợ

và bổ sung cho nhau Điều đó có nghĩa là phải nắm vững các tri thức và công nghệ mới của thời đại để hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đồng thời phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ Chúng ta phải dựa vào tri thức, vào khoa học công nghệ để chuyển dịch kinh tế theo hướng tăng nhanh vào các ngành kinh tế tri thức Để thực hiện được những điều đó thì phải nhận thức được vai trò của tri thức và tri thức khoa học đối với quá trình tiến hành Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá ở Việt Nam ra sao và từ đó cần có giải pháp như thế nào để phát huy một cách có hiệu quả nhất vai trò ấy của tri thức? Em

hy vọng với việc thực hiện đề tài này mình sẽ góp phần giải quyết phần nào vấn đề ấy

Trang 3

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1/Cơ sở lý luận:

a.Một số khái niệm liên quan:

-Tri thức là gì?

“Tri thức là kết quả quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình thức ngôn ngữ hoặc hệ thống ký hiệu khác.”

-Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá là gì?

“Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế-xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa hoc-công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.”

b.Vai trò của tri thức:

Tri thức là nhân tố cơ bản của ý thức,là phương thức tồn tại của ý

thức.Theo C.Mác “Phương thức mà theo đó ý thức tồn tại là tri thức Cho nên một cái gì đó nảy sinh ra với ý thức, chừng nào ý thức biết cái đó” [Giáo

trình trung học chính trị:Những nguyên lý cơ bản của triết học Mác-Lênin.tr.49(Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)_dẫn từ “C.Mác: Bản thảo kinh tế triết học.1844.ST.H.1962.tr204”] Ý thức có một vai trò hết sức quan trọng đối với con người do vậy tri thức cũng có vai trò không nhỏ Lịch

sử phát triển của loài người từ thời kỳ hình thành người vượn đến nay luôn tồn tại song hành cùng với tri thức Và cùng với quá trình phát triển đó của lịch sử loài người thì tri thức cũng không ngừng phát triển Ban đầu, đó chỉ là những tri thức thông thường được hình thành nên do hoạt động hàng ngày của mỗi cá nhân Những tri thức ấy còn mang tính chất cảm tính trực tiếp, bề ngoài và rời rạc Con người với trình độ nhận thức này mới chỉ biết đến

Trang 4

những hiện tượng chứ chưa biết được bản chất thực sự nào đã gây nên hiện tượng đó Mặc dù vậy, vai trò của những tri thức này cũng không hề nhỏ Nhờ những tri thức dù còn rất sơ khai này con người đã tách ra khỏi thế giới động vật Và những tri thức ấy chính là cơ sở để con người phát triển tri thức của mình lên trình độ cao hơn: “Tri thức khoa học” Tri thức khoa học đã phản ánh trình độ của con người đi sâu vào nhận thức thế giới hiện thực Con người với những tri thức khoa học này đã tìm hiểu được cả bản chất gây nên những hiện tượng quan sát được Vai trò của tri thức, tri thức khoa học được thể hiện thông qua việc con người sử dụng những tri thức có được để tác động vào cải tạo tự nhiên, nâng cao cuộc sống của mình Từ những kết quả con người đã đạt được trong lịch sử phát triển của mình, có thể thấy được vai trò quan trọng của tri thức Tri thức mà đặc biệt là tri thức khoa học có vai trò hết sức quan trọng góp phần tạo ra mọi thành tựu và tiến bộ trong lịch sử nhân loại Tri thức là cơ sở để con người xác định đúng đắn mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt độngphù hợp Tri thức, tri thức khoa học được xem là động lực cho sự phát triển của xã hội loài người Con người với những tri thức đã có không sử dụng một cách thụ động mà trái lại luôn chủ động để tìm kiếm, thu thập thêm nhiều tri thức mới trên mọi lĩnh vực Tri thức và tri thức khoa học

là hệ thống những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật phản ánh những mối liên hệ của tự nhiên, xã hội và tư duy được thể hiện dưới dạng các ngôn ngữ Là hệ thống những lý luận nên tri thức khoa học giải thích được các hiện tượng đang tồn tại và dự đoán được các quá trình phát triển tương lai của hiện tượng Từ những tri thức khoa học có được con người có thể định hướng, chỉ đạo, điều chỉnh hoạt động nhằm thống trị tự nhiên và điều chỉnh các hoạt động xã hội cũng như quá trình nhận thức Nhờ có tri thức khoa học mà con người không ngừng vươn tới cái mới, sáng tạo ra “thế giới mới” và ngày càng thống trị tự nhiên, xã hội và làm chủ bản thân

