Bảng 2.44: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ KHÖC CA 76 Bảng 2.45: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ KHÚC CA 77 Bảng 2.46: Các thuộc tính được chiếu xạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÔ THỊ THANH VIỆN
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Đà Nẵng - Năm 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÔ THỊ THANH VIỆN
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn này chưa được ai công bố trong bất
kì công trình nào
Tác giả luận văn
Ngô Thị Thanh Viện
At�
Trang 5c each thuc ma con nguai tri giac va y ni?m h6a thS gi6i Nghien cuu fin d\l y ni?m tinh yeu luadoi trong ca dao nguai Vi?t , a m<)t muc de) nao d6, lu� van g6p phful cung c5 va khfulg dinhnhung vfin dS c6 tinh chfit ly lu� da duqc cac h9c gia Au - My d�t ra.
Lu� van da khao sat va mo ta tbng thS fin dl) y ni?m tinh yeu lua doi trong ca dao nguai Vi?t Nghien cuu An dl) y ni?m tinh yeu lua doi trong ca dao nguai Vi?t la xac dinh CCY chS tri nh� cua nguai Vi?t Nam, n6i each khac la lam sang to each ma nguai Vi?t Nam nh�n thuc vS thS gi6i, tren CCY SCY mo hinh ha binh di?n c6 quan M tuang tac: ca dao nguai Vi?t - van h6a nguai Vi?t - nguai Vi?t Nam
3 Hu6ng nghien CU'U ti�p theo cua d� tai
KSt qua nghien cuu cua lu�n van c6 thS se dong g6p huu ich cho cac nha nghien cuu, giao vien va ca nhung nguai quan tam dSn ca dao tinh yeu lua doi m<)t g6c nhin vS tu duy -ngon ngu - van h6a - con nguai trong tuang quan v6i cac d�c diSm tuang ung cua dan t<)c Vi?t Nam Ben c�nh d6, kSt qua nghien cuu cua lu� van con c6 thS ung d\lllg vao vi?c giang d�y
ca dao trong nha trnang
4 Tir khoa
An d\l y ni?m, each thuc y ni?m h6a, sv nghi?m than, ca chS tri nh�
Xac nh�n cua giao vien hu6ng d§n Nguoi thlfc hi�n d� tai
At�
c Ngo Thi Thanh Vi�n
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
TRANG THÔNG TIN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục tiêu nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1 Khái quát về ẩn dụ 8
1.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống 8
1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận 9
1.1.3 Ý niệm 10
1.1.4 Sự diễn giải, khung tri nhận và không gian tinh thần 11
1.1.5 Phạm trù tri nhận và điển dạng 13
1.1.6 Tính nghiệm thân 14
1.1.7 Miền Nguồn – miền Đích trong ẩn dụ ý niệm 15
1.1.8 Ánh xạ (mapping) 15
1.1.9 Tổ hợp ẩn dụ 16
1.2 Khái quát về ca dao 17
1.2.1 Khái niệm ca dao 17
1.2.2 Ca dao tình yêu lứa đôi 18
Chương 2 HỆ THỐNG ẨN DỤ Ý NIỆM TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 20
2.1 Xác lập ẩn dụ ý niệm về tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt qua biểu thức thơ (trong Kho tàng ca dao người Việt) 20
2.2 Các miền nguồn của ẩn dụ ý niệm về tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt 21
2.2.1 Các miền Nguồn chiếu xạ đến miền Đích 21
2.2.2 Các thuộc tính miền Nguồn chiếu xạ đến miền Đích 24
2.3 Ngôn ngữ biểu đạt ẩn dụ ý niệm tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt 79
Trang 92.3.1 Ẩn dụ ý niệm là các trạng thái của tình yêu trong ngữ danh từ 79
2.3.2 Ẩn dụ ý niệm là các trạng thái của tình yêu là ngữ động từ hoặc ngữ tính từ 80
Chương 3 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC BIỂU THỨC NGÔN NGỮ ẨN DỤ Ý NIỆM TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TIÊU BIỂU TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 82
3.1 Chất liệu kiến tạo miền Nguồn 82
3.1.1 Hình ảnh biểu đạt thuộc phạm trù thiên nhiên 82
3.1.2 Hình ảnh biểu đạt thuộc các hoạt động của con người 84
3.2 Các đặc điểm biểu hiện của miền nguồn 86
3.2.1 Hình ảnh biểu đạt đậm chất bình dân thường tục 86
3.2.2 Hình ảnh sóng đôi trong ẩn dụ ý niệm về tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt 88
3.2.3 Hình ảnh ẩn dụ ý niệm đồng nhất trong ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt 92
3.3 Ý nghĩa biểu trưng của các kiểu kết hợp ẩn dụ ý niệm qua các miền Nguồn hướng đến miền Đích TÌNH YÊU 93
3.3.1 Kết hợp trong cấu trúc so sánh 93
3.3.2 Kết hợp trong cấu trúc song hành 94
3.3.3 Kết hợp trong cấu trúc đối lập 95
3.4 Biểu đạt các giai đoạn tình cảm trong ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt 96
3.4.1 Giai đoạn tỏ tình 96
3.4.2 Giai đoạn yêu nhau 98
3.4.3 Giai đoạn hôn nhân 99
3.5 Biểu đạt các sắc thái tình cảm trong ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt 101
3.5.1 Biểu đạt sắc thái tình cảm tích cực 101
3.5.2 Biểu đạt sắc thái tình cảm tiêu cực 106
3.6 Văn hóa Việt Nam qua ẩn dụ ý niệm về tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt 109
3.6.1 Văn hóa tình nghĩa 109
3.6.2 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên 110
3.6.3 Văn hóa nông nghiệp 111
KẾT LUẬN 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Hệ thống các ẩn dụ ý niệm về tình yêu lứa đôi trong ca dao
Bảng 2.4: Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
25 Bảng 2.5: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CĂN BỆNH 32
TÌNH YÊU LÀ CĂN BỆNH
33
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CĂN BỆNH
33 Bảng 2.8: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CÂY CỎ 39 Bảng 2.9: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ CÂY CỎ
39
Bảng 2.10: Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CÂY CỎ
39 Bảng 2.11: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ ĐỘNG VẬT 44 Bảng 2.12: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ ĐỘNG VẬT
44
Bảng 2.13: Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ ĐỘNG VẬT
44 Bảng 2.14: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ SỢI TƠ 46 Bảng 2.15 Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ SỢI TƠ
47
Bảng 2.16: Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỢI TƠ
47 Bảng 2.17: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ SỢI DÂY 52 Bảng 2.18: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ SỢI DÂY
52
Bảng 2.19: Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỢI DÂY
52 Bảng 2.20: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ VẬT TRAO ĐỔI 55 Bảng 2.21: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ VẬT TRAO ĐỔI
56
Trang 11Bảng 2.22: Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ VẬT TRAO ĐỔI
56 Bảng 2.23: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MÓN ĂN 58 Bảng 2.24: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ MÓN ĂN
58
Bảng 2.25: Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MÓN ĂN
59
Bảng 2.26: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ HIỆN TƢỢNG TỰ
NHIÊN
61
Bảng 2.27: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ HIỆN TƢỢNG TỰ NHIÊN
68
Bảng 2.28 Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ HIỆN TƢỢNG TỰ NHIÊN
Bảng 2.31: Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG
64 Bảng 2.32: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI 66 Bảng 2.33: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI
67
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI
67 Bảng 2.35: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ DÕNG SÔNG 69 Bảng 2.36: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ DÒNG SÔNG
69
Bảng 2.37: Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ DÒNG SÔNG
70 Bảng 2.38: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ LỬA 71 Bảng 2.39: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ LỬA
72
Bảng 2.40: Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ LỬA
72 Bảng 2.41: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ RƢỢU 74 Bảng 2.42: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ RƢỢU
74
Bảng 2.43: Các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ RƢỢU
75
Trang 12Bảng 2.44: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ KHÖC CA 76 Bảng 2.45: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ KHÚC CA
77
Bảng 2.46: Các thuộc tính được chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ KHÚC CA
77 Bảng 2.47: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ TRÕ CHƠI 78 Bảng 2.48: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ TRÕ CHƠI
79
Bảng 2.49: Các thuộc tính được chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích
trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ TRÕ CHƠI
79
Bảng 3.1: Các phạm trù hình ảnh thiên nhiên kiến tạo miền Nguồn
trong các biểu thức ẩn dụ ý niệm về tình yêu đôi lứa trong ca dao người Việt
82
Bảng 3.2: Các phạm trù hình ảnh hoạt động con người kiến tạo miền
Nguồn trong các biểu thức ẩn dụ ý niệm về tình yêu đôi lứa trong ca dao người Việt
84
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ca dao là tiếng hát về tình yêu từ trái tim của người khát khao yêu thương Vì lẽ
đó mà theo tác giả Lê Đức Luận trong cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam thì
những bài ca về tình yêu nam nữ có số lượng phong phú nhất và vào loại hay nhất trong kho tàng ca dao người Việt Những câu ca dao tuy ngắn gọn nhưng ẩn chứa trong đó rất nhiều cung bậc tình cảm Ở đó chúng ta bắt gặp một trái tim đang thổn thức, yêu thương mãnh liệt hay đó là một trái tim chất chứa trách móc, giận hờn của những đôi nam nữ yêu nhau, là nhớ thương, là khát khao hạnh phúc tròn đầy viên mãn
Có thể nói ca dao đã nói hộ những nỗi niềm, tâm sự và cảm xúc của đôi lứa trong tình yêu Bộ phận ca dao này chính là những khát vọng nhân văn, nhân bản và cũng thể hiện sự cảm thông chia sẻ với những đôi lứa yêu nhau bị chia lìa, ngăn trở Vì vậy mà
sự thể hiện tình yêu trong ca dao nhờ đến một quan hệ có ý nghĩa biểu hiện lớn - quan
