Untitled BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM Môn TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN Đề 01 Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “cái riêng và cái chung”, hãy vận dụng để nhận t.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM
Môn: TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN
-* -Đề 01:
Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù
“cái riêng và cái chung”, hãy vận dụng để nhận thức và giải
quyết một vấn đề của thực tiễn
Lớp niên chế: ………
Lớp tín chỉ: ……….
Nhóm: ……….
Hà Nội - 2023
Trang 2BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QỦA THAM GIA LÀM
BÀI TẬP NHÓM
Ngày: Địa điểm:
Nhóm: Lớp: Khóa: Khoa:
Tổng số sinh viên của nhóm:
+ Có mặt: + Vắng mặt: Nội dung: xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia làm bài tập nhóm Tên bài tập: Môn học: Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm số … Kết quả như sau: STT Mã SV Họ và tên Đánh giá của SV SV ký tên Đánh giá của GV A B C Điểm (số) Điểm (chữ) GV ký tên 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 - Kết quả điểm bài viết: Hà Nội, ngày tháng năm 2023 + Giáo viên chấm thứ nhất: TRƯỞNG NHÓM + Giáo viên chấm thứ hai:
- Kết quả điếm thuyết trình
- Giáo viên cho thuyết trình:
- Điểm kết luận cuối cùng:
- Giáo viên đánh giá cuối cùng:
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lê nin Nội dung
cơ bản của phép biện chứng duy vật là về hai nguyên lý có ý nghĩa khái quát nhất: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển Các mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy vật khái quát thành các phạm trù cơ bản như cái riêng và cái chung; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng; nguyên nhân và kết quả; khả năng và hiện thực; nội dung và hình thức1
Trong quá trình tư duy và nhận thức, khi cần nghiên cứu về một vấn đề nào
đó, con người đều bắt đầu nghiên cứu từ một vài sự vật hiện tượng đơn lẻ, chỉ ra các đặc điểm, đặc trưng, tính chất của các sự vật hiện tượng đơn lẻ, rồi so sánh
và tổng hợp lại các điểm giống và khác nhau của mỗi hiện tượng, sau đó rút ra được những điểm khái quát thể hiện đặc tính chung của các sự vật, hiện tượng đồng dạng, cũng như chỉ ra những điểm nổi bật riêng có ở một vài sự vật hiện tượng này mà không có ở các sự vật hiện tượng tương tự khác cùng loại Quá trình này chính là đang áp dụng phạm trù triết học “cái riêng và cái chung” trong việc hệ thống hóa và khái quát hóa các sự vật hiện tượng của tự nhiên, xã hội và
tư duy
Triết học (ở góc độ chung nhất) là một môn khoa học khá trừu tượng Bản thân khái niệm “triết học” cũng có nhiều cách hiểu khác nhau và cách tiếp cận khác nhau tùy từng trường phái và từng thời điểm lịch sử loài người Bằng việc nghiên cứu khái niệm và đặc điểm “triết học” theo từng trường phái riêng rẽ sau
đó tổng hợp lại những đặc trưng và tính chất xuất hiện chung, nhóm sẽ làm rõ được khái niệm và các đặc điểm của “triết học” theo nghĩa chung, đồng thời chỉ
ra được các nét đặc biệt riêng của từng trường phái trong quan niệm về “triết học” Quá trình này chính là việc áp dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “cái riêng và cái chung”
1 A.P.Séptulin, Bàn về mối liên hệ lẫn nhau của các phạm trù trong triết học mácxít, NXB Sự Thật 1999, trang 63.
Trang 4NỘI DUNG
1 Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “cái riêng và cái chung”
1.1 Định nghĩa và bản chất của phạm trù
1.1.1 Định nghĩa phạm trù
Trong quá trình giao tiếp và tương tác, con người thường phải sử dụng những
khái niệm nhất định để diễn giải suy nghĩ của mình và giúp người đối diện có
thể hiểu được ý nghĩ đó Những khái niệm nhất định này là hình thức của tư duy
phản ánh những mặt, những thuộc tính cơ bản của một lớp những sự vật hiện tượng nhất định của hiện thực khách quan; và tùy mức độ bao quát mà ta có các khái niệm rộng hay hẹp khác nhau Trong đó, khái niệm rộng nhất được gọi là
phạm trù Nói cách khác, phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh
những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung và cơ bản nhất của các
sự vật hiện tượng trong một lĩnh vực nhất định2
Mỗi bộ môn khoa học đều có hệ thống phạm trù riêng của mình phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến thuộc phạm
vi khoa học đó nghiên cứu (ví dụ, toán học có các phạm trù về “số”, “hình”,
“điểm”, “giới hạn”, “hàm số”…; kinh tế học có các phạm trù về “hàng hóa”,
“giá trị”, “lợi ích tối ưu”…; khoa học pháp lý có các phạm trù về “quan hệ xã hội”, “nhà nước”, “pháp luật”…) Tuy nhiên, các phạm trù trên chỉ phản ánh những mối liên hệ chung trên một lĩnh vực nhất định thuộc phạm vi nghiên cứu của một môn khoa học chuyên ngành nào đó; còn các phạm trù của phép biện chứng duy vật (như “vật chất”, “ý thức”, vận động”…) lại là những khái niệm chung nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất không phải chỉ của một lĩnh vực nhất định mà là của toàn bộ thế giới hiện thực (bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy)
1.1.2 Bản chất của phạm trù
Theo quan điểm của những nhà triết học thuộc phái duy thực, phạm trù là những thực thể ý niệm, tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người Còn những nhà triết học thuộc phái duy danh lại cho rằng ngược lại, phạm trù chỉ là những từ trống rỗng, do con người tưởng tượng ra, không biểu hiện một cái gì của hiện thực3
Khác với các quan niệm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, các phạm trù không có sẵn trong nhận thức của bản thân con người một cách bẩm sinh, tiên nghiệm, cũng không tồn tại sẵn ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người, mà được hình thành trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Mỗi phạm trù xuất hiện đều là kết quả của quá trình nhận thức trước đó, đồng thời lại là bậc thang cho quá trình nhận thức tiếp theo của con người để tiến gần đến nhận thức đầy đủ hơn bản chất của sự vật
Ngoài ra, chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng chỉ rõ, các phạm trù được hình thành bằng con đường khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những
2 GS TS Nguyễn Ngọc Long, Giáo trình Triết học Mác – Lênin, NXB Giáo Dục 2016, trang
95
3 V.I.Lênin: Toàn tập, NXB Tiến Bộ 1981, tập 29, trang 102.
Trang 5mối liên hệ vốn có bên trong của bản thân sự vật, vì vậy nội dung của nó mang tính khách quan, bị thế giới khách quan quy định, mặc dù hình thức thể hiện của
nó là chủ quan
Cuối cùng, các phạm trù là kết quả của quá trình nhận thức của con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Nhưng thế giới khách quan không chỉ tồn tại độc lập với ý thức của con người, mà còn luôn vận động, phát triển, chuyển hóa lẫn nhau Vì vậy, hệ thống phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là một hệ thống đóng kín, bất biến, mà nó thường xuyên được bổ sung bằng những phạm trù mới cùng với sự phát triển của thực tiễn và của nhận thức khoa học
1.2 Nội dung cặp phạm trù “cái riêng và cái chung”
Theo quan niệm của phép biện chứng duy vật, nhận thức bắt đầu từ sự phản ánh những sự vật, hiện tượng cụ thể của thế giới, nhưng trong quá trình so sánh
sự vật này với sự vật khác, phân biệt điểm giống và khác giữa hiện tượng này với hiện tượng khác, nhận thức đi đến sự phân biệt cái riêng, cái chung
Theo GS TS Phạm Văn Đức, cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng nhất định; cái chung là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những
thuộc tính lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng Ngoài ra, còn phải đề cập đến
một phạm trù liên quan khác, đó là cái đơn nhất – là phạm trù dùng để chỉ
những mặt, những đặc điểm có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại
ở các sự vật, hiện tượng khác4
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, không thể có cái chung nếu không có cái riêng và ngược lại Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan (vì nó là biểu hiện tính hiện thực tất yếu, độc lập với ý thức con người) và giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, cụ thể:
Đầu tiên, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu
hiện sự tồn tại của mình Không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài hay
biệt lập, tách rời cái riêng, nó phải tồn tại trong từng cái riêng cụ thể, xác định Cái chung là thuộc tính, nên phải gắn với đối tượng xác định
Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, tức không có
cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, tách rời cái chung, mà tất yếu nó phải tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Nói cách khác, cái riêng có thể tồn tại độc lập nhưng không hoàn toàn cô lập với các sự vật, hiện tượng xung quanh Bất cứ cái riêng nào cũng đều tham gia vào các mối liên hệ qua lại hết sức đa dạng với các sự vật hiện tượng khác Các mối liên hệ qua lại này cứ trải rộng dần, gặp gỡ rồi “giao thoa” với các mối liên hệ qua lại khác, từ đó tạo nên một mạng lưới các mối liên hệ mới, và trong số đó sẽ có những mối liên hệ dẫn đến một cái chung nào đó
Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái
bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng Điều này là dễ hiểu bởi cái riêng là tổng
hợp của cái chung và cái đơn nhất Cái riêng ngoài những đặc điểm riêng chỉ nó
có, còn có những đặc điểm chung ở nhiều cái riêng lẻ cùng loại, và trong quan
hệ với cái chung, tùy từng mối quan hệ mà thuộc tính riêng lẻ này hay thuộc tính
4 GS TS Phạm Văn Đức, Giáo trình Triết học Mác – Lênin, NXB Giáo Dục 2019, trang 85.
Trang 6riêng lẻ khác tham gia vào cái chung Do đó, cái riêng không gia nhập hết vào cái chung, cái riêng phong phú hơn cái chung Còn cái chung tuy chỉ là một bộ phận cấu thành cái riêng, nhưng là cái bản chất của cái riêng vì nó phản ảnh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ tất nhiên, ổn định ở trong nhiều cái riêng cùng loại, nó quy định sự tồn tại và phát triển của cái riêng, nên cái chung sâu sắc hơn cái riêng
Cuối cùng, cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong quá
trình vận động và phát triển của sự vật khi có điều kiện xác định nào đó xảy ra
Trong hiện thực, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc mà ban đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất, cái cá biệt Dần dần, cái mới trở nên hoàn thiện và tiến tới thay thế cái cũ, trở thành cái chung, cái phổ biến Ngược lại, cái
cũ lúc đầu là cái chung, cái phổ biến do không phù hợp với điều kiện mới nên dần mất đi và trở thành cái đơn nhất Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện của quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ; còn sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định5
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “cái riêng và cái chung”
Từ việc nghiên cứu, phân tích đặc điểm và mối quan hệ của cái chung, cái riêng, cái đơn nhất, ta có thể thấy:
Thứ nhất, nếu bất cứ cái chung nào cũng chỉ tồn tại trong cái riêng, như một thuộc tính chung của một số cái riêng, nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với cái đơn nhất và mối liên hệ đó đem lại cho cái chung một hình thức riêng biệt, thì các phương pháp thực tiễn dựa trên việc vận dụng một quy luật chung nào đó đều không thể như nhau đối với mọi sự vật, hiện tượng (cái riêng) có liên hệ với cái chung đó, vì bản thân cái chung trong mọi sự vật, hiện tượng không phải là một và không giống nhau hoàn toàn, mà chỉ là biểu hiện của cái chung đã được
cá biệt hóa, thì các phương pháp xuất phát từ cái chung đó, trong mỗi trường hợp cụ thể, cần phải thay đổi hình thức, phải cá biệt hóa cho phù hợp với đặc điểm của từng trường hợp
Thứ hai, nếu bất kỳ một phương pháp nào cũng bao hàm cả cái chung lẫn cái đơn nhất, thì khi sử dụng một kinh nghiệm nào đó trong điều kiện khác, không nên sử dụng hình thức hiện có của nó, mà chỉ nên rút ra những mặt chung đối với trường hợp đó, chỉ rút ra những cái thích hợp với điều kiện nhất định đó Thứ ba, trong quá trình phát triển của sự vật, tại những điều kiện nhất định
“cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại “cái chung” có thể biến thành “cái đơn nhất”, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất” có lợi cho con người trở thành “cái chung”
và “cái chung” bất lợi trở thành “cái đơn nhất”
Kết luận lại, cần phải nhận thức cái chung để vận dụng vào cái riêng cụ thể, không nhận thức cái chung thì trong thực tiễn giải quyết mỗi cái riêng sẽ vấp phải những sai lầm, mất phương hướng Muốn nắm được cái chung thì cần xuất phát từ những cái riêng bởi cái chung không tồn tại trừu tượng ngoài những cái
5 Nguyễn Thị Hồng Vân, Tập bài giảng Triết học Mác – Lênin, NXB Giáo Dục 2012, trang 79.
Trang 7riêng Mặt khác, cần phải cá biệt hóa cái chung, khắc phục bệnh giáo điều, siêu hình, máy móc trong vận dụng cái chung để giải quyết trường hợp cụ thể (cái riêng) Cuối cùng, cũng cần phải biết tận dụng các điều kiện cho sự chuyển hóa giữa cái đơn nhất và cái chung theo mục tiêu và mong muốn của mình, bởi giữa cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện nhất định6
2 Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “cái riêng và cái chung” trong làm rõ khái niệm và đặc điểm của “triết học”
Để làm rõ khái niệm và đặc điểm của “triết học” nói chung, ta cần tiếp cận khái niệm “triết học” theo từng quan điểm, từng trường phái nói riêng Sau đó tổng hợp lại những nét chung nhất của từng trường phái riêng rẽ, rút ra cách hiểu chung cho khái niệm “triết học” Các quan điểm về “triết học” sẽ được nghiên cứu sau đây được trải dài theo không gian (từ phương Đông sang phương Tây)
và thời gian (từ cổ đại, trung đại đến hiện đại)
2.1 Triết học phương Đông
Phương Đông cổ đại là một vùng đất rộng lớn từ Ai Cập, Babilon tới Ấn Độ, Trung Quốc…; là nơi sớm xuất hiện nhiều trung tâm triết học của thế giới, mà nổi lên và phải kể đến đó là Ấn Độ và Trung Quốc cổ, trung đại
2.1.1 Triết học Ấn Độ cổ, trung đại
Nét đặc thù của nền triết học Ấn Độ là chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tôn giáo có tính chất “hướng nội” Việc lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự “giải thoát” là xu hướng trội của nhiều học thuyết triết học – tôn giáo Ấn Độ cổ đại Tư tưởng triết học
Ấn Độ cổ, trung đại đã đặt ra và giải quyết nhiều vấn đề triết học như bản thể luận, nhận thức luận Do chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo, nên nội dung tư tưởng triết học Ấn Độ cổ, trung đại thể hiện nét đặc thù khi trình bày các nội dung triết học chung Triết học Ấn Độ cổ, trung đại có nhiều trường phái song điểm chung là đều tập trung vào vấn đề bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ của con người và con đường, cách thức giải thoát cho con người khỏi bể khổ của cuộc đời
Mục đích, nhiệm vụ của các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại là giải thoát
Phương tiện, con đường, cách thức của mỗi trường phái có thể khác nhau nhưng mục đích là một Giải thoát là phạm trù triết học tôn giáo Ấn Độ dùng để chỉ trạng thái tinh thần, tâm lý, đạo đức của con người thoát khỏi sự ràng buộc của thế giới trần tục và nỗi khổ của cuộc đời Đạt tới sự giải thoát, con người sẽ đạt tới sự giác ngộ, nhận ra chân bản của mình, thực tướng của vạn vật, xóa bỏ vô minh, diệt mọi dục vọng, vượt ra khỏi nghiệp báo, luân hồi, hòa nhập vào bản
thể tuyệt đối Brahman hay Niết bàn (niết bàn không phải là một nơi, một địa
điểm, đó là thuật ngữ ám chỉ một trạng thái) Để đạt tới giải thoát con người phải dày công tu luyện hành động đạo đức theo giới luật, tu luyện trí tuệ, trực giác thực nghiệm tâm linh, chiêm nghiệm nội tâm lâu dài Đạt tới sự giải thoát cũng chính là lúc con người đạt tới sự siêu thoát, vượt ra khỏi sự ràng buộc của thế tục, hoàn toàn tự do, tự tại Tư tưởng giải thoát trong triết học tôn giáo Ấn Độ
6 Bộ GD&ĐT, Giáo trình triết học, NXB Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2014, trang 98.
Trang 8cổ, trung đại thể hiện tính chất nhân bản, nhân văn sâu sắc Đó là kết quả phản ánh những đặc điểm yêu cầu của đời sống xã hội Ấn Độ đương thời, dù vậy, do giải thích chưa đúng nguồn gốc của nỗi khổ cho nên tư tưởng giải thoát này mới dừng lại ở sự giải phóng con người về mặt tinh thần, tâm lý, đạo đức chứ không phải là biến đổi cách mạng hiện thực7
2.1.2 Triết học Trung Quốc cổ, trung đại
Nét đặc thù của triết học Trung Quốc cổ, trung đại là hầu hết các học thuyết
có xu hướng đi sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị – đạo đức của xã hội với nội dung bao trùm là vấn đề con người, xây dựng con người, xã hội lý tưởng và con đường trị nước
Tư tưởng bản thể luận của triết học Trung Quốc cổ, trung đại không rõ ràng như các trung tâm triết học khác Dù vậy các hệ thống triết học cũng có những
quan điểm riêng của mình Trong học thuyết Nho gia, Khổng Tử thường nói đến
trời, đạo trời và mệnh trời Tư tưởng của ông về các lĩnh vực này không rõ ràng
là duy vật hay duy tâm Mục đích của Khổng Tử khi bàn đến các vấn đề trên là làm chỗ dựa để ông đi sâu các vấn đề chính trị – đạo đức xã hội Học thuyết
Đạo gia coi bản nguyên của vũ trụ là “Đạo” Đạo sáng tạo ra vạn vật, vạn vật
nhờ đó mà sinh ra, sự sinh ra vạn vật theo trình tự đạo sinh một, mộ sinh hai, hai
sinh ba, ba sinh ra vạn vật (Đạo Đức kinh chương 21, 34, 42) Học thuyết Âm
Dương gia coi âm dương là hai khí, hai nguyên lý tác động qua lại lẫn nhau sản
sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong trời đất… Mặt tích cực của triết học duy vật
là đã làm lu mờ vai trò của thần thành, của lực lượng siêu nhiên, những lực lượng không có trong hiện thực khách quan, do chủ nghĩa duy tâm tôn giáo tạo
ra Nhưng, do còn mang tính trực quan, ước đoán, chưa có chứng minh nên các luận điểm trên chưa khuất phục được tư tưởng duy tâm, chưa trở thành công cụ, giải phóng con người khỏi quan điểm duy tâm thần bí
Khi bàn tới bản tính thế giới, triết học Trung Quốc có quan điểm độc đáo về
vấn đề này thể hiện ở phạm trù biến dịch Biến dịch theo quan niệm chung của
triết học Trung Hoa cổ là trời đất, vạn vật luôn vận động, biến đổi Nguyên nhân của sự vận động, biến đổi này là do trời đất, vạn vật vừa đồng nhất, vừa mâu thuẫn với nhau: trời và đất, lừa và nước, âm và dương, trời và người, đạo và lý, thể chất và tinh thần, chân lý và sai lầm… Quan điểm về biến dịch của vũ trụ là sản phẩm của phương pháp quan sát tự nhiên – một phương pháp chung của nhận thức ở trình độ thu nhận tri thức kinh nghiệm Nhờ phương pháp quan sát
tự nhiên ấy mà lý luận về biến dịch của vũ trụ không phải sự bịa đặt chủ quan,
mà là phép biện chứng tự phát về thế giới khách quan So với biện chứng khách quan, phép biện chứng này còn nhiều hạn chế như đơn giản hóa sự phát triển, có biến hóa nhưng không có phát triển, không xuất hiện cái mới, biến hóa của vũ trụ có giới hạn, bị đóng khung trong hai cực
Khi đặt vấn đề nguồn gốc của con người, Khổng Tử và Mặc Tử đều cho rằng trời sinh ra con người và muôn vật Còn Lão Tử cho rằng trước khi có trời đã có Đạo Trời, đất, người, vạn vật đều do Đạo sinh ra Khi xác định vị trí và vai trò của con người trong mối quan hệ với trời, đất, con người và vạn vật trong vũ trụ,
7 GS Bùi Thanh Quất, Lịch sử triết học, NXB Giáo Dục Hà Nội 1999, trang 108.
Trang 9Lão Tử cho rằng trong vũ trụ có bốn cái lớn: Đạo lớn, Trời lớn, Đất lớn, Người cũng lớn Đối với Nho giáo, con người được đặt lên vị trí rất cao Con người do trời sinh ra nhưng sau đó con người cùng với trời, đất là ba ngôi tiêu biểu cho tất
cả mọi vật trong thế giới vật chất và tinh thần Khi bàn tới quan hệ giữa trời với người, các nhà duy tâm đi sâu phát triển tư tưởng thiên mệnh của Khổng Tử, cho rằng có mệnh trời và mệnh trời chi phối cuộc sống xã hội của con người, cuộc đời của mỗi con người
Khi bàn tới bản tính con người, Khổng Tử cho ràng “tính mỗi con người đều gần nhau, do tập tành và thói quen mới hóa ra xa nhau” Từ quan điểm này, người ta suy luận tranh cãi đưa ra nhiều thuyết khác nhau: Mạnh Tử cho rằng bản tính con người là thiện; Tuân Tử cho rằng bản tính con người là ác; Cáo Tử cho rằng bản tính con người không tiện không ác; Vương Sung quan niệm bản tính con người có thiện, có ác…
Vấn đề xây dựng con người của các học phái triết học Trung Quốc cổ, trung
đại là coi trọng sự nỗ lực của cá nhân, sự quan tâm của gia đình và xã hội Đạo
gia cho rằng bản tính của nhân loại có khuynh hướng trở về cuộc sống với tự
nhiên, hướng con người vào cuộc sống thanh cao trong sạch, gần gũi với thiên
nhiên, tránh cuộc sống chạy theo nhu cầu vật chất Phật giáo khuyên con người
ăn hiển ở lành, không sát sinh, không làm hại người khác Nho gia hướng con
người vào tu thân và thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bản nhất, luôn được đặt vào vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội Quan điểm về vũ trụ, nhân sinh, nhận thức luôn thấm đượm ý thức đạo đức, tất cả mọi vấn đề đều lấy đạo đức làm chuẩn, do đó vấn đề thiện và ác của con người thành tiêu điểm tranh luận quan trọng nhất của lịch sử triết học Trung Quốc
Trong tư tưởng về xã hội lý tưởng và con đường trị quốc, theo Khổng Tử, xã
hội lý tưởng là một xã hội đại đồng Đặc trưng cơ bản của xã hội này là thái
bình ổn định, có trật tự kỷ cương, mọi người được chăm sóc bình đẳng và mọi cái đều là của chung; đó là xã hội có đời sống vật chất đầy đủ, có quan hệ người với người tốt đẹp; đó là xã hội có giáo dục, mọi người trong xã hội được giáo hóa8
Như vậy, có thể thấy, sự ra đời và phát triển của các học phái tư tưởng triết học Trung Hoa thường xuyên chịu sự chi phối trực tiếp của những vấn đề chính trị Những kiến giải về vũ trụ quan của triết học Trung Hoa mang tính biện chứng sâu sắc, nhưng vẫn có sự đan xen giữa các quan điểm duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình
2.2 Triết học phương Tây
Theo nghĩa rộng, triết học phương Tây là hệ thống quan điểm, quan niệm của người phương Tây thể hiện qua các trào lưu, tư tưởng triết học kể từ khi xuất hiện triết học Hy Lạp cổ đại cho đến các trào lưu, tư tưởng triết học phương Tây ngày nay Theo nghĩa hẹp, triết học phương Tây được xem như các trào lưu, quan điểm triết học đương đại và thường được hiểu là triết học ngoài mácxít9
8 GS Bùi Thanh Quất, Lịch sử triết học, NXB Giáo Dục Hà Nội 1999, trang 110.
9 Bùi Đăng Duy, Triết học phương Tây hiện đại, NXB Khoa Học Xã Hội 1996, trang 13.
Trang 10Lịch sử triết học phương Tây cổ, trung, cận, hiện đại là lịch sử trên hai ngàn năm phát triển của các hệ thống triết học từ Hy Lạp cổ đại đến một số trào lưu triết học hiện đại xuất hiện trong thế kỷ XX
2.2.1 Triết học Hy Lạp cổ đại
Ra đời và tồn tại gần một thiên niên kỷ, triết học Hy Lạp cổ đại là toàn bộ những học thuyết đã phát triển trong xã hội chiếm hữu nô lệ cổ Hy Lạp từ thế kỷ
VI trước công nguyên (tr.CN) và thời kỳ Hy Lạp hóa từ thế kỷ II tr.CN đến thế
kỷ V sau công nguyên Do sự khác biệt về phạm vi vùng văn hoá, khuynh hướng triết học Hy Lạp cổ đại nghiêng về thảo luận khách thể, thể hiện chủ nghĩa lý tính, hướng về khoa học, khách quan Triết học Hy Lạp ra đời có mối quan hệ chặt chẽ với thần thoại và các hình thức sinh hoạt tôn giáo nguyên thủy Ở
những bước đi ban đầu triết học Hy Lạp một mặt muốn dùng lý trí của con người để giải thích các vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người, mặt khác muốn làm rõ các vấn đề của thần thoại bằng lý trí Hầu hết các hệ thống triết học đều chứa đựng những yếu tố thần thoại Ra đời trong điều kiện trình độ nhận thức của loài người chưa phát triển, tri thức mọi mặt chưa cao, triết học đóng vai trò là dạng nhận thức phổ quát, bao trùm về mặt lý luận của triết học lên tất cả các lĩnh vực của nhận thức, hy vọng lý giải những vấn đề lý luận của khoa học
cụ thể còn ở tình trạng tản mạn, sơ khai, trực quan Triết học được xem như
“khoa học của các khoa học”, còn các triết gia là những nhà khoa học thực sự,
có hiểu biết sâu các lĩnh vực được gọi là “những nhà thông thái” Vì vậy, đặc trưng rõ nét của triết học Hy Lạp cổ đại là mang tính chất tổng hợp, nhằm đưa ra một bức tranh tổng quát về thế giới Trong quá trình vận động và phát triển của nền triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại, xu hướng chung của các trường phái triết học là đi sâu giải quyết vấn đề bản nguyên và phép biện chứng – là những vấn
đề rất cơ bản của triết học10
Lịch sử triết học cổ đại Hy Lạp là lịch sử hình thành và phát triển thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm Nét nổi bật của chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại là tính chất mộc mạc, thô sơ, nhưng chính quan niệm duy vật thô sơ này đã có tác dụng rất lớn trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, chống tôn giáo, chống thần học cổ đại
2.2.2 Triết học Tây Âu thời trung cổ
Xã hội Tây Âu thời trung cổ là thời kỳ lịch sử ngàn năm (tính từ thế kỷ V đến
XV sau công nguyên), đây là thời kỳ hình thành và phát triển của phương thức sản xuất phong kiến, là giai đoạn thực hiện bước chuyển từ chế độ chiếm hữu nô
lệ sang xã hội phong kiến
Xét về triết học và khoa học thời kỳ này là một bước lùi so với thời Cổ đại Triết học Tây Âu trung cổ bị chi phối mạnh bởi tư tưởng thần học và tôn giáo của thiên chúa giáo Triết học thời kỳ này mang đậm tính tôn giáo, hầu hết các nhà triết học là thần học, và một trong những đặc điểm nổi bật là chứng minh sự tồn tại của thượng đế, và chứng minh cho những tín điều tôn giáo của nhà thờ Triết học thời kỳ này với đặc trưng bao trùm là triết học kinh viện, được nghiên cứu sáng tạo chủ yếu bởi các nhà triết học thần học trong các cơ sở giáo dục của
10 GS Bùi Thanh Quất, Lịch sử triết học, NXB Giáo Dục Hà Nội 1999, trang 113.