Nguồn gốc của tri thức là những hoạt động hàng ngày của cá nhân còn nguồn gốc sâu xa của tri thức khoa học là do nhu cầu phát triển của sản

Trang 5

xuất Vì vậy nếu như vai trò của tri thức đối với đời sống con người rất quan trọng thì vai trò của tri thức khoa học đối với kinh tế đặc biệt là trong lĩnh vực Công nghiệp cũng vô cùng to lớn Trong lịch sử phát triển của tri thức nhân loại tri thức khoa học từ chỗ ảnh hưởng còn rất yếu đến sản xuất và đời sống

xã hội (thời kỳ nhận thức của con người mới ở trình độ sơ khai) đã dần trở thành một tiền đề của Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá, trở thành nội dung tinh thần của lực lượng sản xuất, trước hết là cơ sở lý luận chế tạo ra những công

cụ lao động ngày càng hoàn thiện, cho phép tiêu hao lao động sống ít hơn nhưng kết quả lao động lại lớn hơn, hiệu quả hơn Cùng với sự phát triển của

xã hội, tri thức khoa học cũng phát triển ngày càng mạnh mẽ Giờ đây, khi mà khoa học, công nghệ và kỹ thuật thống nhất chặt chẽ với nhau thì tri thức khoa học đã được kết tinh trong mọi nhân tố của lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất Người lao động không còn hoàn toàn là nhân tố thao tác trực tiếp

hệ thống kỹ thuật mà chủ yếu vận dụng tri thức để điều khiển kiểm tra quá trình sản xuất Tri thức khoa học giúp cho con người hoàn thiện các phương pháp sản xuất và quản lý kinh tế biến khoa học thành lực lượng sản xuất và trở thành ngành hoạt động sản xuất với quy mô lớn

2/Vận dụng lý luận vào thực tiễn Việt Nam:

a Vai trò của tri thức, tri thức khoa học với quá trình Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá và thực trạng tri thức, tri thức khoa học, Khoa học-Công nghệ ở Việt Nam

Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã đưa ra chiến

lược phát triển kinh tế của nước ta là:“Chiến lược đẩy mạnh Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [Văn kiện

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX] Tuy nhiên, chúng ta phải nhận thức rằng nước ta tiến lên Chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, lao động thủ công là chủ yếu, cơ sở vật chất của nước ta đã lạc hậu so

Trang 6

với thế giới hàng chục năm Vì vậy mà vai trò của tri thức và tri thức khoa học càng trở nên quan trọng

Tri thức và tri thức khoa học sẽ nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động Việt Nam, giúp cho người lao động Việt Nam đáp ứng được yêu cầu về tay nghề trong sản xuất hiện đại Tri thức khoa học còn là cơ sở để Việt Nam thực hiện Hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn từ đó chuyển dịch

từ một nền kinh tế Nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế Công nghiệp hiện đại Ngoài tri thức khoa học còn là nền tảng để chúng ta xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại với trang thiết bị có công nghệ cao từ đó đồng thời chuyển nền kinh tế Công nghiệp sang nền kinh tế dựa vào tri thức Hơn nữa không giống như những nguồn lực khác bị mất đi khi sử dụng, tri thức có thể được chia sẻ và qua đó càng tăng lên, vì vậy mà tri thức các có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế Tri thức được xem như là nguồn lực hàng đầu tạo sự tăng trưởng

Quả thực, tri thức và tri thức khoa học giữ vai trò rất quan trọng đối với quá trình tiến hành Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá ở Việt Nam Tuy nhiên thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều chuyện xung quanh vấn đề tri thức, tri thức khoa học và khoa học Công nghệ ở nước ta cần phải giải quyết

Bên cạnh những chuyển biến tích cực nhờ sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước vào Khoa học và Công nghệ thì vẫn còn nhiều tồn tại cần được khắc phục Hiện nay, ở Việt Nam tri thức và tri thức khoa học đã bước đầu trở thành các luận cứ khoa học để phục vụ yêu cầu hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, cơ chế, chính sách Công nghệ thông tin đã bước đầu được phổ biến rộng rãi giúp mọi người có khả năng nắm bắt được các tri thức mới của trong nước cũng như trên thế giới Ngoài ra sự phát triển về công nghệ thông tin cũng đã góp phần giúp cho việc sáng tạo và chia sẻ tri thức mới diễn ra thuận lợi hơn Khả năng sáng tạo của người Việt Nam được phát huy: đã xuất hiện nhiều phát minh mới dựa trên nền tảng tri thức khoa học có khả năng ứng dụng cao

