1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghệ thuật diễn xướng qua truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

4 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ Thuật Diễn Xướng Qua Truyện Ngắn Của Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả Nguyễn Thúy Diễm, Nguyễn Minh Ca
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Tây Đô
Chuyên ngành Văn học và Nghệ thuật
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 593,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Nghệ thuật diễn xướng qua truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư tìm hiểu những biểu hiện của nghệ thuật diễn xướng trong bốn tập truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Tư, góp phần minh chứng cho đời sống tinh thần phong phú và đa dạng của con người vùng sông nước Tây Nam Bộ.

Trang 1

NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG QUA TRUYỆN NGẮN

CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ The art of performing through short stories by Nguyen Ngoc Tu

Nguyễn Thúy Diễm 1

và Nguyễn Minh Ca 1 1

Giảng viên Khoa Xã hội và Truyền thông, Trường Đại học Tây Đô, Cần Thơ, Việt Nam

nguyenthuydiem@gmail.com nguyenminhca@gmail.com

Tóm tắt — Nghệ thuật diễn xướng là một trong những yếu tố tạo nên nét đặc trưng trong văn hóa tinh

thần của người dân vùng Tây Nam Bộ, có vị trí quan trọng trong việc định hình, phát triển văn hoá, nghệ thuật trong khu vực và phần nào được thể hiện khá rõ nét qua truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Bằng phương pháp khảo sát, thống kê – phân loại và phân tích tổng hợp, bài viết tìm hiểu những biểu hiện của nghệ thuật diễn xướng trong bốn tập truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Tư, góp phần minh chứng cho đời sống tinh thần phong phú và đa dạng của con người vùng sông nước Tây Nam Bộ

Abstract — Performing art is one of the factors that create the characteristics of the spiritual culture

of people in the Southwest region, which plays an important role in shaping, developing culture and art

in the region and partly expressed quite clearly through the short story of Nguyen Ngoc Tu By the method

of survey, statistics - classification and analysis - synthesis, the article explores the manifestations of the performing arts in four typical collections of short stories by Nguyen Ngoc Tu, which contribute to demonstrate the rich and diverse spiritual life of people in the Southwest region

Từ khóa — Nghệ thuật diễn xướng, truyện ngắn, Tây Nam Bộ, performing arts, short story

1 Giới thiệu

Bên cạnh ngôn ngữ, nghệ thuật diễn xướng cũng là một loại hình nghệ thuật tiêu biểu, là nền tảng cho đời sống tinh thần của người dân vùng Tây Nam Bộ Do đó, nghệ thuật diễn xướng

đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa của người dân nơi đây Một

số loại hình diễn xướng phổ biến ở khu vực này được nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đưa vào truyện ngắn của mình có thể kể đến hát bội (tuồng), hò, lý, đờn ca tài tử và cải lương, góp phần minh chứng cho sự phong phú và đa dạng đời sống tinh thần của người dân ở đồng bằng sông Cửu Long

2 Nội dung

2.1 Biểu hiện của nghệ thuật diễn xướng qua truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Theo thống kê của người viết, tỷ lệ giữa các loại hình diễn xướng được Nguyễn Ngọc Tư

đề cập trong truyện ngắn của mình được thể hiện trong bảng 1 như sau:

Bảng 1 Loại hình diễn xướng phổ biến

Số thứ tự Biểu hiện của nghệ thuật diễn xướng qua

truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Số lượt xuất hiện Tỷ lệ (%)

Nguồn: Nguyễn Thuý Diễm (2021)

Có thể hiểu một cách đơn giản, diễn xướng là “trình bày các sáng tác dân gian bằng động tác, lời lẽ, âm thanh và nhịp điệu” (Hoàng Phê, 2009) Qua bảng 1, có thể thấy được người dân

Trang 2

vùng đồng bằng sông Cửu Long rất yêu thích cải lương và loại hình này còn tồn tại khá phổ biến trong khi các câu hò, điệu lý hay hát bội đang dần bị mai một khi xã hội ngày càng phát triển

2.2 Nghệ thuật hát bội qua truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Hát bội là một trong những loại hình sân khấu truyền thống mang tính chất cổ điển của

Việt Nam Đây là hình thức diễn xướng “có nội dung phản ánh lối sống theo luân lý Nho giáo

và hình thức trình diễn mang tính biểu trưng cao” (Trần Ngọc Thêm, 2014)

Hát bội được xem là khởi đầu của nghệ thuật diễn xướng của người Việt ở Nam Bộ, được bắt nguồn từ dạng tuồng – một dạng nghệ thuật ca múa cung đình nhưng bị dân gian hóa ở khu vực miền Bắc (Ngô Văn Lệ chủ biên, 2017) Từ miền Bắc và miền Trung, hát bội được những người dân di cư mang theo vào Nam, tạo nên một sức sống mới cho cộng đồng dân cư khu vực này Quả thật, loại hình diễn xướng này đã được đông đảo cư dân vùng đồng bằng châu thổ yêu thích và đón nhận

Một trong những địa điểm diễn tuồng hát bội được rất nhiều người dân quan tâm, theo dõi chính là đình làng Vào các dịp cúng đình, người dân vừa tập trung để tham dự lễ cúng, vừa để

xem những đoàn hát bội từ nơi khác ghé về: “Ðược cái là ông hào sảng, rộng rãi thương người

từ tấm bé Bữa cúng đình ông mời gánh hát Sài Gòn về hát chơi Ông thương đào Hồng từ cái giây phút đầu tiên” (Nguyễn Ngọc Tư, 2006) Một số vở tuồng được người miền Tây yêu thích,

diễn đi diễn lại nhiều nhất phải kể đến là: San Hậu; Diễn Võ Đình; Phàn Lê Huê; Lã Bố Hí

Điêu Thuyền; Hạng Võ Biệt Ngu Cơ: “Chị sinh con San cũng ngay mùa này, gió này Gọi là San, là vì khi Hoàng Bảo từ thành phố tăng cường xuống 'Mưa Bình Minh', chị Diệu với anh hát chung tuồng San Hậu” (Nguyễn Ngọc Tư, 2006)

Có thể nói, hát bội không chỉ được chào đón và yêu thích mà hơn thế nữa, đây còn là tiền

đề đưa người nông dân Nam Bộ đến với những loại hình nghệ thuật dân gian khác

2.3 Nghệ thuật hò, lý qua truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Bên cạnh hát bội, những câu hò, điệu lý là cũng là những loại hình nghệ thuật ăn sâu vào

tiềm thức của người dân đồng bằng sông Cửu Long: “Hò là điệu hát đặc biệt xuất phát từ lao động, đi kèm với lao động, hỗ trợ cho lao động” (Trần Ngọc Thêm, 2014) Trong bối cảnh sinh

sống, lao động hoàn toàn mới, tiếng hò mang dư âm thư thái, phóng khoáng vang lên trên cánh đồng hoặc trên ghe xuồng nơi sông nước

Để đối mặt với cuộc sống khó khăn, người miền Tây đã nghĩ ra đưa những câu hát dễ thuộc,

dễ hát để cải thiện đời sống tinh thần, bớt vất vả cho cuộc sống lao động Chính vì thế, ca từ

của những câu hò thường rất mộc mạc, chân thành và thẳng thắn: “Em có vẻ phấn khích với những giai điệu mà chúng tôi chưa từng biết, chưa ai sưu tầm bao giờ, 'Phụ mẫu đánh em quặt què quặt quại Treo em lên tại nhánh bần Rủi mà đứt dây rớt xuống em cũng lần theo anh…i a'…” (Nguyễn Ngọc Tư, 2018)

Tùy theo mục đích, hò được chia thành các loại như hò lao động, hò tôn giáo (hò đưa linh)

và hò giao duyên (hò huê tình): “Buổi tối trong căn nhà mà chúng tôi nghỉ lại, tôi ngồi đập muỗi lép bép đến khuya, bà cụ già đã hát điệu hò huê tình lúc chiều hỏi tôi sao buồn vậy, tôi cười, đâu có, tại trà đậm quá” (Nguyễn Ngọc Tư, 2018)

Lý trong “Đại Nam quấc âm tự vị" của Huỳnh Tịnh Của (2018) giải thích là: “Lý: Quê mùa Hát lý: Hát bắt nhịp, giọng cao, giọng thấp, lặp đi lặp lại” (tập 1, 1895, tr.563) Giữa hò và lý

vẫn có vài điểm khác biệt, tiêu biểu là hò phải có cặp đối đáp còn lý có thể hát một mình, hò hát theo câu trong khi lý hát theo bài, âm nhạc của hò tuân theo một số điệu nhất định trong khi

lý đa dạng về âm nhạc,… Có thể chia lý thành nhiều loại dựa theo nội dung như lý về các hiện

tượng tự nhiên,về chủng loại thực vật, động vật, về sự vật, đồ vật: “Em ngập ngừng, ừa, cũng được Tôi chuyên chú nghe lại điệu lý tình tan, 'Có con chim nhạn bỏ đàn Qua đây nhớ bậu bò

Trang 3

càng khóc thương', rồi bôi bôi xóa xóa trên tờ giấy trước mặt Cây viết tuôn mực như đang khóc” (Nguyễn Ngọc Tư, 2018)

2.4 Nghệ thuật cải lương qua truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Có một loại hình diễn xướng được sinh sau đẻ muộn nhưng lại mang một sức hút lớn, được lưu truyền và yêu thích đến ngày nay, đó chính là cải lương Đây là loại hình nghệ thuật ca kịch

đặc trưng của Nam Bộ, ra đời vào khoảng những năm 30 của thế kỉ XX: “Đây là một dạng hát kịch rất nổi tiếng của người Việt Nam Bộ Các tuồng tích được diễn trong các vở cải lương đều mang tính trữ tình, hiện thực thể hiện sự giao lưu văn hoá Đông – Tây bằng hình thức hát của phương Đông và kịch của phương Tây” (Ngô Văn Lệ, 2017)

Cải lương là loại hình sân khấu được hình thành nhờ sự cải biến và phối hợp của các loại hình trước đó như hát bội, ca ra bộ, đờn ca tài tử và đặc biệt là sân khấu kịch nói phương Tây Một vở cải lương cần phải có vở diễn và bài bản, có sự góp mặt của đờn ca tài tử và một yếu tố không thể thiếu là bản vọng cổ Có thể nói, vọng cổ và cải lương luôn đi liền với nhau và đặc biệt, vọng cổ chính là cái hồn của cải lương (Trần Ngọc Thêm, 2014)

Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, cải lương là loại hình diễn xướng được người dân vô cùng ưa chuộng, một người ở Tây Nam Bộ mà không thích cải lương thì chưa được kể là người miền Tây “chính hiệu” Ở nơi đây, người dân có thể xem cải lương trực tiếp ở đình làng như

hát bội: “Nó khóc, kể, 'Bữa đó cúng đình, có cải lương, má rủ con đi Tuồng Thoại Khanh Châu Tuấn đó ba Hát chưa xong khúc Thoại Khanh ngồi đờn cho công chúa Châu Tuấn nghe, thì pháo đằng đồn Chẹt bắn lại, má con chết luôn'” (Nguyễn Ngọc Tư, 2006) Cũng có thể xem ở nhà qua truyền hình: “Mà tội nhất là nội tôi, vốn mê cải lương, nhưng bữa nào tivi chiếu mấy tuồng có bà mẹ chồng ác nghiệt chia rẽ duyên của con, dâu là thấy nội tôi rầu” (Nguyễn Ngọc

Tư, 2006) Đôi khi vì đam mê, người dân thường học thuộc vài câu vọng cổ và hát một mình

để giải trí: “Chuyện gì nó cũng giành làm một mình, làm từ sáng sớm tới chạng vạng, không đi coi phim nữa mà tối tối nằm nhà nghe cải lương hoặc đưa võng cò kẹt, hát 'Thương nhớ nhớ mãi không thôi Chàng mới ra về chị em tôi thương nhớ' ” (Nguyễn Ngọc Tư, 2011)

Tình yêu của người miền Tây đối với cải lương còn thể hiện ở việc đặt tên con cháu trong

gia đình theo tên nghệ sĩ cải lương: “Ở cửa sông Đông người ta kêu em là Mỹ Châu Nội em

mê cải lương nên toàn lấy tên đào kép để đặt cho con cháu” (Đảo) (Nguyễn Ngọc Tư, 2014) Điều đó cũng được thể hiện trong truyện ngắn Đời như ý: “Không giống như người ta, hễ thích cải lương thì đặt tên con là Ngọc Huyền, Lệ Thủy, mê phim Việt Nam thì đặt Diễm Hương, Việt Trinh, chú Đời đặt tên cho hai đứa con gái là con Như con Ý” (Nguyễn Ngọc Tư, 2006) Thậm

chí, nhiều người không chỉ yêu thích thưởng thức mà còn đam mê cải lương đến nỗi bỏ nhà đi

theo gánh hát để theo đuổi ước mơ làm nghệ sĩ của mình: “Chị Diệu bỏ nhà theo đoàn hát từ năm mười bảy tuổi, không cách chi mà giữ lại được, không cách chi chị quên giấc mơ xướng

ca xiêm áo” (Làm má đâu có dễ) (Nguyễn Ngọc Tư, 2006) Có thể nói, tình yêu của người miền

Tây đối với việc thưởng thức nghệ thuật diễn xướng nói chung và với cải lương nói riêng vô cùng to lớn và sâu nặng

Một điểm đặc biệt của nghệ thuật diễn xướng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có liên quan đến tâm linh là lễ cúng Tổ nghề hát Các gánh hát bội, cải lương từ xa xưa đều có bàn thờ

Tổ trong hậu đài, giới nghệ sĩ cho rằng Tổ nghề là hai vị hoàng tử vì đam mê xem hát đến nỗi chết cóng vì đói và kiệt sức, sau khi mất vẫn thường hiện về để xem hát, thường gọi là ông

“Làng” Hằng năm, tất cả gánh hát đều tổ chức lễ giỗ Tổ vào ngày 11 và 12 tháng 8 âm lịch

(Trần Văn Nam, 2013) Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng có nhắc đến dị bản của giai thoại về

các vị Tổ nghề hát trong truyện ngắn Cuối mùa nhan sắc: “Ông vẫn thường khì khịt bảo rằng mình bị Tổ nhập, ba ông hoàng tử Càn, Chơn, Chất đó, cũng vì đam mê nghệ thuật sân khấu

mà bỏ cung son, trốn tránh triều đình, cuối cùng chết trên cây vông nem đó, thấy chưa Có người cười, thằng Vũ bị tình nhập chớ Tổ gì nhập vô nó nổi” (Nguyễn Ngọc Tư, 2006) Ngoài

ra, những ngày giỗ Tổ cũng được tác giả đưa vào tác phẩm của mình: “Có những lần giỗ Tổ,

Trang 4

đoàn giao cho chị đóng vai Tô Ánh Nguyệt trong trích đoạn gặp lại thằng Tâm, lúc con trai mình mắng mỏ một hồi rồi bỏ đi, Nguyệt kêu 'Tâm, con đuổi má sao con?'…” (Làm má đâu có dễ) (Nguyễn Ngọc Tư, 2006) Điều đó cũng được thể hiện trong tác phẩm Cuối mùa nhan sắc:

“Cái bữa cả nhà Buổi Chiều được xe hơi đón đi giỗ Tổ ở nhà hát thành phố, ông Chín giữ nhà”

(Nguyễn Ngọc Tư, 2006) Việc kính nhớ đến Tổ nghề thể hiện tinh thần “tôn sư trọng đạo”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn” của những người theo nghiệp xướng ca

3 Kết luận

Cũng như nhiều loại hình văn hóa khác, cuộc sống hiện đại đã phần nào giảm đi sự ưa chuộng của người miền Tây đối với các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư cũng phần nào thể hiện thực trạng này Các loại hình diễn xướng mới du nhập từ ngoại quốc đã kéo theo sự thay đổi sở thích của người trẻ nơi đây Tuy nhiên, trong lòng những người miền Tây thực thụ thì hát bội, những câu hò, điệu lý hay cải lương là một trong những ký ức không thể xóa nhòa

Những biểu hiện của nghệ thuật diễn xướng qua truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, người đọc ít nhiều có thể hình dung được đời sống tinh thần phong phú của người dân miền sông nước Tây Nam Bộ Có thể nói, nghệ thuật diễn xướng trong đời sống sinh hoạt của người dân vùng Tây Nam Bộ nói chung, qua truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư nói riêng vừa kế thừa những nét đặc sắc của nền văn hóa dân tộc, vừa sáng tạo để hình thành nên những nét đặc trưng riêng của khu vực

TÀILIỆUTHAMKHẢO

[1] Hoàng Phê (chủ biên) (2009) Từ điển tiếng Việt Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng

[2] HUỳnh Tịnh Của (2018) Đại Nam quấc âm tự vị Nhà xuất bản Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí

Minh

[3] Ngô Văn Lệ (chủ biên) (2017) Vùng đất Nam Bộ (tập VII) – Đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo và

sinh hoạt văn hoá Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội

[4] Nguyễn Ngọc Tư (2006) Giao thừa Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh

[5] Nguyễn Ngọc Tư (2011) Cánh đồng bất tận Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh

[6] Nguyễn Ngọc Tư (2014) Đảo Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh

[7] Nguyễn Ngọc Tư (2018) Gió lẻ và 9 câu chuyện khác Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh [8] Trần Ngọc Thêm (chủ biên) (2014) Văn hoá người Việt vùng Tây Nam Bộ Nhà xuất bản Văn hoá

– Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh

[9] Trần Văn Nam (chủ biên) (2013) Lễ hội dân gian đồng bằng sông Cửu Long Nhà xuất bản Phương

Đông, Cần Thơ

Ngày nhận: 18/4/2022

Ngày duyệt đăng: 12/9/202

Ngày đăng: 27/01/2023, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm