16 I MỞ ĐẦU 1 1 Điều kiện tự nhiên – xã hội và sự ra đời của triết học Ấn Độ cổ đại Ấn Độ là một quốc gia có vị trí địa lý tương đối độc lập, như một “tiểu lục địa” Địa hình rộng lớn và đa dạng, vừa c[.]
Trang 11.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội và sự ra đời của triết học Ấn Độ cổ đại:
Ấn Độ là một quốc gia có vị trí địa lý tương đối độc lập, như một “tiểu lục địa” Địa hình rộng lớn và đa dạng, vừa có biển sâu thăm thẳm vùi “địa ngục” vừa có núi cao chót vót “trụ trời”; khí hậu biến đổi khắc nghiệt, cùng thời điểm trên đất nước ấy, vừa có nơi tuyết rơi vừa có nơi nắng nóng, vừa có nơi lũ lụt vừa có nơi hạn hán, sa mạc… Phía Đông Nam và Tây Nam giáp Ấn Độ Dương, phía Bắc là dãy Himalaya hùng vĩ được ví như “nóc nhà” của thế giới, “xứ sở tuyết”, “nơi cư ngụ của thần linh”
Ấn Độ cổ đại là quê hương của một trong những chiếc nôi văn minh lớn hàng đầu của nhân loại, một xã hội đa dân tộc, đa ngôn ngữ bậc nhất so với các nền văn minh lớn cùng thời Những khu định cư sớm nhất đã xuất hiện từ 7 nghìn năm trước Công nguyên (TCN), rồi dần phát triển Văn minh lưu vực sông Ấn của người Dravidian khoảng năm 3300 – 1500 TCN
Sau đó là sự phát triển rực rỡ của văn minh sông Hằng, Văn minh Vệ Đà, do các bộ tộc Ấn-Aryan lập ra Thời đại Veda kéo dài một ngàn năm (1500 – 500 TCN), với nguồn mạch tư tưởng từ đa thần (Thiên Thư Veda, thế giới quan thần thoại), sang nhất thần (Phạm Thiên Thư Brahmana, tinh thần vũ trụ tối cao), rồi đến Triết học (Áo nghĩa thư Upanishad, tư duy triết học hình thành)
Tiếp theo là thời đại Phật giáo và Bàlamôn giáo (500 TCN – 900 SCN) Các trường học cổ đã xuất hiện ở Taxila, Nalanda, Pataliputra và Ujjain Đặc biệt cuối thế
kỷ thứ 3 TCN, vương triều Maurya của Chandragupta Maurya và Ashoka Đại đế đã thống nhất hầu hết Nam Á hiện nay, được coi là "Thời đại vàng son"
Xã hội Ấn Độ cổ đại có sự phân chia đẳng cấp khắt khe theo kinh Veda: Miệng thần sáng tạo Brahma là đẳng cấp Brahmana (Bà la môn), hai vai thần là đẳng cấp Kshatriya (quý tộc, võ sĩ), hai bắp đùi thần là đẳng cấp Vaishya (thương nhân, bình dân tự do), hai bàn chân thần là đẳng cấp Shudra (tiện dân, nô lệ) Những bộ luật cổ của Ấn Độ như Dhamashas (Pháp điển) và Manuosmtri (Ma nu) đã thừa nhận và bảo
Trang 2vệ nó, đồng thời khẳng định: Hết thảy những gì có trong vũ trụ đều thuộc sở hữu của người Bà La Môn (Doãn Chính, tr.43)
Xuyên suốt quá trình lịch sử đó, đã hun đúc nên văn minh Ấn Độ cổ đại độc đáo, riêng biệt, tỏa sáng một góc trời rộng lớn của nhân loại Nền văn minh này đã đạt được những thành tựu rực rỡ và vĩ đại trên nhiều lĩnh vực, trong đó có các ngành k hoa học, Cơ khí, xây dựng, nghệ thuật, văn chương, toán học, thiên văn học, tôn giáo và triết học
Không chỉ có thế, tất cả các học thuyết triết học Ấn Độ còn có chung một điểm xuất phát, đó là từ kinh Vệ Đà (Veda), mà trực tiếp nhất là Upnishad Veda
có nghĩa là "tri thức", cũng được xem như suối nguồn tinh hoa của văn minh Ấn Độ, với quan niệm: Cái gì không có trong kinh Veda thì sẽ không tìm thấy trong hiện thực Nhưng không phải học thuyết nào cũng đồng thuận với nội dung tư tưởng của Veda và Upanishad Cũng chính từ đây, dòng triết lý Ấn Độ bị chia đôi
Một đằng là những trường phái triết học chính thống thuộc Bà La Môn, vì