Trang 7

Tuy nhiên, trên thực tế có thể nhận thấy tri thức, tri thức khoa học cũng như Công nghệ của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Mặc dù hơn 20 năm đổi mới vừa qua, nhất là trong 10 năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt chú trọng đẩy mạnh hoạt động khoa học và phát triển Công nghệ của đất nước, nhưng trên thực tế, hoạt động này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước. “Hiện nay, theo thống kê nước ta có khoảng 2 triệu công nhân kỹ thuật, trên 2.250.000 người có trình độ Đại học và Cao đẳng, trên 18.000 thạc sỹ và 16.000 tiến sỹ và tiến sỹ khoa học, trong đó có 610 tiến sỹ khoa học Bình

quân có 193 cán bộ khoa học công nghệ trên 10.000 dân Theo Báo cáo Phát triển con người năm 2004 của UNDP, ở Việt Nam đang có khoảng 50.000

người làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Trong số này có hơn 37.000 người (72% có trình độ Đại học trở lên) làm việc trong các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Nhà nước, với 68.9% làm việc theo chế độ biên chế và 31.1% làm việc theo hợp đồng Tuy nhiên tháp nhân lực khoa học công nghệ này của nước ta còn rất hẹp nếu như so sánh với một nước Công nghiệp phát triển có dân số tương đương với Việt Nam hiện nay là CHLB Đức với 82 triệu dân trong đó

có 16 triệu tiến sỹ khoa học” [“Phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”_TS.Bùi Sỹ Tiếu-Tạp chí cộng sản

số 127- tháng 4/2007] Mặt khác, đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học của nước ta không chỉ thiếu về lượng mà còn yếu về chất: Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học còn hạn chế về trình độ, bất hợp lý về cơ cấu

Ngoài ra kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của nước ta còn thể hiện thông qua số lượng các công trình nghiên cứu khoa học được công bố và số lượng các đăng ký sáng chế hằng năm ở Việt Nam: năm 1996 có 3954 bài báo đăng trên các tạp chí khoa học công nghệ trong nước, đến năm 2005 con số đó là 12.326 Số lượng đăng ký sáng chế và các giải pháp hữu ích năm 1996 là 1987 tăng lên thành 2162 vào năm 2005

Trang 8

Trong tổng số đó thì % số lượng đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích của người Việt Nam còn rất khiêm tốn từ 7,2% năm 1996 lên 13,8% năm 2005 [Tạp chí cộng sản số127- tháng 4/2007] Mặc dù kết quả cho thấy việc nghiên cứu khoa học và công nghệ của nước ta đã có nhiều tiến bộ trong hơn 10 năm trở lại đây tuy nhiên quả thực đây vẫn là những con số không mấy khả quan

về thực trạng phát triển tri thức, tri thức khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay Kết quả đó hoàn toàn chưa phù hợp với tiềm lực tri thức của Việt Nam

b Các giải pháp nhằm phát huy vai trò của tri thức và tri thức khoa học đối với quá trình tiến hành Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá ở Việt Nam

Cả thế giới hiện nay đang trong xu thế toàn cầu hoá và phát triển kinh

tế dựa vào tri thức Chính lúc này đây chúng ta đang có những điều kiện mới

mẻ cho việc phát huy những tiềm năng lớn mạnh của Việt Nam(từ tài nguyên thiên đến tiềm lực con người vốn thực sự dồi dào nhưng bị sử dụng lãng phí) vào quá trình tiến hành Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá Việt Nam đang đứng trước những cơ hội rất lớn Để không bỏ lỡ cơ hội thì chúng ta cần nắm bắt các tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại vận dụng vào quá trình Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá, thực hiện đồng thời hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn và phát triển nhanh các ngành kinh tế dựa vào tri thức Muốn làm được những điều ấy thì chúng ta cần phải làm gì?