hệ liên tưởng Tình yêu đôi lứa - tình yêu nam nữ là chủ đề được thể hiện sâu sắc nhất
và cũng rõ nhất trong ca dao vì tình yêu đôi lứa luôn là đề tài muôn thuở của kiếp người Trong ca dao Việt Nam, tình yêu được thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển, nhưng cũng có lúc thật chân thành mộc mạc Một thứ tình yêu mộc mạc chân quê, pha trộn hương đồng cỏ nội, thênh thang như đồng lúa và uyển chuyển nhẹ nhàng như dòng nước lững lỡ nhè nhẹ êm trôi của những con sông
Ngôn ngữ học tri nhận (congnitive linguistics) được khởi xướng từ những năm
80 thế kỉ XX với những tên tuổi như G.Lakoff, M.Johnson, G.Fauconnier, Ch.Fillmore, R.Jackendoff, R.Langacker, E.Rosch, L.Talmy, M.Turner, A.Wierzbicka, Xtepanov, Yu.Apresian, W.Chafe, M.Minsky… Đó là khuynh hướng ngôn ngữ
“nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật của thế giới khách quan đó” Nhiệm vụ trung tâm của ngôn ngữ học tri nhận là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của con người, nghiên cứu cách con người nhận thức thế giới (thế giới thực tại, thế giới phi thực tại) qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa Do đó đối tượng nghiên cứu chính của ngôn ngữ học tri nhận không chỉ là những hiện tượng có thể quan sát trực tiếp được, mà còn cả những hiện tượng không thể quan sát trực tiếp được như tri thức, ý thức, tinh thần, ý chí,… những cái được gọi
là những biểu tượng tinh thần Ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu những thao tác tri nhận rất phức tạp bao gồm những lĩnh vực ngôn ngữ văn hóa như từ vựng, ngữ nghĩa,
ý niệm hóa, ngôn bản và văn hóa Khả năng lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận thâm nhập vào bản chất của sự vật có cơ sở ở sự quan sát kinh nghiệm rộng rãi trong nhiều văn cảnh và ở công việc thực nghiệm trong tâm lí học và thần kinh học Những kết quả của ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là của lí thuyết ẩn dụ và lí thuyết ý niệm không những thể hiện trong các đơn vị ngôn ngữ mà còn trong các hiện tượng phi ngôn ngữ học, đó là tâm lí học, xã hội học
Trang 14Chúng tôi chọn hướng tìm hiểu ca dao tình yêu từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
để từ đó có thể khai thác kĩ nhiều ý đồ nghệ thuật trong từng bài ca dao giao duyên Từ ngữ biểu thị trong ca dao chính là “mã hóa” thành tín hiệu thẩm mĩ mang thông điệp tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của tác giả dân gian
Tìm hiểu ca dao tình yêu lứa đôi theo lý thuyết tri nhận là một hướng đi tích cực
và mang lại hiệu quả cao trong việc khám phá các tín hiệu nghệ thuật của người sáng
tác Với bài viết “Ẩn dụ ý niệm về tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt”, chúng tôi
muốn mang đến cho độc giả một cách nhìn mới về tình yêu trong ca dao qua cách ý niệm hóa của các tác giả dân gian Đồng thời, qua đó, người đọc cũng thấy được nét đặc thù và cái hay cái đẹp trong cách dùng từ, tạo câu nói riêng và cách diễn đạt của người Việt nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận
a Nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, ca dao cũng được nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận Đây được xem là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại Theo quan điểm tri nhận, ca dao là kết quả của quá trình tri nhận Nghĩa của ca dao có thể tường minh đối với chúng ta là bởi ẩn dụ ý niệm và tri thức quy ước giúp liên kết nghĩa tường minh của các từ thành tố với nghĩa biểu trưng của cả ca dao
Trong nghiên cứu Việt ngữ học, ẩn dụ tri nhận là một khái niệm còn tương đối mới mẻ Người đầu tiên đề cập một cách gián tiếp đến vấn đề có liên quan đến ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam dưới thuật ngữ “tri giác” là Nguyễn Đức Tồn trong cuốn
Tìm hiểu đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (Trong sự
so sánh với các dân tộc Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên khác (Nxb ĐHQG HN, 2002) Sau đó (năm 2007) Nguyễn Đức Tồn có bài viết trực tiếp bàn
về bản chất ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận (Bản chất của ẩn dụ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 10&
11, 2007)
Năm 2005 vấn đề ngôn ngữ học tri nhận đã được nghiên cứu trong cuốn
Ngôn ngữ học tri nhận, từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt ( Lý Toàn
Thắng, Nxb KHXH, HN, 2005) Trọng tâm cuốn sách là vấn đề tri nhận không gian nên tác giả cuốn sách chưa dành một vị trí xứng đáng cho khái niệm ẩn dụ tri nhận cũng như khảo sát bước đầu về nó [49]
Chuyên luận tiếp theo về ngôn ngữ học tri nhận của Trần Văn Cơ với nhan đề:
“Khảo luận ẩn dụ tri nhận” (NXB Lao động – Xã hội, 2009) Tác giả cũng chỉ bàn về
sự ra đời của ẩn dụ, bản chất ẩn dụ và sự phân lọai các kiểu loại ẩn dụ tri nhận (gồm:
ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng và ẩn dụ kênh liên lạc) Năm 2010,
trong bài viết Việt ngữ học tri nhận (Phác thảo một hướng nghiên cứu tiếng Việt), tác giả Trần Văn Cơ lý giải vấn đề người Việt suy nghĩ, hành động và cảm xúc như thế nào qua lăng kính tiếng Việt, văn hóa Việt và qua kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của
Trang 15người Việt Kết lại, tác giả đề xuất “Việt ngữ học tri nhận gồm những phân môn như Ý
niệm học tri nhận, Ngữ pháp học tri nhận, bao gồm Hình thái học tri nhận và Cú pháp học tri nhận” [7, tr.44] Trong đó, ẩn dụ ý niệm thuộc phạm vi nghiên cứu của hình thái học tri nhận (cognitive morphology) Bởi theo tác giả, hình thái học tri nhận nghiên cứu cấu trúc của ý niệm, những phương thức cấu tạo ý niệm; mà cấu trúc ý niệm liên quan đến các không gian như miền nguồn, miền đích trong ẩn dụ ý niệm, nên thuộc phạm vi nghiên cứu của hình thái học ý niệm
Dựa trên lý thuyết nghiệm thân (nghiệm thân sinh lý, nghiệm thân tự nhiên,
nghiệm thân văn hóa), trong bài viết Một vài nhận xét về ý niệm tim (2014) [45], tác
giả Trịnh Sâm đưa ra giả thuyết về ba mô hình tri nhận trong một số ngôn ngữ rất đáng chú ý: 1 nhị nguyên - nhị vị (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức…); 2 nhất nguyên - nhất vị (tiếng Thái, tiếng Trung, tiếng Mông…); 3 nhất nguyên - đa vị
(tiếng Việt, tiếng Nhật…) Trong một bài viết khác, Phổ quát và đặc thù thông qua một số miền ý niệm nguồn tiếng Việt (2016) [46, tr.23-34], trên cứ liệu một số ngôn
ngữ, chủ yếu là tiếng Việt và tiếng Anh, tác giả Trịnh Sâm phân tích tính phổ quát của một số miền nguồn như CÂY CỐI, THỰC PHẨM, SÔNG NƯỚC Theo tác giả, chúng xuất hiện trong các ngôn ngữ khác nhau, nhưng ở một mức độ nào đó, chúng cũng có cách thể hiện khác nhau trong các ngôn ngữ Điều này do sự lựa chọn thang
độ ưu tiên (priority scale), độ nổi trội (prominence) và sự kích hoạt các vùng không gian tinh thần khác nhau để biểu đạt
Tác giả Hà Công Tài quan tâm chủ yếu tới đặc điểm và vai trò ẩn dụ trong việc xây dựng các hình tượng hoặc hình thể trong thơ ca Một số đề tài khoá luận, luận văn thạc sĩ cũng quan tâm tìm hiểu về ẩn dụ tri nhận Luận án Tiến sĩ “So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Kim Ngọc Luận văn thạc sĩ
“Ẩn dụ tri nhận trong ca dao” của tác giả Bùi Thị Dung, Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn Hà Nội, 2008 Và luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận, mô hình ẩn dụ cấu trúc
trên cứ liệu ca từ của Trịnh Công Sơn của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, Đại học khoa học xã hội và nhân văn T.P Hồ Chí Minh, 2009 Luận Văn đã được PGS.TS KH Trần Văn Cơ nhận xét là “đã làm được một việc có ý nghĩa: tự giải thoát khỏi chiếc vòng kim cô của ngôn ngữ học thế kỉ XX” Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Văn Nam
với đề tài “Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong Thơ mới 1932 – 1945” năm 2017
b Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận đã có ở nước ngoài từ lâu Điển hình là các tác giả: David Lee (2016), Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive linguitics: An introduction) Theo tác giả “Ẩn dụ là công cụ ý niệm hóa một miền trải nghiệm này sang một miền khác Bất kì ẩn dụ nào chúng ta cũng có thể xác định được miền nguồn
và miền đích” G Lakoff & M Johnson (2017), Chúng ta sống bằng ẩn dụ (Metaphors
We Live By) Theo hai tác giả này thì ẩn dụ ý niệm cũng là ẩn dụ cấu trúc theo mô hình A là B [24, tr.123-125]
Trang 16Nghiên cứu ẩn dụ tri nhận còn có một số tác giả khác, đặc biệt là Kövecses, năm
2002 trong bài “Metaphor: A practical introduction” Second Edition New Yok: Oxford Univesity Press, năm 2010 trong bài “Metaphor and Culture”, Acta Universitatis Sapientiae, Philologica, [22, tr.197-220] Tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa ẩn dụ và văn hóa
2.2 Tình hình nghiên cứu về ca dao
Ca dao đã trở thành mảnh đất màu mỡ thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Sưu tầm, nghiên cứu về mảng ca dao cổ truyền người Việt về tình yêu lứa đôi vốn đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ chú ý đến những bài viết, những công trình liên quan đến đề tài đã chọn
Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam lại đi sâu vào nghiên cứu các biểu tượng và tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Tác giả khẳng định rằng: “Người dân lao động Việt Nam đem hình ảnh con cò và con bống vào ca dao, dân ca là đưa một nhận thức đặc biệt về khía cạnh của cuộc đời vào văn nghệ, lấy cuộc đời của những con vật trên đây để tượng trưng vài nét đời sống của mình, đồng thời cũng dùng những hình ảnh ấy để khêu gợi hồn thơ” [42]
Tiếp cận ca dao người Việt theo hướng thi pháp, Nguyễn Xuân Kính trong cuốn