tất cả họ, dù có khác nhau thế nào đi chăng nữa, đều thừa nhận sự mặc khải tối cao của Veda và tinh thần sáng tạo tuyệt đối của Brahman, đồng thời biện hộ cho giáo lý của Bà La Môn và bảo vệ chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắt khe Đó là 6 trường phái mang tên: Samkhya, Nyaya, Vaisesika, Mimansa, Yoga, Védanta
Một đằng là những trường phái triết học không chính thống, phủ nhận uy
thế tối cao của Veda và tinh thần sáng tạo của Brahman, phê phán giáo lý của Bà La Môn và chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội hà khắc Đó là các trường phái: Phật giáo, Jaina, Lokayata (Charvaka)
1.2 Sự ra đời của Phật giáo:
Phật giáo ra đời cuối thế kỷ VI TCN ở miền Bắc Ấn Độ cổ đại (nay thuộc Nêpan), trong bối cảnh tất cả các dòng triết lý và tôn giáo thời kỳ đó đều không giải quyết được các vấn đề khổ đau và phiền não của con người Họ bị phân hoá mạnh mẽ
Trang 3theo các xu hướng khoái lạc, ngẫu nhiên, duy vật, hoài nghi mọi thứ, huyền bí ma thuật, tu khổ hạnh, tu đức hạnh, tụng kinh
Người sáng lập là Tất-đạt-đa Cồ-đàm (siddhattha gotama, 563 – 483 TCN), con đầu vua Tịnh Phạn Siddhartha có nghĩa là “người thực hiện được mục đích” Năm 29 tuổi, Ngài từ bỏ cuộc đời vương giả, rồi theo học nhiều vị thầy tài giỏi và tu tập khổ hạnh suốt 6 năm trời để tìm đường diệt khổ cho chúng sinh nhưng vẫn bế tắc Đến năm 35 tuổi, ngài tự mở con đường trung đạo và đi đến “giác ngộ” sau 49 ngày đêm suy tưởng dưới gốc Bồ Đề nghìn tuổi
Phật-đà hay Bụt-đà (buddha), là danh hiệu của Tất-đạt-đa Cồ-đàm có được
sau khi “tỉnh thức”, “giác ngộ” được Pháp (dhamma) – nguyên lý của vạn vật Người
ta còn gọi là Sakya-muni (Thích Ca Mâu Ni), có nghĩa là ông thánh hay nhà hiền triết của tộc người Thích Ca hoặc xứ Sakya Ngài là vị bồ tát trong kiếp chót của vòng luân hồi đã tìm con đường để diệt trừ khổ não cho chúng sinh
Sau khi đắc đạo, Đức Phật thuyết pháp độ đời trong vòng 45 năm chuyển pháp luân Khi Phật còn sinh tiền, các giảng thuyết đều chỉ truyền miệng Phật lại tùy theo trình độ hiểu biết và khả năng hấp thụ của từng người để có lời giảng thích hợp Các phương pháp dùng lại rất phong phú tùy theo đối tượng, hoàn cảnh và phương tiện
Do đó, sự dị biệt khó tránh khỏi trong các lời giảng
Ngay sau khi Phật nhập diệt, đã có các đệ tử cho rằng phải làm điều này, không làm điều nọ khiến Ma-ha-ca-diếp phải đề xuất và chủ trì Đại hội Kết tập Kinh điển lần thứ nhất vào khoảng đầu thế kỷ thứ 5 TCN Kết quả sau này ghi lại thành các kinh: Trường A Hàm (Digha agama), Trung A Hàm (Majjhima agama), Tăng Nhất A Hàm (Anguttara agama), Tạp A Hàm (Samyutta agama) Đây là các tài liệu cổ nhất
có ghi lại cuộc đời của Phật và hoạt động của Tăng đoàn, đánh dấu bước đầu hình thành Kinh tạng và Luật tạng, làm căn bản cho Phật giáo nguyên thủy
100 năm sau khi Phật nhập diệt, nhiều người muốn thay đổi giới luật, đồng thời còn nhằm mục đích ngăn không để các tư tưởng của các đạo khác thâm nhập vào giáo
Trang 4lý Phật giáo, vì thế, Đại hội Kết tập Kinh điển lần thứ hai ra đời Trong đại hội, những người không đồng ý với việc giữ nguyên giới luật ban đầu đã thành lập Đại chúng bộ
(Mahasanghika) Số người còn lại lập nên Thượng tọa bộ (Theravada).
300 năm sau khi Phật nhập diệt, Phật giáo đã phát triển mạnh ra ngoài Ấn Độ, nhưng sự phân hóa ngày càng sâu sắc Dưới sự bảo trợ của vua Asoka, Đại hội Kết tập Kinh điển lần thứ ba vào năm 225 TCN được tiến hành Kết quả, đây là lần đầu tiên, Tam Tạng kinh, bao gồm: Kinh tạng (ghi lời Phật dạy), Luật tạng (các giới luật), Luận tạng (các bài kinh, tác phẩm luận giải, bình chú) đã được hoàn thiện, rồi được dịch sang tiếng Pali và còn nguyên vẹn cho đến nay Những nguyên lý cơ bản và đồ
sộ của Phật giáo được thể hiện chủ yếu trong đó
Những Đại hội kết tập kinh điển về sau có nhiều quan điểm khác nhau, song đa
số các học giả đều coi đó là hoạt động riêng của Thượng Tọa Bộ (Theravada)
II THẾ GIỚI QUAN VÀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
Trong ba câu hỏi tối hậu theo truyền thống triết học phương Tây: Nguồn gốc con người? Bản chất của con người? Con người sẽ đi về đâu? Mở rộng ra là những câu hỏi tương tự về thế giới Đó cũng chính là những câu hỏi mà hầu hết các tôn giáo đều đặt ra và giải quyết theo cách của riêng mình
Nhưng Phật giáo là một trường hợp đặc biệt, không theo lối tư duy ba bước đó,
mà bỏ qua bước (câu hỏi) thứ nhất, để đi thẳng vào câu hỏi thứ hai và thứ ba Tất nhiên, trong quá trình trả lời cho hai câu hỏi còn lại, Phật giáo không thể không tránh khỏi việc hé lộ ở mức độ nhất định về khung “đáp án” cho câu hỏi thứ nhất (mặc dù vậy cũng không tìm được một căn cứ thật sự rõ ràng)
Tư tưởng triết học của Phật giáo được trình bày một cách thống nhất không thể tách rời giữa thế giới quan và nhân sinh quan Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu và diễn đạt, chúng ta tạm tách rời để nghiên cứu hai vấn đề này trong quan điểm triết học của Phật giáo
Trang 52.1 Thế giới quan Phật giáo:
2.1.1 Vấn đề bản thể luận:
Phật giáo đưa ra ba quan niệm chủ yếu về thế giới:
Một là, Vô tạo giả:
Toàn bộ thế giới vũ trụ vạn vật cũng như con người không do ai sáng tạo ra, không do ai làm chủ, mà vốn tồn tại “chân như”, vô cùng vô tận trong không gian và
vô thủy vô chung trong thời gian Tuy nhiên, sự tồn tại của từng thế giới và từng con người hay từng sự vật hiện tượng lại rất hữu hạn cả trong không gian và thời gian
Xét về mặt không gian, vũ trụ là vô cùng vô tận Thế giới của chúng ta chỉ là
một trong hằng hà sa số thế giới (nhiều như cát sông Hằng) Cứ một ngàn thế giới nhỏ như chúng ta hiệp thành một Tiểu thiên thế giới, một ngàn Tiểu thiên thế giới hợp thành một Trung thiên thế giới; một ngàn Trung thiên thế giới hợp thành một Đại thiên thế giới (hoặc "tam thiên đại thiên thế giới"); một ngàn Đại thiên thế giới hợp thành một Quốc độ Như vậy, nghĩa là mỗi Quốc độ có đến một ngàn tỷ thế giới nhỏ như thế giới chúng ta Mà vũ trụ nói chung lại có vô số Quốc độ như thế, không sao
kể hết
Xét về mặt thời gian, vũ trụ là vô thủy vô chung, không khởi đầu không kết
thúc Nếu lấy riêng ra một thế giới để đo lường thời gian, thì chúng ta sẽ có một con
số như sau: Mỗi một thế giới đều có bốn thời kỳ (trung kiếp); mỗi trung kiếp có hai mươi tiểu kiếp, mỗi tiểu kiếp có mười sáu triệu (16.000.000) năm Như thế một thế giới từ khi thành lập, đến khi tiêu diệt, phải trải qua: 4x20x16.000.000 = 1.280.000.000 (1,28 tỷ) năm Nhưng thế giới là hằng hà sa số, nên sự tồn tại của thời gian cũng là vô tận vô cùng, không thể tính được