Thứ nhất, phải đổi mới cơ chế quản lý, phát huy mọi khả năng sáng

tạo của người dân, tạo điều kiện cho tất cả mọi người nâng cao tri thức, phát huy một cách tốt nhất khả năng của mình đóng góp vào phát triển kinh tế

Thứ hai, phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí,

đào tạo nhân tài Tri thức là điều kiện quan trọng bậc nhất để khai thác thời

cơ, vượt qua thử thách thực hiện quá trình Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá, do vậy nâng cao tri thức cũng là yêu cầu quan trọng bậc nhất Từ lâu Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và xem Giáo dục là quốc sách hàng đầu trong điều kiện mới hiện nay càng cần có sự quan tâm hơn nữa, khuyến khích cải cách

Trang 9

Giáo dục Đây là một yếu tố quyết định việc chúng ta có thể đi nhanh vào các ngành kinh tế dựa vào tri thức hay không Bên cạnh Giáo dục-Đào tạo thì phải xây dựng thế hệ người Việt Nam có bản lĩnh, lý tưởng, khả năng sáng tạo, làm chủ được tri thức hiện đại, quyết tâm đưa nước ta lên trình độ phát triển sánh kịp với các nước Việt Nam được xem là nước có truyền thống thông minh, sáng tạo, hiếu học và học giỏi Chúng ta cũng đã có những trí thức có những đóng góp lớn cho nền khoa học Thế giới Con người Việt Nam không những thông minh để tiếp thu tri thức của nhân loại mà còn có bàn tay khéo léo trong lao động Đó là những thuận lợi lớn của nước ta Xét đến cùng, khoảng cách giữa chúng ta với các phát triển chủ yếu là khoảng cách về tri thức Vì vậy, nếu chúng ta có thể phát triển mạnh nền Giáo dục tiên tiến phù hợp xu thế phát triển của thời đại, có kế hoạch đào tạo nhân tài thì hoàn toàn

có thể rút ngắn được khoảng cách đó

Thứ ba, là tăng cường năng lực về Khoa học Công nghệ Quốc gia,

thực hiện tốt chính sách chủ trương về Khoa học Công nghệ:

-Phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài

-Phát huy sức sáng tạo khoa học: chú trọng công tác đào tạo và có chính sách đãi ngộ, tạo điều kiện cho cán bộ nghiên cứu, ứng dụng Khoa học Công nghệ

-Có chính sách khuyến khích và bắt buộc doanh nghiệp ứng dụng Khoa học, đổi mới Công nghệ, có chính sáchkhuyến khích cho các doanh nghiệp trong ngành Công nghệ cao

-Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và ứng dụng thành tựu Khoa học và Công nghệ; tăng nhanh năng lực Khoa học Công nghệ nội sinh đi đôi với tăng cường tiếp thu, làm chủ, ứng dụng thành tựu Khoa học-Công nghệ của thế giới; xây dựng quy chế nghiên cứu Khoa học trong các trường Đại học và về công tác giảng dạy, đào tạo của các viện nghiên cứu Khoa học Công nghệ

Trang 10

-Tăng cường đầu tư cho Khoa học Công nghệ, tập trung đầu tư vào các công trình nghiên cứu Quốc gia, phấn đấu đạt trình độ khu vực và Thế giới

-Phát triển nhanh các khu Công nghệ, xây dựng tiềm lực Khoa học và Công nghệ cho một số khu vực trọng điểm Công nghệ cao, tổ chức lại chương trình Kinh tế -Kỹ thuật, đặc biệt cần tổ chức có hiệu lực chỉ đạo phát triển Công nghệ thông tin

-Đổi mới cơ bản cơ chế quản lý Khoa học và Công nghệ, đặc biệt là

cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù và khả năng rủi ro của hoạt động Khoa học Công nghệ

-Đẩy mạnh hợp tác Quốc tế, chuyển giao công nghệ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Khoa học Công nghệ Trong quá trình chuyển giao công nghệ và nhập khẩu công nghệ vào phải có sự chọn lọc

kỹ lưỡng tránh tình trạng biến nước ta thành bãi rác công nghệ cho nước ngoài Cần có sự thu hút các chuyên gia, đặc biệt là chuyên gia giỏi người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia giảng dạy, phát triển Khoa học Công nghệ tại Việt Nam, giảm thiểu nguy cơ “chảy máu chất xám”

Thứ tư, cải cách hành chính và tạo lập một khuôn khổ pháp lý mới có

khả năng thúc đẩy mọi sáng tạo, làm cho sản xuất “bung ra”, đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp tri thức, phù hợp với xu thế toàn cầu hoá mà nước ta đang trong quá trình hộ nhập Để thực hiện được điều này cần xác định đúng vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa

Ngày đăng: 27/01/2023, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w