“Thi pháp ca dao” đã nghiên cứu tương đối kĩ đặc điểm của văn bản ca dao về phương
diện kết cấu, không gian và thời gian nghệ thuật, một số biểu tượng, thể thơ Về phương diện ngôn ngữ ca dao, tác giả có đề cập đến cách sử dụng và tổ chức ngôn ngữ với các phương thức biểu hiện, tạo hình, chuyển nghĩa như ẩn dụ, cách dùng tên riêng chỉ địa điểm.[20]
Cuốn “Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt ” của Lê Đức Luận đã đi sâu vào
nghiên cứu cấu trúc ca dao trữ tình một cách công phu, tỉ mỉ bao quát và cụ thể từ hình thức đến nội dung, từ đặc trưng văn bản đến các phương thức tạo nên văn bản, từ ngôn ngữ đến văn hóa, từ hệ thống văn bản đến các đơn vị ngôn ngữ làm ngôn liệu tạo nên văn bản Cuốn sách này đã khảo sát một cách hoàn chỉnh về vấn đề cấu trúc ca dao người Việt [30]
Về tình yêu trong ca dao thì tác giả Chu Xuân Diên với bài viết: “Ca dao, dân ca
về tình yêu nam nữ ” đã thể hiện tình yêu nam nữ gắn liền với tình yêu lao động và kết
hợp với đấu tranh xã hội Qua đó ta thấy được ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc và
họ nói lên quan điểm của mình về vẻ đẹp lí tưởng của con người
Bùi Mạnh Nhị trong cuốn “Văn học dân gian những công trình nghiên cứu”, tác
giả đã giới thiệu những bài nghiên cứu đặc sắc, độc đáo về văn học dân gian trong đó
có bài “Tình yêu của người dân Nam Bộ trong ca dao” Trong bài tác giả cho rằng
người dân Nam Bộ khi yêu thì tình cảm của họ được bộc lộ một cách trực tiếp, nói thẳng, không bóng gió xa xôi, cốt nói cho hết được cái thương nhớ đang cháy bỏng trong lòng mình [39]
Cuốn Kho tàng ca dao người Việt do Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật
Trang 17đồng chủ biên (tái bản năm 2001) là công trình dày dặn và chuyên sâu (đã tổng hợp những lời ca dao của người Việt trên cả ba miền)
Mảng ca dao Bắc Bộ chủ yếu được tập hợp thành những tập ca dao riêng tẻ, quen
thuộc của các địa phương miền Bắc như Ca dao tục ngữ Nam Hà, Ca dao ngạn ngữ
Hà Nội, Văn học dân gian Thái Bình…
Riêng mảng ca dao Nam Bộ, có thể coi cuốn Ca dao dân ca Nam Bộ của các tác
giả Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị là công trình đầy đủ và hệ thống về ca dao, dân ca Nam Bộ Mặc dù mới chỉ là khơi gợi bước đầu nhưng vấn đề sắc thái địa phương trong ca dao tình yêu lứa đôi đã được bàn luận tới
So sánh và tìm hiểu sắc thái riêng của ca dao các vùng, miền không phải là vấn
đề mới Nguyễn Phương Châm đã có bài nghiên cứu Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc trên tạp chí Văn hóa dân gian năm 1997
Luận án Tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao người Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam của Trần Thị Kim Liên là công trình đầy đủ so sánh ca dao ba miền
Bắc, Trung, Nam trên phương diện nội dung và nghệ thuật; biểu hiện rõ nhất qua các chủ đề: chủ đề yêu nước, chủ đề quan hệ tình cảm gia đình, dòng họ, chủ đề tình yêu lứa đôi.[28]
Nhìn chung, ở những bài viết này, các tác giả chủ yếu khai thác, nhìn nhận, đánh giá ca dao tình yêu dưới nhiều góc độ khác nhau ở khía cạnh nội dung Tuy nhiên, chưa chú trọng vào mặt nghĩa Trong hiểu biết của chúng tôi, với cách nhìn nhận cùng với những công trình kể trên chính là tiền đề quan trọng, là cơ sở lý luận giúp chúng tôi hoàn thành đề tài của mình một cách hoàn chỉnh và có hệ thống
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Ẩn dụ ý niệm về tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi giới hạn nghiên cứu tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt, chủ yếu
khảo sát những câu ca dao trong cuốn Kho tàng ca dao người Việt (tập I, II, III) do
Nguyễn Xuân Kính- Phan Đăng Nhật (chủ biên), NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 1995
4 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định, khảo sát, thống kê cấu tạo của các mặt ngôn ngữ học tri nhận ở phương diện nghĩa, chỉ ra các kiểu kết hợp giữa các ẩn dụ ý niệm biểu thị tình yêu trong ca dao người Việt Chỉ ra giá trị biểu đạt của các ẩn dụ ý niệm biểu hiện trong ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp cụ thể như sau:
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Phương pháp miêu tả dựa trên quan điểm
Trang 18ngôn ngữ là một hệ thống – cấu trúc, với các thủ pháp nghiên cứu sau đây:
+ Các thủ pháp luận giải bên trong bao gồm: thủ pháp phân loại, hệ thống hóa tư liệu, thủ pháp phân tích nghĩa, thủ pháp trường nghĩa, … để làm rõ các đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ Đó chính là việc phân loại, hệ thống hóa tư liệu về các đặc điểm ngôn ngữ trong ca dao tình yêu lứa đôi theo các tiêu chí định lượng và định tính các từ ngữ này có được sau khi thực hiện biện pháp thống kê
+ Thủ pháp luận giải bên ngoài bằng việc thực hiện thủ pháp thống kê số học đề
có đủ các số liệu tư liệu về các đặc điểm ngôn ngữ ca dao tình yêu lứa đôi theo các tiêu chí định và định tính
- Phương pháp thống kê – phân loại: người viết tiến hành thống kê ca dao tình yêu lứa đôi theo hai khía cạnh: nội dung và nghệ thuật thuộc phạm vi nghiên cứu Sau
đó, tiến hành khảo sát, phân loại
- Phương pháp mô hình hóa: Để trình bài một cách hệ thống, mô hình các loại từ ngữ, cách tổ chức ngôn ngữ của từng thể loại và miêu tả quan hệ của các đối tượng khảo sát dưới dạng các bảng biểu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: người viết đưa ra các lập luận, lí lẽ, dẫn chứng để chứng minh cho các luận điểm đã đặt ra Trên cơ sở các bài ca dao tình yêu lứa đôi, khảo sát, các ngữ liệu thống kê, luận văn chỉ ra những đặc điểm, giá trị về nội dung của chúng để tổng hợp, khái quát hóa vấn đề
Trong quá trình phân tích - tổng hợp người viết có xen phương pháp so sánh, đối chiếu theo cùng đề tài, đối tượng, để làm nổi bật cái hay trong từng nội dung và biện pháp nghệ thuật của các bài bài ca dao tình yêu lứa đôi Đồng thời trên cơ sở phân tích, tổng hợp, khái quát, từ đó phát hiện những mặt hạn chế và nêu ra hướng khắc phục những lỗi đó trong các bài ca dao tình yêu lứa đôi
6 Đóng góp của luận văn
Ẩn dụ ý niệm tiếp cận biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ dựa trên kinh nghiệm của con người
về thế giới, cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa thế giới Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt , ở một mức độ nào đó, luận văn góp phần củng cố và khẳng định những vấn đề có tính chất lý luận đã được các học giả Âu
- Mỹ đặt ra
6.2 Về thực tiễn
Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt là xác định cơ chế tri nhận của người Việt Nam, nói cách khác là làm sáng tỏ cách mà người Việt Nam nhận thức về thế giới, trên cơ sở mô hình ba bình diện có quan hệ tương tác: ca
Trang 19dao người Việt - văn hóa người Việt - người Việt Nam Những kết quả mà luận văn đạt được sẽ đóng góp hữu ích cho các nhà nghiên cứu, giáo viên và cả những người quan tâm đến ca dao tình yêu lứa đôi một góc nhìn về tư duy - ngôn ngữ - văn hóa - con người trong tương quan với các đặc điểm tương ứng của dân tộc Việt Nam Bên cạnh
đó, kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể ứng dụng vào việc giảng dạy ca dao trong nhà trường
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, Phần nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương 2: HỆ THỐNG ẨN DỤ Ý NIỆM TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Chương 3: GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC BIỂU THỨC NGÔN NGỮ ẨN DỤ
Ý NIỆM TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TIÊU BIỂU TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái quát về ẩn dụ
1.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống
Ẩn dụ là một trong những phương diện nghiên cứu quan trọng của ngôn ngữ học Từ thời cổ đại, ẩn dụ đã được các nhà ngôn ngữ nghiên cứu theo nhiều phương hướng khác nhau dựa theo quan điểm dụng học, quan điểm thay thế,… Xét theo điểm chung của các quan niệm thì ẩn dụ được các nhà ngôn ngữ học truyền thống nghiên cứu trên hai phương diện cơ bản: phương diện thứ nhất là biện pháp tu từ; phương diện thứ hai là phương thức chuyển nghĩa Theo cách hiểu của quan niệm truyền thống thì
ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi của hai sự vật, hiện tượng dựa vào nét tương đồng về một đặc điểm nào đó như hình thức, trạng thái, tính chất,…
Một trong những người đi đầu nghiên cứu về ẩn dụ là Aristotle cho rằng“Ẩn dụ
là phương thức chuyển đổi tên gọi” [2, tr58] Theo cách hiểu của ông, ẩn dụ là một phương thức chuyển nghĩa dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có điểm tương đồng nào đó Chính vì vậy, Aristotle đã trở thành người khởi nguồn cho một xu hướng nghiên cứu mới về ẩn dụ
Trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, O.X.Akhmanova định nghĩa ẩn dụ là phép chuyển nghĩa (Trop) dùng các từ ngữ và ngữ ở ý nghĩa bóng trên cơ sở tương tự,
sự giống nhau…:
Với Y.Xtepanop, ông cho rằng: “Khi một từ tuy vẫn còn liên hệ với biểu vật cũ nhưng lại có thêm một sự liên hệ mới với cái biểu vật mới, thì hiện tượng ngôn ngữ đó gọi là ẩn dụ” [16, tr32]
Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng có quan điểm tương tự khi nghiên cứu về
ẩn dụ Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật này bằng tên của một
sự vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” [3, tr.54] Sau này, trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, ông đã giải thích cụ thể hơn: “Cho A là một hình thức ngữ
âm, X và Y là những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên Y (để biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau” [4, tr145] Cùng quan điểm
về sự tương đồng trong ẩn dụ, Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau” [11, tr162]
Với tác giả Nguyễn Đức Tồn, ông quan niệm “bản chất của ẩn dụ là sự thay thế
tên gọi dựa trên sự đồng nhất hóa các sự vật, hiện tượng, tính chất… khi tư duy liên tưởng của con người phát hiện ra chúng ít nhất cùng có một nét hay một đặc điểm nào đó” [50,tr.2] Chính vì vậy mà ông định nghĩa như sau: “Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng
Trang 21thuộc loại khác theo lối loại suy dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hóa hóa chúng theo đặc điểm thuộc tính nào đó cùng có ở chúng
Với Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong Phong cách học tiếng Việt các
tác giả cho rằng: Ẩn dụ thực chất là sự so sánh ngầm, trong đó vế so sánh giảm lược đi chỉ còn lại vế được so sánh [23] Và còn một số nhà nghiên cứu khác tiêu biểu như Cù Đình Tú, Hữu Đạt, Đào Thản,… cũng có cùng quan điểm với các nhà nghiên cứu trên,
có thể cách diễn đạt khác nhau nhưng về bản chất của ẩn dụ theo quan điểm truyền thống là giống nhau
Tóm lại, theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học truyền thống, bản chất ẩn dụ gồm có hai phần: cái được so sánh (the tenor) và cái so sánh (phương tiện so sánh – vehicle) Cái được so sánh là chủ thể được gán vào nó những thuộc tính, tính chất của cái so sánh Còn cái so sánh là chủ thể mà những thuộc tính, tính chất của nó bị vay mượn Có thể nói, ẩn dụ được sử dụng giống như một trong những công cụ làm đẹp bậc nhất trong văn chương Hay nói cách khác, ẩn dụ chính là một biện pháp tu từ mà thông qua nó, người đọc có thể cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn chương Tuy nhiên, khi ẩn dụ được nhìn nhận, đánh giá dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận người đọc còn thấy được sự mở rộng các nét nghĩa, sự mở rộng về mặt tư duy, sự giao thoa văn hóa…
1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận
Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận khác với ẩn dụ theo quan điểm truyền thống Ẩn
dụ tri nhận xem ẩn dụ như một sự lệch chuẩn khỏi cách sử dụng ngôn ngữ bình thường hàng ngày, và để hiểu được ẩn dụ thì phải thông qua các quá trình đặc biệt Việc thuyết giải ẩn dụ phải được thực hiện thông qua ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen, vì thế, theo quan niệm truyền thống, ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen có vai trò to lớn hơn so với ngôn ngữ mang tính ẩn dụ
Hai nhà ngôn ngữ học tri nhận nổi tiếng Lakoff và Johnson (1980, 1999) lại nhìn nhận và nghiên cứu ẩn dụ thông qua các lĩnh vực kinh nghiệm và cho rằng ẩn dụ
là hiện tượng tri nhận hơn là một hiện tượng ngôn ngữ Những biểu thức ẩn dụ mà chúng ta bắt gặp trong ngôn ngữ chính là cái phản ánh các ẩn dụ tồn tại ở tầng bậc ý niệm Ẩn dụ không còn giới hạn ở phép dùng từ hình ảnh, so sánh mà xa hơn thế, ẩn
dụ phản ánh phương thức tư duy sáng tạo của con người qua hệ thống các ý niệm, vì vậy Lakoff và Johnson gọi nó bằng thuật ngữ “Ẩn dụ ý niệm”
Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm - cognitive metaphor - conceptual metaphor) là một lĩnh vực đã được nghiên cứu từ rất lâu bởi một số học giả như Kant, Blumenberg và Weinrich Đến những năm 80 của thế kỉ XX, cùng với sự kế thừa và phát triển thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, công trình “Metaphors We Live By” của Lakoff và Johnson xuất hiện trở thành xương sống cho các nhà ngôn ngữ học tri nhận, tạo nên một trào lưu tri nhận phát triển rộng trên khắp thế giới Ẩn dụ đã được công nhận thuộc phạm trù tư duy, là một thao tác tinh thần giúp con người nhận thức
Trang 22và hiểu biết về hiện thức khách quan sinh động Ẩn dụ tri nhận là “Một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới… Ẩn dụ được xem như là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác, và với ý nghĩa
đó, ẩn dụ là một trong những phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ” [5, tr293-294] Nhờ phương thức ẩn dụ, con người nhận biết thế giới bao gồm thế giới vật chất, thế giới tinh thần và thế giới cảm xúc Ẩn dụ gắn liền với đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ Với các luận điểm như trên, bản chất của ẩn dụ được nhận thức theo quan điểm tri nhận có bản chất hoàn toàn khác so với cách nhận thức ẩn dụ theo quan điểm truyền thống Và ẩn dụ thường gặp không những trong các tác phẩm văn học mà còn trong các ngành khoa học khác như triết học, luật pháp, tâm lý học, nhận học,…nó rất hiệu quả đối với việc thể hiện tình cảm của con người trong giao tiếp hằng ngày
1.1.3 Ý niệm
Trong ngôn ngữ học tri nhận, các nhà nghiên cứu đều coi ý niệm (concept) là đơn vị cơ bản của tính tinh thần Tức là, ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người Y.Xtepanov giải thích ý niệm như sau: “Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hóa trong ý thức con người; dưới dạng của nó nền văn hóa đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người và mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người - người bình thường không phải là “người sáng tạo ra những giá trị văn hóa” – chính con người đó đi vào văn hóa
và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hóa” [15,tr.33] Nói như vậy, ý niệm ở đây được hiểu không chỉ là vấn đề tri thức Ý niệm chi phối các chức năng hoạt động hàng ngày cho đến những chi tiết tầm thường nhất Và cũng từ đó, người tiếp xúc với ý niệm sẽ hiểu được văn hóa trong các mô hình ý niệm cụ thể Đó chính là quá trình con người đi vào văn hóa, và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hóa Từ quan niệm then chốt này, những khái niệm khác của tri nhận như: khung tri nhận, mô hình tri nhận, phạm trù và điển dạng, không gian tinh thần … mới được xác định
Trong Ngôn ngữ học tri nhận: Từ điển, tường giải và đối chiếu, tác giả Trần Văn
Cơ cũng khẳng định rằng, ý niệm là “một mảng của thế giới do con người cắt ra bằng
“lưỡi dao ngôn ngữ” để nhận thức” [8, tr.104] Việc cắt thế giới ra thành từng mảng được gọi là ý niệm hóa Việc ý niệm hóa thế giới cho con người những “bức tranh thế giới” không giống nhau do sự chi phối của các cộng đồng người và những nền văn hoá khác nhau Nói như vậy, Trần Văn Cơ cho rằng ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lý của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của
bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lý con người Trong quá trình tư duy, con người dựa vào các ý niệm để mã hóa thông tin của hoạt động
Trang 23nhận thức thế giới của con người dưới dạng “những lượng tử” của tri thức Trong thực
tế, chúng ta sử dụng rất nhiều quá trình ý niệm hóa khi tạo sinh các phát ngôn Mỗi phát ngôn được tạo sinh, một cách vô thức chúng ta cấu trúc mọi phương diện của kinh nghiệm mà chúng ta có ý định chuyển tải Sự ý niệm hóa kinh nghiệm đem lại cho con người những bức tranh đa dạng về thế giới và làm hình thành các mô hình tri nhận Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ, ý niệm thường bao gồm hai thành tố:
hình bóng ý ni ệ m và hình n ề n ý ni ệ m Hình bóng ý niệm là
ý niệm được biểu đạt bởi từ đã cho Hình nền ý niệm được hiểu là tri thức hay cấu trúc
ý niệm được tiền giả định bởi ý niệm hình bóng, hình bóng ý niệm sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có hình nền ý niệm Do vậy, ý nghĩa của đơn vị ngôn ngữ phải được xác định có tính đến cả ý niệm hình bóng lẫn hình nền, hay nói cách khác – cả “ý niệm” lẫn “khung lĩnh vực”
Vậy ý niệm là “cái chứa đựng” sự hiểu biết của con người về thế giới được hình thành trong ý thức của quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ Trong ý niệm có cái phổ quát (khái niệm) và cái đặc thù (văn hóa được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau) Hay nói cách khác, ý niệm = khái niệm + các đặc thù văn hóa
Những vấn đề lí thuyết này là cơ sở để luận văn phân xuất, nhận diện và hệ thống
hóa các ý niệm tình yêu trong các chương tiếp theo Cụ thể, luận văn sẽ vận dụng lí
thuyết về ý niệm, cấu trúc ý niệm để xác lập và chỉ ra các bộ phận cấu thành các ý niệm
tình yêu, đặc biệt xác định được trung tâm của ý niệm (chứa đựng cái phổ quát toàn nhân
loại) và ngoại vi ý niệm (chứa đựng đặc thù văn hoá dân tộc) Cũng trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chủ yếu vận dụng mô hình ẩn dụ để tìm hiểu về các ẩn dụ ý niệm tình yêu tiêu biểu trong ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt
1.1.4 Sự diễn giải, khung tri nhận và không gian tinh thần
Sự diễn giải, khung tri nhận và không gian tinh thần là tập hợp các khái niệm
có vai trò to lớn trong việc chứng minh mối quan hệ qua lại giữa tư duy, nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận
Theo quan điểm của Ngôn ngữ học tri nhận, sự diễn giải được hiểu là những
cách thức mã hóa khác nhau về một tình huống cụ thể nhằm kiến tạo những sự ý niệm hóa khác nhau Nói cách khác, một tình huống cụ thể được “diễn giải” theo nhiều cách khác nhau Quan điểm này rõ ràng đi ngược lại với quan điểm ngôn ngữ học truyền thống vốn cho rằng ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc đồ chiếu trực tiếp theo kiểu một đối một các yếu tố của thế giới bên ngoài vào dạng thức ngôn ngữ Trong các cách khác nhau của việc diễn giải cùng một tình huống và trong những trường hợp nhất định, chỉ có một cách diễn giải tỏ ra phù hợp hoặc tự nhiên được lưu tâm lựa chọn Điều này chứng minh có sự khác biệt trong kinh nghiệm ngôn ngữ của từng cá nhân cụ thể, cái mà các nhà ngôn ngữ học tri nhận gọi là “khoảng trống ngẫu nhiên” [29,tr.134] trong kinh nghiệm diễn ngôn của họ Khi đó, khả năng vạch ra các
Trang 24khác biệt tinh tế của người sử dụng ngôn ngữ có thể được lý giải Trong luận văn của chúng tôi, khái niệm đưa ra cận cảnh có vai trò thiết thực trong việc xác định mô hình ánh xạ giữa miền đích với miền nguồn, xác lập tiêu điểm tri nhận trong mỗi cặp nguồn đích của ẩn dụ Đây cũng là căn cứ để luận án chọn lọc các thuộc tính ánh xạ phù hợp trong mỗi ẩn dụ ý niệm, tập trung phân tích để chỉ ra đặc trưng tri nhận của tác giả trong tương liên với những đặc trưng tri nhận của cộng đồng
Khung tri nhận là khái niệm được Fillmore [12] dùng để gọi những tri thức nền
liên quan đến việc hiểu nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ nào đó Nói cách khác, việc hiểu tường tận một đơn vị ngôn ngữ nào đó đòi hỏi một lượng hiểu biết đáng kể bên ngoài phạm vi định nghĩa của từ điển Bản thân khung không phải là cái vẫn thường được coi là “nghĩa” của từ, tuy nhiên lại là thiết yếu cho việc hiểu được nó “Ví dụ, từ
uncle (chú/bác) chỉ có nghĩa khi hiểu được quan hệ thân tộc nói chung – cụ thể uncle liên quan như thế nào với những từ như father (bố), mother (mẹ), aunt (cô, dì)…” [29,
tr 24-25] Cũng như vậy, một ý niệm như MŨI không thể xác định được nếu không có lĩnh vực CƠ THỂ, hay các ý niệm MẦM, NỤ, HOA cũng không thể xác định được nếu bỏ qua khung CÂY CỎ (THỰC VẬT)
Khung là một khái niệm vừa mang chiều kích ý niệm vừa mang chiều kích văn hóa Phương diện ý niệm giúp phân biệt các đơn vị ngôn ngữ trong cùng một khung Phương diện văn hóa bao gồm những nét đặc thù văn hoá – dân tộc như: văn hoá toàn dân tộc, văn hoá các tộc người, văn hoá vùng – miền – địa phương, văn hoá riêng của nhóm xã hội, văn hoá cá thể… Thông qua khung tri nhận, chúng ta có thể biết được cái gì là đặc trưng, cốt lõi của một nền văn hoá Điều này dẫn tới một hệ quả, đó là mặc dù các thành viên khác nhau trong cùng một cộng đồng ngôn ngữ chia sẻ các khung chung đối với những đơn vị ngôn ngữ nhất định, nhưng cũng có thể nhận thấy những khác biệt giữa các cá nhân về phương diện này Bởi vì, nền tảng tri thức của cá nhân chắc chắn phụ thuộc vào kinh nghiệm của cá nhân nên nhất định phải có những
sự không ăn khớp giữa các cá nhân trong ít nhất một vài biểu thức ngôn ngữ [29, tr.230]
Trong ngôn ngữ, có những ý niệm dường như biểu đạt cùng một sự vật của thế giới khách quan nhưng thực ra chúng thuộc vào những khung khác nhau Theo Langacker (1987), hai từ MEAT và FLESH đều có nghĩa là “thịt” nhưng hai từ lại thuộc hai khung được phân biệt nhau theo ngữ cảnh sử dụng MEAT thuộc khung thực phẩm, còn FLESH thuộc khung cơ thể (phân biệt với gân, xương, máu…) Ngược lại, cùng một đơn vị ngôn ngữ có thể gắn với những nghĩa khác nhau ở những khung khác nhau Đó là trường hợp các từ đa nghĩa Mỗi đơn vị ngôn ngữ đều gợi ra một khung ngữ nghĩa Sự khác nhau về ngữ nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ là ở sự ý niệm hóa kinh nghiệm và khung quy chiếu Bởi vậy, trong não bộ chúng ta tồn tại nhiều khung tri nhận Mỗi đơn vị ngôn ngữ sẽ giúp người sử dụng truy cập vào những vùng nhất định trong
“nền tảng tri thức”, từ đó gợi ra những chùm nghĩa (khung) cho người này khác với cho
Trang 25người khác Sự đóng khung như vậy phụ thuộc vào kinh nghiệm cụ thể của cá nhân người sử dụng ngôn ngữ
Những hiểu biết về khung tri nhận được luận văn vận dụng trong việc nhận diện, phân loại ý niệm về các phạm trù thích hợp Nói cách khác, để làm rõ ý niệm về tình yêu trong ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt, chúng tôi phải xác định và lựa chọn khung tri nhận phù hợp, sau đó đặt các ý niệm này vào các khung đã lựa chọn để làm
rõ nội hàm của chúng Trong hoạt động giao tiếp, con người không chỉ tri nhận thế giới khách quan bằng tư duy ẩn dụ mà còn bằng tư duy sáng tạo thông qua mạng pha trộn ý niệm Không gian tinh thần và pha trộn ý niệm là công cụ lí thuyết đắc lực trong việc giải thích một loạt các hiện tượng ngôn ngữ, bao gồm cả những hiện tượng hình thức lẫn những hiện tượng ngữ nghĩa Điều này được luận văn vận dụng để xem xét các trường hợp mà lí thuyết ẩn dụ chưa thể làm sáng rõ, đặc biệt trong các biểu thức không có sự ánh xạ tương ứng, tức là những trường hợp không có sự ánh xạ trực tiếp
từ miền nguồn sang miền đích như trong các ẩn dụ thông thường
1.1.5 Phạm trù tri nhận và điển dạng
Thuật ngữ phạm trù (categories) trong ngôn ngữ học tri nhận được sử dụng rộng
rãi nhưng ý nghĩa của nó lại khá mơ hồ Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì phạm trù và ý niệm là giống nhau Nhưng nếu xét cụ thể hơn thì phạm trù là sự quy loại của sự vật trong tri nhận, còn ý niệm chỉ phạm vi ý nghĩa của những từ ngữ được hình thành trên
cơ sở phạm trù, là cơ sở của suy luận Nói như vậy, phạm trù chính là kết quả của sự khái quát hóa sự phát triển lịch sử của nhận thức và của thực tiễn xã hội
Quá trình phạm trù hóa là quá trình tri nhận của con người đã đặt cho vạn vật trên thế giới một cấu trúc nhất định Cấu trúc phạm trù hóa sự vật trực tiếp phản ánh trong ngôn ngữ, vì vậy ngôn ngữ học tri nhận coi kinh nghiệm, tri nhận, phạm trù hóa là xuất phát điểm của các nghiên cứu ngôn ngữ đã cho thấy, phạm trù hóa là khả năng cơ bản nhất của tư duy, tri giác, hành vi và lời nói của con người Khi chúng ta gọi một loại sự
vật nào đó là cây, chim… là ta đã đặt tên gọi cho phạm trù Hoặc khi chúng ta mô tả các hành vi đi, đánh, yêu…tức là chúng ta đã mô tả phạm trù hành vi bằng ý niệm
Xét từ góc độ tri nhận, mọi phạm trù đều là những phạm trù mờ, hay phạm trù
mơ hồ (fuzzy categories) Nguyên nhân là bởi các thành viên của cùng một phạm trù không do các đặc trưng chung quyết định mà do tính tương tự gia tộc quyết định, tức là giữa các thành viên trong phạm trù luôn có một số đặc trưng chung Trong phạm trù, thành viên nào sở hữu nhiều đặc trưng chung hơn những thành viên khác sẽ được coi
là thành viên điển hình và trung tâm của phạm trù đó, còn những thành viên khác sẽ là thành viên không điển hình hoặc những thành viên biên Do đó, ranh giới giữa các phạm trù không rõ ràng, có sự giao thoa với các phạm trù khác ở biên Mỗi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan còn có thể đồng thời thuộc về nhiều cấp bậc phạm trù,
ví dụ “gà Đông Tảo” đồng thời thuộc về nhiều cấp bậc phạm trù: gia cầm, giống gà… Con người có thể dễ dàng phân biệt sự vật nhờ các phạm trù cơ bản, tức là ở cấp bậc
Trang 26mà phạm trù kinh nghiệm của não bộ và phạm trù của giới tự nhiên gần nhau nhất, tương xứng nhất, con người dễ dàng cảm nhận và ghi nhớ nhất
Theo Rosch, điển dạng (prototype) là “những ví dụ đạt nhất” (best example) để
khảo cứu các lĩnh vực về hình dáng, các sinh vật và vật thể (1973, 1975) Một số nhà ngôn ngữ nổi tiếng khác như Lakoff (1986), Brown (1990), Trersky (1990) cũng đều định nghĩa điển dạng là “ví dụ đạt nhất của một phạm trù”, “thí dụ nổi bật”, “trường hợp rõ nhất trong các thành viên phạm trù”, “đại diện tiêu biểu nhất của các vật được bao hàm trong một lớp”, “thành viên trung tâm và điển hình” [49, tr.33] Một số tác giả khác thì nhấn mạnh rằng cần phải thấy trước hết điển dạng là một biểu tượng tinh thần (mental representation), một loại điểm quy chiếu tri nhận (cognitive reference point) [Ungerer, Schmid 1996] Khi con người tạo ra trong đầu mình một hình ảnh cụ thể hoặc trừu tượng về những sự vật hiện tượng thuộc một phạm trù nào đó thì hình ảnh này được gọi là điển dạng Nhờ nó con người tri giác được hiện thực, yếu tố nào của phạm trù ở gần cái hình ảnh này hơn cả sẽ được đánh giá là một phiên bản tốt nhất hoặc điển dạng nhất so với những phiên bản khác
Như vậy, mô hình dựa trên điển dạng công nhận tư cách thành viên trong phạm trù là một hiện tượng có thang độ, tức là một số thành viên trong phạm trù mang tính trung tâm hơn những thành viên khác Từ góc độ ngôn ngữ học, thay vì nghiên cứu đơn lẻ từng thành viên của phạm trù, có thể nghiên cứu điển dạng để phán đoán, nhận định và đưa ra kết luận các đặc điểm và thuộc tính của phạm trù đó
Những đặc điểm trên đây của phạm trù và điển dạng sẽ được luận văn vận dụng
xác định phạm trù ý niệm tình yêu lứa đôi trong ca dao của người Việt Đặc biệt, luận văn còn quan tâm tới sự vận động ý niệm thông qua những mạng lưới ngữ nghĩa được cấu thành xung quanh nghĩa trung tâm hay nghĩa cốt lõi (điển dạng) của mỗi phạm trù
Sự vận động ý niệm góp phần soi sáng mối quan hệ giữa các ý niệm cụ thể và các vùng
ý niệm trong tư duy, qua đó giúp nhận diện được các mối quan hệ tri nhận tự nhiên
1.1.6 Tính nghiệm thân
Mỗi trải nghiệm của con người với thế giới xung quanh đều tạo nên những ý nghĩa nhất định và quyết định phương thức con người hiểu biết về vạn vật, về quá trình phạm trù, những ý niệm, ý nghĩ, tâm trí của con người Mà hệ thống ý niệm của con người bao hàm các ánh xạ (mappings) từ miền cụ thể sang miền trừu tượng và ánh xạ
ẩn dụ không mang tính chất quy ước Hệ thống ý niệm do bản chất của tính nghiệm thân quy định Chính vì vậy, các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng trải nghiệm của thân thể vừa kích hoạt, vừa đặt cơ sở tạo thành ẩn dụ
Trong quá trình trải nghiệm, tính tương tác của con người bao hàm các mặt: sinh học, xã hội, văn hóa, kinh tế, đạo đức, chính trị,… rất nhiều kinh nghiệm nghiệm thân của con người được bắt rễ trong bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể, bị ảnh hưởng bởi một chế ước văn hóa cụ thể Ở nhiều nền văn hóa, rất nhiều trải nghiệm cơ bản của con người được tạo ra từ tập tục văn hóa bản địa, do đó, có thể xem tính nghiệm thân của
Trang 27tâm trí được sản sinh từ mối tương tác giữa con người với thế giới khách quan và bị giới hạn trong bối cảnh văn hóa cộng đồng Đó là một quá trình thực nghiệm hóa sự trải nghiệm - một con đường kiếm tìm cái hay của một tác phẩm thi ca Trên hành trình thực nghiệm hóa, nhà nghiên cứu có thể thông qua tầng bậc của các ý niệm trong tác phẩm để được soi rọi và nhìn thấy cái thần, có thể xuyên thấu mạch tâm tư của tác giả cũng như có thể khẳng định được chiều sâu tác phẩm và sự độc đáo trong sáng tạo của người sáng tác Vì vậy, khi xem xét kinh nghiệm trải nghiệm của con người là phải xem xét cả kinh nghiệm của cá thể và kinh nghiệm cộng đồng của người nói cùng ngôn ngữ
1.1.7 Miền Nguồn – miền Đích trong ẩn dụ ý niệm
Lý Toàn Thắng cho rằng “ẩn dụ ý niệm là một sự “chuyển di” (transfer) hay một sự “đồ hoạ” (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận nguồn sang một lĩnh vực hay mô hình tri nhận đích” [49, tr.25] Như vậy, có thể miền được chọn làm tiêu chuẩn cho sự ánh xạ được gọi là miền Nguồn (Source domain), và miền được nhận những hình ảnh của quá trình ánh xạ là miền Đích (Target domain) Miền Nguồn có chức năng cung cấp tri thức mới và chuyển tri thức mớ cho miền Đích Miền Đích thường trừu tượng hơn, còn miền Nguồn thì cụ thể và thuộc về vật chất hơn Chẳng hạn, trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỢI TƠ, hai ý niệm ở hai miền Nguồn – Đích là hoàn toàn khác biệt, tưởng như không dính dáng gì đến nhau Miền nguồn là ý niệm về một sự gắn kết (Sợi tơ) và miền đích là một điều trừu tượng (Tình yêu) Thế nhưng tình yêu, từng phần đã được xếp đặt, được hiểu, được trình diễn và được bàn đến theo ý niệm về sợi tơ Ở ví dụ này, bản thân ý niệm về tình yêu là trừu tượng, không rõ ràng Ta không thể hình dung nó, nếu không thông qua ẩn dụ
Nhà ngôn ngữ học Zoltan Kovecses trong [21] cũng nhấn mạnh: không có một miền Đích nào chỉ dành để ánh xạ đặc biệt đến một miền Nguồn nào Nghĩa là bất cứ Nguồn nào cũng có thể ánh xạ cho bất cứ Đích nào Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng những ẩn dụ ý niệm là đơn hướng, tức là ánh xạ ẩn dụ tuân thủ theo nguyên tắc một hướng: sơ đồ hình ảnh của miền Nguồn được ánh xạ lên miền Đích chứ không ngược lại Những miền Nguồn thông thường nhất là có tính cụ thể, trong khi những miền Đích thông thường nhất là có tính trừu tượng Do đó, ẩn dụ có thể được sử dụng để hiểu: dùng cái cụ thể để hiểu cái trừu tượng [21]
Khái niệm trên sẽ được luận văn lấy làm căn cứ để tìm hiểu về các miền ý niệm Nguồn – Đích khảo sát được, trong đó chú ý tới nguyên tắc của ánh xạ ẩn dụ giữa hai miền Nguồn – Đích trong các ẩn dụ ý niệm nổi bật để thấy được cái hay cái đẹp của tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt
1.1.8 Ánh xạ (mapping)
Việc hiểu một lĩnh vực kinh nghiệm đều có liên quan đến ẩn dụ Theo Lakoff và
Johnson, hai ông gọi sự kiện đó theo một thuật ngữ toán học là ánh xạ (mapping) Sơ
Trang 28đồ ánh xạ trong cấu trúc ẩn dụ ý niệm là một hệ thống của những tương liên (correspondences) nằm giữa các thành tố của miền Nguồn và miền Đích Nhận biết và hiểu một ẩn dụ ý niệm là nhận biết bộ ánh xạ áp dụng cho một cặp Nguồn – Đích đã cho Đó là nguyên tắc tổng quát và nguyên tắc này áp dụng không chỉ cho những diễn đạt thi ca, mà cho nhiều cách nói trong ngôn ngữ thường ngày Quỹ tích của ẩn dụ không nằm trong ngôn ngữ, mà nằm trong cách chúng ta ý niệm hóa một lĩnh vực tinh thần này theo một lĩnh vực tinh thần khác Kết quả của ẩn dụ “tuyệt đối có tính cách chủ yếu đối với ngữ nghĩa luận của ngôn ngữ tự nhiên bình thường và sự khảo sát ẩn
dụ văn chương là mở rộng việc nghiên cứu các ẩn dụ hàng ngày” [George Lakoff, The Contemporary Theory of Metaphor]
Như vậy, dựa vào lí thuyết về ánh xạ, chúng tôi vận dụng để phân tích các ẩn dụ
ý niệm về tình yêu lứa đôi trong cả luận văn; đặc biệt là cơ chế ánh xạ của các ẩn dụ dựa trên cơ sở (hay căn cứ ánh xạ) đã được Lakoff tổng kết, đó là: cơ thể con người, kinh nghiệm thường nhật và tri thức
1.1.9 Tổ hợp ẩn dụ
Từ góc độ tri nhận luận, việc nghiên cứu các ẩn dụ văn học chính là sự mở rộng việc nghiên cứu những ẩn dụ thường ngày của con người Điều này được thể hiện trên hai phương diện: việc sử dụng ngôn ngữ mới mẻ trên cơ sở các ẩn dụ thường quy và việc chi tiết hoá, phức tạp hoá các ẩn dụ thường quy để tạo ra các ẩn dụ ý niệm mới
mẻ G Lakoff và M Turner trong [26, tr.67-72] đã đề ra bốn cơ chế tạo thành các ẩn
dụ văn chương dựa trên các ẩn dụ thường quy, đó là: mở rộng (extending), chi tiết hoá (elaboration), kết hợp (composing) và đặt nghi vấn (questioning)
Các ẩn dụ ý niệm có thể sắp xếp theo nhiều hình thức khác nhau tùy theo các cách khác nhau Zoltan Kovecses [21, tr.29-41] đề ra bốn cách phân loại Tuy nhiên, cách xếp loại dựa theo chức năng tri nhận là cách xếp loại căn bản của trường phái Ngôn ngữ học tri nhận Đây cũng là quan điểm được chúng tôi lựa chọn để tìm hiểu về
ẩn dụ tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt Theo chức năng tri nhận, ẩn dụ ý niệm
thường được chia làm ba loại:
- Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors): là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị)
của một từ (hay một biểu thức) này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một từ (hoặc một biểu thức) khác (dẫn theo [8, tr 254])
Kiểu ẩn dụ này thường sử dụng kết quả của biểu trưng hóa trong sự liên tưởng, giúp người ta hiểu ý niệm đích A (thường trừu tượng) thông qua các cấu trúc ý niệm nguồn B (cụ thể hơn) Trong loại ẩn dụ này, miền nguồn cung cấp một cấu trúc tri thức tương đối phong phú cho miền ý niệm đích, và sự hiểu biết này diễn ra thông qua các ánh xạ lược đồ ý niệm giữa các yếu tố của miền A và B Ẩn dụ cấu trúc có đặc điểm cấu trúc hai không gian được gọi là hai miền ý niệm: miền Nguồn (Source domain) và miền Đích (target domain) Ý niệm tại miền Đích (trừu tượng hơn) được hiểu thông qua ý niệm tại miền Nguồn (cụ thể hơn) Quan hệ giữa miền Nguồn và
Trang 29miền Đích là quan hệ ánh xạ, nghĩa là nội dung của ý niệm tại miền đích được ánh xạ
từ ý niệm tại miền nguồn (dẫn theo [8, tr.254])
- Ẩn dụ bản thể (Ontological metaphors): Ẩn dụ bản thể thực chất là phạm trù
hoá những đối tượng trừu tượng nhờ vào khả năng bản thể hoá (vật thể hoá) của tri giác con người [8, tr.220] Nhiệm vụ tri nhận của loại ẩn dụ này dường như chỉ đơn thuần là cung cấp trạng thái bản thể cho các phạm trù chung của những ý niệm đích trừu tượng Điều này có nghĩa là chúng ta hình dung trải nghiệm của mình dưới dạng sự vật, chất liệu hay vật chứa Nhờ có ẩn dụ bản thể mà người sử dụng ngôn ngữ có thể đề cập đến, lượng hoá hay nhận diện các bình diện của đối tượng như là các vật thể, chất liệu hay vật chứa cụ thể mà trước đó không hề rõ ràng
- Ẩn dụ định hướng (Orientational metaphors): Không cấu trúc ý niệm thông qua
một ý niệm khác mà tổ chức cả một hệ thống ý niệm trong mối tương quan với nhau
Ẩn dụ định hướng là những ẩn dụ dựa vào các định hướng không gian căn bản của con người mà hầu hết liên quan đến định vị không gian với những kiểu đối lập như trong – ngoài, lên – xuống, trước – sau,… Ví dụ như cái gì thuộc về hạnh phúc, niềm vui, danh
vọng, giàu sang, thành công thường được định hướng lên trên (hiểu như đi lên, cao);
ngược lại, cái gì thuộc về thất bại, buồn chán, nghèo đói, bần cùng được định hướng
xuống dưới (hiểu như thấp, đi xuống) Như vậy, ẩn dụ định hướng không mang tính võ
đoán mà có cơ sở kinh nghiệm lý tính và văn hóa Nó có thể khác nhau ở mỗi nền văn hóa
1.2 Khái quát về ca dao
1.2.1 Khái niệm ca dao
Ca dao là một thuật ngữ Hán - Việt Trong Kinh thi, phần Ngụy phong, bài Viên hữu đào có câu: “Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao” (Lòng ta buồn, ta ca và dao) Ca dao
được các nhà nghiên cứu Văn nghệ dân gian Trung Quốc dùng để gọi hai loại dân ca
khác nhau Sách Mao truyện viết: “Khúc hợp nhạc viết ca, đồ ca viết dao” Nghĩa là
bài hát có nhạc đệm thì gọi là ca, còn hát trơn thì gọi là dao Tương ứng theo cách gọi trên thì những bài hát nghi lễ là ca và những bài hát giao duyên là dao
Đối với giới nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, thuật ngữ ca dao được
hiểu theo các nghĩa rộng hẹp khác nhau Thời trước, người ta còn gọi ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại
Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Và
một thời Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu [23,tr.31] Trong trường hợp này ca dao đồng
nghĩa với dân ca
Trên thực tế, khái niệm ca dao đã dần dần có sự thu hẹp nội hàm Từ một thế kỷ
nay, các nhà nghiên cứu dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn
từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) [23,
tr.31] Với nghĩa này, ca dao là một bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơ dân
Trang 30gian truyền thống
Lê Đức Luận cho rằng, ca dao được tạo ra từ hai nguồn Nguồn chủ yếu từ lời của các câu hát dân gian và nguồn thứ hai từ các sáng tác ngâm vịnh trong dân chúng được hòa vào dòng chảy dân gian Điều này thể hiện rõ, ca dao có cuộc sống riêng, giai đoạn đầu là lời từ các làn điệu dân ca và càng về sau nó được sáng tác độc lập
Như vậy, “Ca dao là lời của các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và gọi chung là lời ca dân gian” [30, tr.26]
Bên cạnh đó, Nguyễn Xuân Kính cũng khẳng định rằng: Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách [20] Ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian có nội dung trữ tình và trào phúng Như vậy, theo chúng tôi, ca dao là lời ca dân gian Lời ca là các làn điệu dân ca và các sáng tác ngâm vịnh của các nhà Nho được hòa vào dòng chảy dân gian Khái niệm ca dao được xem là phần lời của những câu hát trữ tình truyền thống Bộ phận lời đơn bắt nguồn từ các loại dân ca nghi lễ, dân ca lao động, dân ca sinh hoạt nhưu ru con… là những loại dân ca không có hình thức đối đáp và các sáng tác ngâm vịnh của các cá nhân hòa vào dòng chảy ca dao Bộ phận lời đôi hình thành từ dân ca giao duyên là loại dân ca có hình thức đối đáp nên một lời bao gồm một chỉnh thể các vế đối đáp Ca dao được xem
là loại thơ trữ tình dân gian có sức truyền cảm rất lớn Cho đến nay, sức sống trường tồn của những câu ca dao vẫn mạnh mẽ hơn bao giờ hết, chúng đã thể hiện vai trò không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt
1.2.2 Ca dao tình yêu lứa đôi
Tình yêu là một khái niệm hết sức trừu tượng, dù mọi người ai cũng rất quen với khái niệm tình yêu, nhưng để trả lời câu hỏi “tình yêu là gì?” thì lại không đơn giản Những người đã yêu vẫn bàn về tình yêu Những người đang tới tuổi yêu thì có một nhu cầu tìm hiểu về khái niệm tình yêu Chủ điểm tình yêu đã trở thành bất tận trong cuộc sống Khó đưa ra một định nghĩa khoa học về tình yêu, có lẽ vì yêu là một tình cảm cực kì phong phú, bao hàm nhiều mặt về nội dung Tuy nhiên, có thể nói một cách khái quát, tình yêu là tình cảm cao nhất trong quan hệ nam nữ Nó biểu thị mối quan hệ giữa hai người khác giới cảm thấy có một nhu cầu phải gắn bó lại với nhau để sống, tự nguyện hiến dâng cho nhau cuộc sống của mình
Trong kho tàng ca dao người Việt, bộ phận ca dao tình yêu lứa đôi là bộ phận phong phú nhất Tính chất phong phú của ca dao tình yêu lứa đôi trước hết thể hiện qua số lượng, nó chiếm số lượng nhiều nhất trong các bộ phận của kho tàng ca dao Việt Nam Điều này là dễ hiểu, bởi lẽ các chàng trai, cô gái thời xưa sử dụng ca dao như là phương tiện hữu hiệu nhất để trò chuyện, diễn tả tình cảm,tâm trạng trong quan
hệ tình bạn, tình yêu Họ thường gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi cùng lao động, trong những ngày hội hè, vui xuân Một trong những hình thức thể hiện của sự giao duyên đó là những cuộc hát đối đáp nam nữ Có thể tập hợp các bài
ca dao cổ truyền về tình yêu nam nữ thành hai phần: một phần là của cô gái, một phần
Trang 31là của chàng trai; hầu hết các câu hát bài ca trong hai phần đó là những lời đối đáp bổ sung cho nhau thành một nội dung hoàn chỉnh của tình yêu nam nữ Mọi giai đoạn, cung bậc, sắc thái của tình yêu cũng như khát vọng về tình yêu trong sáng, chân thật, nồng cháy, thủy chung được thể hiện thật tinh tế, gợi cảm Do đó diện mạo của tình yêu đôi lứa được ca dao vẽ ra thật hoàn chỉnh, thật cụ thể, sinh động và không kém phần sâu sắc, bay bổng, lãng mạn
Có thể nói rằng, ca dao trữ tình về tình yêu đôi lứa là bộ phận đặc sắc nhất, viên mãn nhất, biểu hiện vẻ đẹp độc đáo trong tâm hồn, tài trí, tình cảm và khát vọng của người Việt ta từ bao đời nay Chính nó là hiện thân cho vẻ đẹp, sức sống, sức hấp dẫn của ca dao nói riêng, văn học dân gian nói chung Và nó cũng là mảng đề tài lớn, mảnh đất màu mỡ cho những ai yêu quý vốn văn học dân gian quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu
* Tiểu kết:
Những cơ sở lý luận trên là kim chỉ nam cho quá trình thực hiện toàn bộ luận văn của chúng tôi Có thể nhận thấy, ẩn dụ ý niệm là hình thái tư duy của con người về thế giới, là một công cụ hữu hiệu để con người ý niệm hoá các khái niệm trừu tượng Tư duy ẩn dụ dựa trên cơ sở các ý niệm Ý niệm chịu tác động của phạm trù, điển dạng và các mô hình văn hoá, do đó, ý niệm không chỉ mang tính phổ quát mà còn mang tính đặc thù văn hoá dân tộc
Cơ chế của ẩn dụ ý niệm tuân theo cơ chế ánh xạ kiểu lược đồ giữa hai miền không gian Nguồn và Đích Ánh xạ ẩn dụ là đơn tuyến và có tính chất bộ phận Các
mô hình tri nhận thường nhấn mạnh vào bản chất tinh thần, kinh nghiệm tri giác và nhận thức khoa học của con người Với vai trò là cơ sở của tư duy, ẩn dụ còn được xem như một công cụ quan trọng để con người tìm hiểu và khám phá chính bản thân mình
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt trên nhiều phương diện, tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu nào dựa trên
lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là lý thuyết ẩn dụ ý niệm một cách đầy đủ và
có hệ thống Luận văn này vận dụng triệt để lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận (đặc biệt
là ẩn dụ ý niệm) đã được tổng hợp trong chương 1 để đi sâu nghiên cứu một số ẩn dụ ý niệm tiêu biểu trong ca dao tình yêu lứa đôi người Việt ở các chương tiếp theo
Trang 32Bảng 2.1: Hệ thống các ẩn dụ ý niệm về tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt
TT Ẩn dụ ý niệm về tình yêu lứa đôi trong ca dao
2 TÌNH YÊU LÀ CĂN BỆNH (LOVE IS A ILLNESS ) 1977 28.68%
3 TÌNH YÊU LÀ CÂY CỎ (LOVE IS A PLANT) 994 14.42%
4 TÌNH YÊU LÀ ĐỘNG VẬT (LOVE IS A ANIMAL) 528 7.66%
5 TÌNH YÊU LÀ SỢI TƠ (LOVE IS A THREAD) 373 5.41%
6 TÌNH YÊU LÀ SỢI DÂY (LOVE IS A ROPE) 258 3.74%
7 TÌNH YÊU LÀ VẬT TRAO ĐỔI (LOVE IS A
9 TÌNH YÊU LÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN (LOVE
10 TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG (LOVE IS A FLUID) 87 1.26%
11 TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI (LOVE IS
12 TÌNH YÊU LÀ DÒNG SÔNG (LOVE IS A RIVER) 68 0.99%
15 TÌNH YÊU LÀ KHÚC CA (LOVE IS A SONG) 33 0.48%
16 TÌNH YÊU LÀ TRÕ CHƠI (LOVE IS A GAME) 16 0.23%
Trang 33Qua thống kê phân loại, chúng tôi nhận thấy, ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong tuyển tập Kho tàng ca dao người Việt khá phong phú và đa dạng Nổi bật nhất là một
số kiểu ẩn dụ ý niệm về tình yêu như: TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH với 2050/6893 (chiếm 29,74%), TÌNH YÊU LÀ CĂN BỆNH (LOVE IS A ILLNESS) với 1977/6893 (chiếm tỷ lệ 28,68%), TÌNH YÊU LÀ CÂY CỎ (LOVE IS A PLANT) với 994/6893 (chiếm tỷ lệ 14,42%), TÌNH YÊU LÀ SỢI TƠ (LOVE IS A THREAD) với 373/6893 (chiếm tỷ lệ 5,41%), Tiếp đó là một số ẩn dụ ý niệm khác như TÌNH YÊU
LÀ CHẤT LỎNG (LOVE IS A FLUID), TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI (LOVE IS CLOSENESS), TÌNH YÊU LÀ ĐỘNG VẬT (LOVE IS AN ANIMAL), TÌNH YÊU
LÀ KHÚC CA (LOVE IS A SONG), TÌNH YÊU LÀ TRÕ CHƠI (LOVE IS A GAME)…
Trong xã hội phong kiến ngày xưa, người phụ nữ vốn phải chịu nhiều những bất công bởi những định kiến ngặt nghèo của xã hội như tam tòng, tứ đức Họ không được quyền lựa chọn người yêu, đối tượng hôn nhân cho mình Chính vì vậy, khát vọng tình yêu, hôn nhân của người phụ nữ trong giai đoạn này là hoàn toàn chính đáng và đáng được trân trọng Bởi dù thế nào thì họ cũng chỉ là những người phụ nữ bình thường, họ muốn yêu và được yêu mong muốn tìm cho mình một người chồng tốt Ca dao đã cho chúng ta thấy được rất nhiều rào cản đã khiến cho tình yêu, hạnh phúc của người phụ
nữ xưa trở nên bất định, mong manh Hiểu như vậy, ta mới càng thêm trân trọng, đồng cảm với những lo lắng, khát vọng đầy chính đáng này
2.2 Các miền nguồn của ẩn dụ ý niệm về tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt 2.2.1 Các miền Nguồn chiếu xạ đến miền Đích
Tình yêu là một đề tài muôn thuở Có lẽ đối với người đã hoặc đang yêu, chỉ cần khi nhắc đến hai chữ “tình yêu” là chúng ta không khỏi bận lòng nghĩ đến mối tình nào
đó, người mà luôn ẩn sâu trong trái tim của mình Chắc hẳn chỉ có ai được yêu và đã từng trải qua tình yêu mới thấy hết được những cung bậc mà tình yêu đem lại: hồi hộp,
lo lắng, ghen tuông, hi vọng và nỗi khắc khoải nhớ nhung… tất cả đều đan xen, trộn lẫn khó phân tách Trong cuốn Kho tàng ca dao người Việt chúng tôi tìm hiểu ẩn dụ ý
niệm về tình yêu lứa đôi để thông qua đó thấy được các miền Nguồn hướng đến miền Đích tình yêu Để từ đó thấy được tất cả các cung bậc, cảm xúc, tình cảm của nhân dân
ta từ thời xưa đối với tình yêu
Khảo sát nguồn tư liệu, chúng tôi thấy có 16 kiểu ẩn dụ ý niệm về tình yêu Trong số các kiểu ẩn dụ này, ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
chiếm tỷ lệ cao nhất Ví dụ như: Ai về đường ấy mấy đò/ Mấy cầu mấy quán cho ta mượn tiền/ Ước gì quan đắp đường liền/ Kẻo ta đi lại tốn tiền đò ngang Trong tình
yêu, khi hai người không thể duy trì được mối quan hệ tình cảm nữa thì cũng giống như người lữ khách khi hành trình của họ bị rơi vào ngõ cụt Vì thế, hình ảnh con đường cùng cũng là một trong những ánh xạ tham chiếu từ miền nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH đến miền đích TÌNH YÊU và con đường gian nan cũng chính là một trong
Trang 34những nguyên nhân làm nên sự trắc trở trong tình yêu
TÌNH YÊU LÀ CĂN BỆNH là một ẩn dụ ý niệm chiếm vị trí cao thứ hai Tình
qua các biểu hiện tâm lí của con người như thao thức, dật dờ, ngẩn ngơ,…chúng ta sẽ thấy được những cung bậc tình yêu có sự thay đổi Ví như: “Sáng ngày than khóc luôn luôn/Láo lư mày mặt ra tuồng dại điên” Hành động than khóc, tâm trạng dại điên,
làm cho người đọc mang nhiều xúc cảm bởi họ có thể hiểu được một phần nào tâm trạng của người đang yêu Hay “Dầu lòng phân rẽ anh sẽ xuống thoàn/ Thương ai rớt lụy can tràng quặn đau” Khi tình yêu bị phân rẽ, các chàng trai, cô gái của chúng ta không chỉ đau đớn về mặt tinh thần mà nó còn mang lại căn bệnh cho thể xác “can
tràng quặn đau” Tình yêu hiện ra với lời hẹn thề chung thủy, sắt son: “Anh nguyền với
em có mặt nhật, mặt nguyệt/ Có đường thủy kiệt, có núi sơn lâm/ Dầu anh lỗi đạo tình thâm/ Hồn về chín suối, xác cầm dương gian”.
Với miền nguồn là SỰ GẦN GŨI, ca dao đã bộc lộ hết sức chân thực, đúng với
nghĩa: SỰ GẦN GŨI Bởi tình yêu không chỉ dừng lại ở cảm xúc mà nó còn đòi hỏi những hành động cụ thể, sự chân thành và cởi mở để “giữ lửa” qua năm tháng Anh bắt tay em cho thỏa tấm lòng/ Chừng nào nam đáo nữ phòng sẽ hay Tuy chỉ là cái nắm
tay nhưng nó đã thể hiện được gần gũi nhưng ý nhị trong tình yêu Hay táo bạo hơn đó
là sự gần gũi ở các bộ phận nhạy cảm trên cơ thể người con gái: “Vú em chum chúm chũm cau/ Cho anh ấp cái có đau anh đền”.
Ở miền nguồn là ĐỘNG VẬT, các thuộc tính được chiếu xạ đến miền đích tiêu
biểu là trạng thái say, rộn rã, nhân vật trữ tình thả mình trôi theo dòng cảm xúc miên
man, dường như trở thành một con người khác Tình yêu khiến cho con người trở nên
mê say, say vì cái nết say vì cái tình: “Say em như bướm say hoa/ Như ong say mật như ta say mình/ Mê say em vì nết vì tình/ Vì bấm vì nháy, vì mình mình ơi” Với miền
nguồn là ĐỘNG VẬT, các tác giả dân đã cho thấy được người phụ nữ trong tình yêu
vì hoàn cảnh mà phải chịu tiếng tăm: “Bây giờ sự đã nhạt nhùng/ Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua/ Cá lên mặt nước cá khô/ Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm
Với miền nguồn là CÂY CỎ, tình yêu cũng được thể hiện khá đầy đủ các cung bậc của mình thông qua các giai đoạn sinh trưởng, màu sắc, hương vị,… Ví dụ như:
“Biết đâu trong đục mà chờ/ Hoa thơm mất nhị nương nhờ vào đâu” hay “Bò vàng buộc đám cỏ xanh/ Chim khôn chết mệt về cành xoan đâu/ Nghĩ rằng hoa héo vì đâu?
Ai ngờ hoa héo vì sâu châm cành/ Anh về với vợ con anh/ Kẻo em mang tiếng dỗ dành quan họ đi” Đó có thể là một tình yêu không trọn vẹn với hoa rụng, tả tơi: “Bắc thang lên hái hoa vàng/ Hoa gạo rụng xuống hoa vàng tả tơi/ Tay cầm chén rượu tam cơi/ Tay gạt nước mắt, chàng ơi thiếp về”
Với miền Nguồn là RƯỢU, các tác giả dân gian cũng đã tạo nên những ẩn dụ ý niệm mang đặc trưng với sức cuốn hút riêng Trạng thái say nồng là một dạng đặc
trưng điển hình: Đang khi cuộc rượu say nồng/ Đàn kia đang gãy sao chùng mất dây?/
Trang 35Hết điệu thì em cho vay/ Can gì phải nghỉ nửa ngày, anh ơi!”
Miền nguồn SỢI TƠ cũng đã mang lại cho tình yêu nhiều hình ảnh đẹp: Tơ hồng,
tơ lòng Ví dụ: Bây giờ chia rẽ từ đây/ Ruột tằm chín khúc có hay chăng lòng?/ Ở đây bối rối tơ lòng/ Đường về Bùi Xá, trông chừng còn xa/ Quan họ nghỉ, chúng tôi trở ra về” Với miền nguồn này, tình yêu còn hiện ra với khuôn hình không lành lặn Vẻ đẹp
của tình yêu nay chỉ còn là dĩ vãng Xuất hiện trong ca dao, tình yêu khiến người đọc
không khỏi xót xa: “Duyên kia ai đợi mà chờ/ Tình kia ai tưởng mà tơ tưởng tình/ Sá chi một mảnh gương hình/ Để duyên chờ đợi cho mình say mê.” Ngoài ra, chúng ta lại thấy tình yêu lại giống như một TRÕ CHƠI ái tình: “Con tốt con sĩ/ Kéo ra hai hàng/ Pháo mã dàn ngang/ Cho xe lội nước/ Rước xe về thành/ Ai về quê cũ với anh thì về?”
Với con người, cảm xúc càng gò bó kìm nén thì lại càng bùng phát dữ dội Đó là một tình yêu nóng bỏng với sự lây lan cảm xúc mạnh xuất hiện trong hình hài LỬA:
“Đêm dài gà gáy canh ba/ Thấy người quân tử lòng đà vấn vương/ Lửa tình toan tưới nhành dương/ Thôi đừng đem sắc má hường trêu ngươi” Ngọn lửa cháy còn là thước
đo giúp con người nhận rõ bản chất, giá trị đích thực của tình yêu: “Có gió lung mới biết tùng bá cứng/ Có ngọn lửa lừng, mới rõ thức vàng cao”… Khi muốn bày tỏ nỗi
lòng hay nói đến tình yêu lỡ làng, các tác giả dân gian cũng dùng hình ảnh ngọn lửa lụi
tắt: tro tàn, tro lạnh… hay đang cháy, đốt,… để biểu đạt
Với miền nguồn là CHẤT LỎNG, ẩn dụ ý niệm về tình yêu mang đến cho người
đọc những cái nhìn mới mẻ Khi tình yêu đã lỡ làng: “Sóng dồn dập lưng chừng ngoài biển Bắc/ Hạt mưa tình rỉ rắc chốn hàng hiên/ Lỡ làng câu chuyện tình duyên/ Khuyên
ai chớ có ưu phiền tội thân” thì tâm trạng của họ lúc day dứt lúc sôi trào SỢI DÂY cũng là một miền Nguồn để thể hiện tình yêu trong ca dao: dây tình: “Ngắt bông sen, còn vương tơ óng/ Cắt dây tình nào có dao đâu!”
Tình yêu đôi lúc còn như một KHÚC CA tăng thêm sự ngọt ngào: “Con mắt em liếc cũng ngoan/ Cái chân em bước tựa đàn năm cung/ Đàn năm cung đàn say cung điệu/ Ta với mình dan díu từ đây.”
Với miền Nguồn là HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN thì tình yêu cũng biểu thị được
nhiều trạng thái vốn có của nó Hình ảnh sấm sét – những khó khăn, gian khó trong tình yêu: “Anh cùng em thề đã trước sau/Dầu cho điên đảo thế nào/ Búa rìu sấm sét, gươm đao chẳng rời.” Bên cạnh đó, tình yêu đẹp đẽ còn được cụ thể hóa qua miền nguồn DÒNG SÔNG: “Bến sông đầy thuyền nọ vội lui/ Em có chồng rồi còn tính chuyện biểu tôi làm gì?”
Miền Nguồn là VẬT TRAO ĐỔI, tình yêu trở nên tin tưởng hơn, bền chặt hơn:
“Anh mua cho em cái yếm hoa chanh/ Ra đường bạn hỏi, nói của anh cho nàng.” Với miền nguồn là MÓN ĂN thì tình yêu thể hiện qua vị giác cay, đắng, mặn, ngọt,…:
“Thương em quá đỗi nên say/Ăn chín lạng ớt ngọt ngay như đường
Như vậy, tình yêu lứa đôi trong ca dao được thể hiện rất phong phú và đa dạng Bởi chung một miền đích là TÌNH YÊU nhưng với trí tưởng tượng phong phú các tác
Trang 36giả dân gian tình yêu đã có nhiều cách thể hiện độc đáo qua nhiều miền Nguồn Chính cách tư duy, cách đón nhận tình yêu, sự tương tư hay sự dằn vặt đau khổ, thậm chí nguyện hy sinh, dâng hiến hết mình cho tình yêu đã tạo nên sự độc đáo, đặc sắc ấy Sự độc đáo ấy thể hiện qua lối tư duy về tình yêu, cách đón nhận tình yêu, sự tương tư trong tình yêu, sự dằn vặt đau khổ hay thậm chí còn là sự tình nguyện hy sinh, dâng hiến mình cho tình yêu Tình yêu có trăm vạn sắc thái, yêu, thương, thù, hận là những cung bậc cảm xúc khó tránh khỏi trong tình yêu Có yêu, có ghét là lẽ thường tình Ca dao đã thể hiện khá đầy đủ và rõ nét các cung bậc cảm xúc đó.
2.2.2 Các thuộc tính miền Nguồn chiếu xạ đến miền Đích
2.2.2.1 Miền Nguồn là CUỘC HÀNH TRÌNH
Miền Nguồn là CUỘC HÀNH TRÌNH có những yếu tố đặc trưng cụ thể như người di chuyển, đường di chuyển, phương tiện di chuyển, môi trường di chuyển,… được gán cho miền Đích là tình yêu là cái vốn dĩ hết sức trừu tượng Điều này được thể hiện bằng sơ đồ ánh xạ sau đây:
Bảng 2.2: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
Các thuộc tính tương liên
Với số lượng 2050/6893 biểu thức mang tính ẩn dụ, miền nguồn CUỘC HÀNH
TRÌNH chiếm vị trí cao nhất trong tổng số các ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong Kho tàng ca dao người Việt Ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH là một ý niệm
có nền tàng kinh nghiệm vững chắc Hành trình là con đường đi bao gồm điểm điểm bắt đầu, con đường đi qua và đích đến Lược đồ này được xuất phát từ trải nghiệm của bản thân Miền nguồn HÀNH TRÌNH có những thuộc tính như: du khách, phương tiện, chướng ngại vật,… Các thuộc tính ấy được tổng hợp qua bảng sau:
Miền nguồn:
CUỘC HÀNH
TRÌNH
Miền đích: TÌNH YÊU
Trang 37Bảng 2.3: Bảng thống kê tổng hợp các thuộc tính của ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
STT Trạng thái tương đồng giữa
miền Nguồn và miền Đích
Tần số xuất hiện
Số lần/2050 Tỷ lệ %
Bảng 2.4: Các thuộc tính được chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích trong ẩn dụ ý
niệm TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH