ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THÙY TUYẾT TÂM NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO DƯỚI GÓC ĐỘ NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG HỆ THỐNG Chuyên ngành Ngôn ngữ học Mã số 8 22 90 22[.]
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THÙY TUYẾT TÂM
NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO DƯỚI GÓC ĐỘ NGỮ PHÁP
Trang 2Công trình được hoàn thành tại TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN SÁNG
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chinh
Phản biện 2: TS Đỗ Thị Xuân Dung
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Ngôn ngữ học họp tại Trường Đại học Sư phạm vào
ngày 05 tháng 07 năm 2022
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
- Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
Trang 3
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Gần đây ngôn ngữ chức năng hệ thống đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học ứng dụng vào Việt Nam Ngữ pháp chức năng được xây dựng trên quan niệm triết học coi ngôn ngữ là một hệ thống giao tiếp của con người
Ngôn ngữ học chức năng hệ thống quan tâm đến ba bình diện
nghĩa: nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản Tuy nhiên trong luận văn này chúng tôi chỉ tập trung vào bình diện nghĩa liên nhân Với bình diện nghĩa này, chúng tôi sử dụng bộ công cụ đánh
giá (Appraisal framework) được phát triển bởi Martin & White (2005) [42] để phân tích ngôn ngữ đánh giá (NNĐG)
Hiện nay, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu
về truyện ngắn của Nam Cao từ nhiều cách tiếp cận văn học và ngôn ngữ học nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá truyện ngắn của Nam Cao từ góc nhìn NNHCNHT Từ góc nhìn lí thuyết đánh giá, dựa trên khung lí thuyết NNHCNHT, việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thể hiện chức năng liên nhân trong truyện ngắn của Nam Cao có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn để thực hiện luận văn Đó
là lý do chúng tôi chọn đề tài “Ngôn ngữ đánh giá trong truyện ngắn Nam Cao dưới góc độ Ngữ pháp chức năng hệ thống” như là một
hướng đi mới, có tính thời sự
Trang 4Luận văn đã khẳng định tính khả thi khi áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống và bộ công cụ đánh giá trong việc miêu tả, phân tích cấu trúc thể loại và ngôn ngữ đánh giá trong tiếng Việt; đồng thời tìm
ra những đặc trưng riêng biệt về ngôn ngữ đánh giá trong tiếng Việt
Ở Việt Nam, có rất nhiều nhà ngôn ngữ đã nghiên cứu về ngữ pháp chức năng như Cao Xuân Hạo [11], Hoàng Văn Vân [36], [37], [38], Diệp Quang Ban [1], Nguyễn Văn Hiệp[13], [14] Trong đó, công
trình Tiếng Việt: sơ khảo ngữ pháp chức năng (1991), Cao Xuân Hạo
[11] được xem là cái mốc quan trọng, đã đi sâu vào việc nghiên cứu tiếng Việt từ bình diện chức năng
Gần đây nhất công trình nghiên cứu về ngôn ngữ đánh giá là của
Nguyễn Thị Hương Lan (2018), Phân tích ngôn ngữ đánh giá trong sách giáo khoa bậc Tiểu học, so sánh sách Tiếng Anh Tiểu học của Singapore và sách Tiếng Việt Tiểu học của Việt Nam [23]
Luận văn “Ngôn ngữ đánh giá trong phóng sự “Cạm bẫy người”
của Vũ Trọng Phụng” của Trần Thị Tú Linh (2019, Đại học Khoa
học-ĐH Huế) [25] dựa vào lý thuyết đánh giá của Martin và White để làm sáng tỏ đặc điểm ngôn ngữ thể hiện chức năng liên nhân qua trong phóng sự Vũ Trọng Phụng, qua đó góp phần vào việc nghiên cứu ngôn ngữ phóng sự nói chung và ngôn ngữ phóng sự văn học của Vũ Trọng Phụng nói riêng
2.2 Các công trình nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao
Cách tiếp cận truyện ngắn Nam Cao từ góc độ ngôn ngữ học, có thể kể đến những công trình: Lê Thị Thư (2010) qua luận văn thạc sĩ
“Hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn của Nam Cao”; Trần Thị Ngọc Hà (2010) qua luận văn thạc sĩ “Khảo sát việc sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao”; Luận văn thạc sĩ “Nghệ thuật tự
Trang 5sự trong truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm
1945” (2010)…
Những vấn đề các luận án và luận văn thạc sĩ đề cập đến đã có những đóng góp nhất định trong việc khẳng định vai trò của truyện ngắn Nam Cao trong nền văn học Việt Nam hiện đại
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
số truyện ngắn Nam Cao
- Phân tích, làm sáng tỏ những đặc điểm ngôn ngữ của nguồn lực đánh giá và sự thể hiện chức năng liên cá nhân – nghĩa liên nhân trong truyện ngắn Nam Cao
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ngôn ngữ đánh giá thực hiện chức năng liên nhân trong truyện ngắn Nam Cao
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Bộ công cụ đánh giá dùng để miêu tả Ngôn ngữ đánh giá xét từ
Trang 6ba góc độ: “Thái độ” (attitude), “Thang độ” (graduation) và “Giọng điệu” (engagement)
Trong luận văn này, áp dụng khung lý thuyết ngôn ngữ đánh giá
để phân tích truyện ngắn Nam Cao, chúng tôi chỉ khảo sát nguồn lực đánh giá thể hiện “Thái độ” và “Thang độ” với mục đích tìm hiểu việc thực hiện chức năng liên nhân như thế nào trong truyện ngắn Nam Cao
Về ngữ liệu, chúng tôi chỉ khảo sát các truyện ngắn Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa trong Chí Phèo tập truyện ngắn, NXB Văn học, 2018
5 Quan điểm tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm tiếp cận: Luận văn sử dụng các kiến thức và
phương pháp của ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday và khung lý thuyết Đánh giá của Martin & White [42] để miêu tả đặc điểm ngôn ngữ đánh giá trong truyện ngắn
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp miêu tả ngôn ngữ
học được thực hiện qua các thủ pháp như: thủ pháp thống kê, thủ pháp phân loại và hệ thống hóa, thủ pháp phân tích ngôn cảnh, thủ pháp phân tích ngữ nghĩa, thủ pháp phân tích diễn ngôn
6 Đóng góp của luận văn
Về phương diện lý luận, luận văn mong muốn góp phần làm rõ thêm lý thuyết về Ngôn ngữ học chức năng hệ thống và bộ công cụ đánh giá, cụ thể là trong việc xác định và bổ sung về nguồn lực đánh giá trong tiếng Việt
Về phương diện thực tiễn, những kết quả của luận văn sẽ góp phần vào công tác giảng dạy, học tập môn Ngữ văn ở nhà trường đối với thể loại truyện ngắn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương, cụ thể:
Trang 7Chương 1: Cơ sở lý thuyết và những vấn đề liên quan
Chương 2: Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thái độ” trong truyện ngắn của Nam Cao
Chương 3: Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thang độ” trong truyện ngắn Nam Cao
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái quát lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống
Theo Halliday, tổ chức chức năng của ngôn ngữ quyết định hình thức cũng như quy tắc ngữ pháp và ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp phải thực hiện ba chức năng:
+ Chức năng kinh nghiệm
+ Chức năng liên nhân
+ Chức năng tạo văn bản
1.1.2 Lý thuyết ngôn ngữ đánh giá
1.1.2.1 Hệ thống “Thái độ”
Hệ thống “Thái độ” bao gồm ba bình diện là “Tác động”,
“Phán xét hành vi” và “Đánh giá SVHT”
1.1.2.2 Sự thể hiện “Thái độ”
“Thái độ” hiển ngôn là loại thái độ có thể được mã hóa trực tiếp trong
từ vựng mà không có tự do nhiều cho việc diễn giải của người đọc
“Thái độ” thể hiện hàm ngôn là “thái độ” mà trong đó quan điểm tích cực/tiêu cực được thể hiện thông qua nhiều cơ chế đồng hành và hàm ngôn khác nhau Các ý nghĩa hàm ẩn khác nhau được thể hiện ở 3 cấp độ: gợi mở, ra hiệu, cung cấp
1.1.2.3 Hệ thống “Thang độ” (Graduation)
Thang độ được sử dụng để tạo nên các cấp độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn cho tính tích cực và tiêu cực của các hành động, sự kiện hay nhân
vật cần được đánh giá Hệ thống thang độ gồm “Lực” và “Tiêu điểm”
1.1.2.4 Giọng điệu (Engagement)
Giọng điệu được hiện thực hóa qua các cách diễn đạt được trích
từ Martin &White (2005: [42, 97-98])
Trang 91.1.3 Về nguồn lực ngôn ngữ đánh giá trong tiếng Việt
1.1.3.1 Nguồn lực ngôn ngữ thể hiện “Thái độ”
“Thái độ” được thể hiện qua: Hệ thống từ xưng hô; Từ “được” trong tiếng Việt; Tiếng lóng; Thành ngữ/biến thể thành ngữ
1.1.3.2 Nguồn lực ngôn ngữ thể hiện “Thang độ”
“Thang độ” được thể hiện qua: Từ ghép; Từ láy và dạng láy/lặp; Cụm từ chính phụ có thành tố phụ là tính từ ở phía sau nếu muốn đánh giá
1.2 Nam Cao và truyện ngắn Nam Cao
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri Nam Cao là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực (1940 – 1945), là người tiên phong trong việc xây dựng nền văn học mới
Nam Cao - với 15 năm cầm bút, ông đã kịp để lại một khối lượng tác phẩm không nhỏ, đặc biệt trong hệ thống tác phẩm của ông, nổi bật một phong cách Nam Cao trữ tình, sâu lắng, trào lộng, xót xa, hóm hỉnh
mà tế nhị, sang trọng mà bình dị, tinh vi mà khái quát
Những tác phẩm ưu tú, nổi bật nhất của Nam Cao mang khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực – đã khẳng định ông là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của trào lưu hiện thực phê phán thời kỳ 1940 – 1945,
là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954
1.2.2 Truyện ngắn Nam Cao
Mặc dù Nam Cao mất đi khi tuổi đời còn rất trẻ, khi sự nghiệp còn dang dở, khi mà bao ước mơ hoài bão còn chưa thực hiện được nhưng Nam Cao đã để lại cho đời một sự nghiệp văn học đồ sộ Trong các truyện ngắn của Nam Cao, các tác phẩm tiêu biểu của ông phải kể đến như: “Chí Phèo”
(tháng 2/1941), “Lão Hạc” (1943) và “Đời thừa” (1943)
Thế giới nhân vật trong các truyện ngắn trên của Nam Cao nói
Trang 10riêng và trong các truyện ngắn của ông nói chung là một hiện tượng độc đáo Các nhân vật ấy trở thành hiện tượng độc đáo nhờ vào ngôn ngữ và
giọng điệu của Nam Cao
1.3 Tiểu kết
Ngôn ngữ đánh giá là ngôn ngữ thể hiện cảm xúc cá nhân, đánh giá hành vi của người khác và đánh giá sự vật hoặc hiện tượng, là một phần quan trọng trong thực tiễn giao tiếp Lý thuyết khung đánh giá (Appraisal Framework) của Martin và Peter White (2005) [42] cung cấp một bộ công cụ để khám phá NNĐG trong văn bản bằng cách phân tích nguồn tài nguyên mang chức năng liên nhân đồng thời cho thấy những tác động về mặt xã hội thể hiện xuyên suốt trong toàn văn bản Từ ngữ thể hiện sự đánh giá của người nói/ người viết được xem xét ở các bình diện: “Thái độ”, “Thang độ” và “Giọng điệu” “Thái độ” là các giá trị mà theo đó các quan điểm tích cực/tiêu cực được hoạt hoá “Thang độ” là các giá trị mà theo đó cường độ hoặc sức mạnh của các mệnh đề được nâng cao hoặc hạ thấp “Giọng điệu” là các giá trị theo đó người nói/người viết khoác các giọng điệu khác nhau và giá trị thay thế được đặt trong các ngữ cảnh giao tiếp thực tế
Áp dụng khung lí thuyết và bộ công cụ đánh giá, chúng tôi sẽ đi sâu vào phân tích nguồn lực NNĐG thực hiện chức năng liên nhân trong các truyện ngắn “Chí Phèo”, “Lão Hạc và “Đời thừa” của Nam Cao, qua đó góp phần làm sáng tỏ đặc điểm ngữ nghĩa của diễn ngôn truyện ngắn của Nam Cao nói riêng và thể loại truyện ngắn nói chung, xét trên bình diện liên nhân
Trang 11CHƯƠNG 2 NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ “THÁI ĐỘ” TRONG
TRUYỆN NGẮN NAM CAO 2.1 Thống kê, phân loại nguồn lực ngôn ngữ đánh giá “Thái độ” trong truyện ngắn Nam Cao
2.1.1 Các nguồn lực ngôn ngữ đánh giá trong truyện ngắn Nam Cao xét theo cấp độ cấu tạo
Căn cứ vào cấp độ và đặc điểm ngôn ngữ, chúng tôi phân loại NLĐG theo các nhóm/tiêu chí cụ thể Trong truyện ngắn “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Đời thừa”, qua đó phân tích để làm rõ nguồn lực NNĐG trong mỗi tác phẩm
2.1.1.1 Các nguồn lực đánh giá ở cấp độ từ: động từ, danh từ, tính từ, phó từ
Các nguồn lực đánh giá ở cập độ từ có thể tìm thấy ở nhiều
từ loại khác nhau Ở đây chúng tôi tập trung vào các từ loại có khả năng đánh giá cáo nhất như động từ, danh từ, tính từ, phó từ
2.1.1.2 Các nguồn lực đánh giá ở cấp độ từ ngữ: ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ
Với việc dùng số lượng lớn động từ và tính từ để hiện thực hóa ý nghĩa đánh giá trong toàn bộ tác phẩm, Nam Cao đã rất thành công trong việc mở rộng phản ánh hiện thực bằng cách khai thác sâu sắc thế giới tâm hồn của con người
2.1.2 Các nguồn lực ngôn ngữ đánh giá trong truyện ngắn Nam Cao xét theo các lớp từ vựng
2.1.2.1 Nguồn lức đánh giá là tiếng lóng
Tiếng lóng trở thành nguồn lực đánh giá quan trọng khi được dùng để miêu tả sự vật, nhất là đánh giá phát xét hành vi của nhân vật trong tác phẩm
Trang 122.1.2.2 Nguồn lực đánh giá là thành ngữ/ biến thể thành ngữ
Nam Cao rất tài tình trong việc vận dụng thành ngữ và khéo léo cải biến thành ngữ, tạo ra lối nói đưa đẩy, rào đón, hoặc diễn đạt sinh động, tự nhiên, mang tính khái quát cao nhưng cũng đầy biểu cảm Lớp
từ này cũng mang ý nghĩa đánh giá sắc sảo, góp phần vào NLĐG trong truyện ngắn
2.1.2.3 Nguồn lực đánh giá là từ ngữ xưng hô
Cách xưng hô cũng có phản ánh đặc điểm văn hóa giao tiếp ưng
xử rất khác biết so với ngôn ngữ biến hình Nghi thức xưng hô trong tiếng Việt là nguồn lực đánh giá rất phong phú
2.2 Đặc điểm ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thái độ” hiển ngôn trong truyện ngắn Nam Cao
“Thái độ” hiển ngôn có thể được hiện thực hoá trong các chức năng khác nhau thông qua các hình thức khác nhau NNĐG thể hiện thái độ gồm ba bình diện: Tác động (Affect), Phán xét hành vi (Judgement) và Đánh giá sự vật hiện tượng (Appreciation)
2.2.1 Ngôn ngữ hiện thực hóa “Tác động” trong truyện ngắn Nam Cao
Theo Martin & White, 2005, [42, 48-52], ngôn ngữ hiện thực hóa
“Tác động” có bốn nhóm và phân loại chúng dựa trên các yếu tố là các
hệ thống đối lập đó là: Mong muốn (tích cực/tiêu cực), Hạnh phúc (tích cực/tiêu cực), An toàn (tích cực/tiêu cực) và Thỏa mãn (tích cực/tiêu cực); được thực hiện hóa bằng danh từ, tính từ, phó từ và động từ
2.2.2 Ngôn ngữ hiện thực hóa “Phán xét hành vi” trong truyện ngắn Nam Cao
Theo lý thuyết ngôn ngữ đánh giá „Thái độ”, Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Phán xét hành vi” được chia làm 5 nhóm: “thông thường”,
“khả năng”, “kiên trì”, “đạo đức” và “thành thật” Các nhóm thể hiện
Trang 13“phán xét hành vi” được hiện thực hóa bằng danh từ, tính từ, phó từ hoặc động từ
2.2.3 Ngôn ngữ hiện thực hóa “Đánh giá sự vật hiện tượng” trong truyện ngắn Nam Cao
Từ thang đánh giá “Thái độ”, “đánh giá SVHT” liên quan đến thể hiện ý kiến, cảm xúc về một sự vật, hiện tượng nào đó Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Đánh giá SVHT” được chia làm 3 nhóm: (1) phản ứng, (2)
tổng hợp và (3) giá trị Tiêu chí được đánh giá có thể là tích cực hoặc
tiêu cực và đều được hiện thực hóa bằng tính từ chỉ phẩm chất Trong phần này chúng tôi chỉ khảo sát được “Phản ứng” và “Giá trị” mà không tìm thấy ví dụ về “Tổng hợp”
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy NNĐG thể hiện “Đánh giá SVHT” trong các truyện ngắn của Nam Cao có nhóm giá trị “Phản ứng” chiếm tỉ lệ nhiều nhất, gấp đôi giá trị của “Giá trị”
2.3 Ngôn ngữ đánh giá “Thái độ” hàm ngôn trong truyện ngắn Nam Cao
2.3.1 Biện pháp “Gợi mở”
a Gợi mở: được hiện thực hoá bằng các thủ pháp nghệ thuật như
so sánh, ẩn dụ, cường điệu hoá
* “Gợi mở” bằng phép so sánh:
Tác giả đã rất thành công trong việc dùng thủ pháp so sánh với mục đích làm nổi bật một khía cạnh nào đó của đối tượng so sánh nhằm tăng thêm ý tưởng và mục đích của mình
* “Gợi mở” bằng phép ẩn dụ:
Nam Cao đã sử dụng rất thành công các phương tiện tu từ từ vựng, đặc biệt là ẩn dụ Thông qua phương thức ẩn dụ, tác giả bộc lộ cách nhìn, cách đánh giá cũng như sự nhận thức, thái độ, tình cảm đối với các đối tượng được phản ánh Toàn bộ các truyện ngắn có 49 lần sử