Hai là, Vô ngã (natman):
Bản chất của thế giới, cũng như của mọi sự vật hiện tượng và của con người đều do sự tụ hợp của Sắc (vật chất) và Danh (tinh thần) Đó là 5 yếu tố (ngũ uẩn): Sắc
Trang 6(vật chất), Thụ (cảm giác), Tưởng (tư tưởng, ấn tượng), Hành (ý chí, tư duy nói chung), Thức (tự ý thức) Nhưng Danh và Sắc chỉ tụ hội trong thời gian ngắn rồi chuyển sang trạng thái khác, do vậy “ không có cái tôi” (vô ngã - natman)
Vì vậy, Phật giáo chủ trương thuyết duyên khởi (nguyên nhân hay lý do phát
sinh biến đổi của mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ) Mọi vật đều do “nhân duyên”
mà có Ở trong thế giới hiện tượng, ta thấy muôn vật có sinh có diệt, có thủy có chung, chuyển biến vô thường Nhưng nếu xét toàn thể vũ trụ vô thủy vô chung thì nó
là “thường trụ” trong chuỗi nhân quả nối tiếp không ngừng, nhân của cái này là quả của cái nọ, quả của cái nọ là nhân của cái kia… từ quá khứ đưa đến hiện tại, từ hiện tại đưa đến tương lai, ngó về trước không tìm đâu thấy có thủy, ngoảnh lại sau chẳng thấy có chung, nhân quả tuần hoàn, nhân duyên trùng điệp…
Duyên khởi luận trong Phật giáo có nhiều thuyết, nhưng những thuyết này không trái ngược nhau, mà chỉ khác nhau về phương diện sâu cạn hay mức độ đề cập
mà thôi Nếu xét từ “cạn” đến “sâu”, từ tầng “thấp” đến tầng “cao” thì bao gồm:
Thứ nhất, Nghiệp cảm duyên khởi:
Đay là chủ trương của Phật giáo nguyên thủy Tiểu thừa Lý thuyết này rút ra từ
"Tứ diệu đế" và "Thập nhị nhân duyên", cái vòng nhân quả luân hồi cứ tiếp tục mãi, tạo ra có “chánh báo” là thân ta và “y báo” tức là sơn hà đại địa Người khi tạo những nghiệp nhân làm người thì đời sau đầu thai lại Nhưng nếu tạo những nghiệp nhân dữ, thì chánh báo ở đời sau sẽ là loài súc sinh hay ngạ quỷ, và y báo, tức là cảnh giới ở chung quanh cũng không còn giống như cảnh giới của người nữa, nghĩa là vũ trụ, vạn hữu sẽ biến đổi theo tầm mắt và sự hiểu biết của các loài ấy Do đó mà gọi là "nghiệp cảm", nghĩa là do nghiệp như thế nào, thì cảm thọ cái thân và cảnh như thế ấy Dứt trừ được nghiệp là trở về với Chân như, là nhập Niết bàn
Thứ hai, A lại da duyên khởi
Trang 7Thuyết này thuộc về Đại Thừa Phật giáo nguyên thủy, đi sâu hơn nghiệp cảm duyên khởi, chỉ nói có sáu thức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý Sau khi chết, ngũ uẩn tan rã, nghiệp lực dẫn dắt đi đầu thai
Đại Thừa bổ khuyết cho thuyết trên bằng hai thức là Mạt na thức (đệ nhất thức)
và A lại da thức (đệ bát thức) “Mạt na” nghĩa là cầm bắt lấy chỗ thấy biết, tự nhận có một cái ngã, và gìn giữ cái ngã ấy Nhưng làm sao giữ được cái giả ngã ấy, trong lúc ngũ uẩn, lục thức đều sanh diệt vô thường hợp ly mãi mãi? Vậy thì dưới Mạt na thức, tất phải có một thức khác thường tại, trùm chứa tất cả chủng tử của các pháp mới được Đó chính là thức thứ Tám, hay A lại da thức, hay tạng thức (thức trùm chứa) Thức này không phải vô thường như ngũ uẩn, mà là hằng khởi, thường tại
A lại da thức là nền móng của nhân quả luân hồi, cũng là căn nguyên của giải thoát, vì trong A lại da thức có đủ cả chủng tử hữu lậu (những hạt giống phát sanh ra thiên sai vạn biệt, tức là hiện tượng giới) và chủng tử vô lậu (đối với ngoại giới biết
có hư vọng, cho nên không đủ cho tâm vọng đọng, do đó có thể đưa đến sự giải thoát)
Thứ ba, Chân như duyên khởi:
Thuyết này là của Đại Thừa Phật giáo nói chung, theo đó, “chân như” tùy duyên sinh ra muôn pháp, hay vạn pháp duy tâm, nhất thiết duy tâm tạo (tất cả đều do tâm mà ra) Tâm bao gồm tất cả, có thể ví như biển Đứng về phương diện nước mà nhìn, thì tất cả sóng đều là nước; đứng về phương diện sóng mà nhìn, thì tất cả nước đều là sóng Tâm dụ cho biển, Chân như dụ cho nước, và vạn tượng giới dụ cho sóng Chúng sanh, vì vô minh che lấp nên chỉ thấy có vạn tượng giới Bồ tát và Phật vì đã trừ vô minh nên thấy vạn tượng là chân như
Tịnh là chân như, Động là vạn tượng Động, Tịnh không rời nhau, không cùng
là một, nhưng cũng không phải là khác nhau Đó là hai phương diện của Tâm Để chỉ hai phương diện này, trong kinh Phật thường có câu: "Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên" Từ tịnh trở thành động là đi vào cửa của sanh diệt, và đó cũng là nguyên
Trang 8nhân phát triển của vũ trụ vạn hữu Từ động trở về tịnh là đi ra cửa chân như, và đó cũng là nguyên nhân của giải thoát
Thứ tư, Lục đại duyên khởi:
Đây là chủ trương của Mật tông hay Chân ngôn tông Lục đại là: địa, thủy, hoả, phong, không (tức là không gian) và thức Năm đại trước thuộc về sắc pháp (tức là vật), đại thứ sáu thuộc về tâm pháp (tức là tâm) Từ sáu đại này mà tùy duyên sinh khởi ra vũ trụ vạn vật Chia ra vật và tâm nhằm để ta phân biệt, chứ thực tại không thể phân chia được, nếu tách ra thì chẳng tồn tại được
Thứ năm, Pháp giới duyên khởi:
Pháp giới duyên khởi là chủ trương của Hoa Nghiêm tông Thuyết này cho rằng pháp giới (tức là vũ trụ vạn hữu) là một duyên khởi rất lớn, bởi do vạn pháp, pháp này dung thông với pháp kia, cùng nhau làm duyên khởi, làm cho vô tận duyên khởi, trùng trùng duyên khởi…
Nói tóm lại, trong duyên khởi luận của Phật giáo, chúng ta thấy có năm
thuyết Sự sai khác ở đây, chỉ là sai khác về tầng bậc, chứ không phải sai khác về nội dung; sai khác về khía cạnh đứng nhìn và tầm mắt rộng hẹp, chứ không phải sai khác
về bản chất Bởi Phật cho rằng sự sai khác đó là vì căn cơ của chúng sanh không đồng, phải dắt dẫn dần dần từ thấp đến cao, chúng sanh mới hiểu được
Những thuyết trên trên đều có những điểm giống nhau là thừa nhận cái chân như của vũ trụ vạn hữu, cái nguyên nhân làm sanh khởi vũ trụ vạn hữu là mê vọng hay vô minh và sự giải thoát là phải diệt trừ vô minh, mê vọng
Phật giáo không chủ trương tinh thần sinh ra vật chất, song cũng không coi tinh thần là sản phẩm của bất cứ cơ chế vật chất nào Tuy nhiên, Phật giáo lại khẳng định: Vạn pháp duy tâm, nhất thiết duy tâm tạo…
Ba là, Vô thường:
Trang 9Bản chất sự tồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển không ngừng, không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên, cũng không thể tìm ra nguyên nhân cuối cùng, do vậy cũng không có gì vĩnh hằng Mọi thứ đều “thường biến” chứ không “thường còn”, tất thảy trong cuộc xoay vần không dứt theo luật nhân quả
Vũ trụ vạn vật, không thể thoát ra ngoài quy luật: thành, trụ, hoại, không Trong mỗi bốn kỳ ấy, mỗi kỳ lại có bốn thời kỳ nhỏ tương tự diễn ra Tạm ví như kỳ sinh ta, tất phải có bốn kỳ: thụ thai, tượng hình, thoát thai, khôn lớn Trong mỗi thời kỳ nhỏ như vậy, lại có bốn thời kỳ nhỏ hơn nữa, rồi lại nhỏ hơn nữa nữa, cứ thế mãi, cho đến khi thời gian còn bằng cái chớp mắt, cái sát-na, mà vẫn còn tiếp tục…
Sự vật hiện tượng biến đổi theo từng sát-na (khoảnh khắc cực kỳ ngắn ngủi, tựa như chớp mắt) và từng giai đoạn Thậm chí mỗi sát-na có tới 900 lần sinh diệt, muôn vật thường thay đổi vô thường trong từng nháy mắt rất nhanh chóng, hằng biến chuyển cùng khắp trong vạn vật
Ví như ta thấy màu xanh của lá, hay màu đỏ của hoa, tưởng là nó chỉ đứng yên, chớ lúc sắp vàng hay khi gần héo nó mới biến hiện trạng thái thay đổi của nó Sự thực
ở chớp mắt này nó xanh nó đỏ thế, nhưng có chớp mắt sau nó không thắm đi một tí, thì cũng phải lạt đi một phần, có bao giờ đứng dừng đâu Cái khác ấy, có phải nó đi từng giai đoạn đâu, mà phải từng ngày từng phút, từng chớp mắt, từng sát-na…
2.1.2 Vấn đề nhận thức luận:
Phật giáo trình bày quan điểm về nhận thức bằng các khái niệm: Như thực kiến,
như thị kiến, chân như, hay thực tướng luận Nghĩa là nhìn nhận sự vật hện tượng một
cách chân thật, không giả dối, như nó vốn là như thế, luôn luôn như thế… Như thế có thể gọi bằng những danh từ: Chân tâm, Viên giác, Thắng nghĩa, Phật tánh, Giác tánh Nhưng đó cũng chỉ là những danh từ, chứ không thể nhận thấy được (trừ bậc giác ngộ)
Bởi ngôn ngữ, văn tự chỉ có thể diễn tả được hiện tượng, còn khi muốn trình bày về thực tại, thì trở thành bất lực Điều này cũng được Đạo gia (Lão Tử) khẳng
Trang 10định khi đề cập tới phạm trù “Đạo”, rằng không thể chuyển tải đầy đủ dưới bất cứ hình thức diễn đạt nào Triết gia Pháp Bergson cũng nói: ngôn ngữ, danh tự đã cắt xén
Sự Sống (thực tại) ra thành manh mún
Cho nên, theo Phật giáo, thái độ đúng đắn nhất để trực nhận thực thể chân như
là im lặng, lìa xa văn tự, ngôn ngữ Đó là thái độ mà đức Phật đã áp dụng lần đầu tiên sau khi chứng đạo dưới gốc Bồ đề
Tuy nhiên, nếu không nói gì cả thì làm sao cứu độ được chúng sinh? Cuối cùng Phật phải nói Song khi nói đến cái khó nói nhất là "Thực tại" hay "Chân như", thì đức Phật không thể dùng một lối thông thường được Do đó, trong kinh điển Phật giáo, thường có những cách nói mới nghe thì rất vô lý như: cũng có, cũng không, không phải không, không phải có, không phải đồng, không phải khác, cũng đồng cũng khác, không phải một, không phải nhiều, v.v
Mặc dù đã nói như thế rồi, đức Phật vẫn sợ người đời chấp vào những câu nói
ấy mà cho là thật, nên lưu ý thêm: "Chân lý như mặt trăng, giáo lý ta dạy như ngón tay để chỉ mặt trăng cho các người thấy Đừng nhận lầm ngón tay ta là mặt trăng" Hoặc "Những điều ta biết như lá trong rừng, và cái ta nói như nắm lá trong tay này" Nếu "Y theo kinh điển giải nghĩa thì oan cho tam thế chư Phật, nhưng lìa kinh ra một chữ thì lại đồng với ma thuyết "…
Đức Phật cho rằng: Chân lý tự nó sáng tỏ, không cần phải có người gọt giũa, nếu cứ tranh cãi thì tự mê để đi đến làm hoen ố cả Đạo lẫn Giáo
Nhìn chung, Phật giáo quan niệm con người có khả năng nhận thức thế giới, thậm chí đạt tới chân lý tuyệt đối khi “giác ngộ”, nhập niết bàn Ngược lại, do vô minh che lấp, con người sẽ không nhận thức được cái “chân tướng”, “thực tướng”, mà chỉ biết cái “giả tướng” và những sự vật hiện tượng ảo ảnh thoáng qua
2.2 Nhân sinh quan Phật giáo: