1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan hệ pháp luật, thực hiện pháp luật, truy cứu trách nhiệm pháp lý và giáo dục pháp luật

12 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan hệ pháp luật, thực hiện pháp luật, truy cứu trách nhiệm pháp lý và giáo dục pháp luật
Tác giả Nguyễn Phương Thảo
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Bài thi kết thúc học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 322,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Đề bài Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan hệ.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ

PHÁP LUẬT

Đề bài: Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan hệ pháp luật, thực hiện

pháp luật, truy cứu trách nhiệm pháp lý và giáo dục

pháp luật.

Họ và tên: Nguyễn Phương Thảo

MSSV: 461042

Hà Nội, 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

ĐẶT VẤN ĐỀ: 3

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: 3

Chương I: Một số vấn đề lý luận về văn bản quy phạm pháp luật 3

1.1.Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 3

1.2.Những đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của văn bản quy phạm pháp luật 4

1.3.Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 5

Chương II: Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật 6

2.1.Xác lập quan hệ pháp luật 6

2.2.Thực hiện pháp luật 7

2.3.Truy cứu trách nhiệm pháp lý 8

2.4.Giáo dục pháp luật 8

Chương III: Giải pháp hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật 9

KẾT LUẬN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ:

Trong đời sống xã hội hiện nay, văn bản quy phạm pháp luật ngày càng đóng vai trò quan trọng không thể tách rời trong hoạt động xã hội của con người Mọi giao dịch, mọi hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, từ các lĩnh vực chính trị, quân sự đến lĩnh vực khác như kinh tế, xã hội, văn hóa trong phạm vi quốc tế, đều cần đến văn bản quy phạm pháp luật làm phương tiện thông tin Đặc biệt, văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc xác lập quan hệ pháp luật; thực hiện pháp luật; truy cứu trách nhiệm pháp lý và giáo dục pháp luật Chính vì thế, Nhà nước cần đưa ra một số chính sách, giải pháp đối với hệ thống pháp luật nói chung, cũng như văn bản quy phạm pháp luật nói riêng nhằm hoàn thiện khung pháp lý, bảo đảm các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

Chương I: Một số vấn đề lý luận về văn bản quy phạm pháp luật

1.1.Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức thể hiện các quyết định pháp luật

do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự và hình thức nhất định, có chứa đựng các quy phạm pháp luật (quy tắc xử sự chung) nhằm điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn đời sống và việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật không

Theo quy định Luật Ban hành quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này,

1 Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB ĐHQGHN, Năm 2015, Tr 454.

Trang 4

quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực

1.2.Những đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của văn bản quy phạm pháp luật

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi các cơ quan Nhà

nước có thẩm quyền theo luật định Cụ thể, tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 đã đưa ra quy định hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành bao gồm: Quốc Hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tổng Kiểm toán Nhà nước

Thứ hai, các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo đúng thẩm

quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự từ khâu lập chương trình, soạn thảo, thẩm tra, thẩm định, lấy ý kiến đóng góp cho

dự thảo, cho đến thông quan, ký, công bố văn bản quy phạm pháp luật Tất cả đều phải tuân thủ đúng quy định luật định Vì thế, mặc dù văn bản được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền, nội dung hợp pháp nhưng trong quá trình xây dựng và ban hành không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về thủ tục thì cũng không thể là văn bản quy phạm pháp luật

Thứ ba, trong nội dung văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng các quy

tắc xử sự chung có tính bắt buộc chung (quy phạm pháp luật) đối với các các nhân, tổ chức thuộc phạm vi điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật Những quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung được ban hành không phải cho một trường hợp cụ thể mà là cho tất cả các trường hợp thuộc phạm vi dự

2 Tại Điều 2 & Điều 3 Luật Ban hành quy phạm pháp luật năm 2015

Trang 5

liệu của văn bản quy phạm pháp luật Tính bắt buộc chung của các quy phạm pháp luật được hiểu là bắt buộc đối với mọi chủ thể nằm trong điều kiện, hoàn cảnh mà quy phạm pháp luật được đặt ra không phải cho những chủ thể cụ thể

mà cho các chủ thể không xác định Đây là điểm khác biệt với văn bản áp dụng pháp luật, bởi vì nội dung văn bản áp dụng pháp luật bao giờ cũng chứa đựng

bản Quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trên thực tế còn văn bản áp dụng pháp luật chỉ có hiệu lực duy nhất một lần

1.3.Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định

về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Ngoài ra, căn cứ vào tính chất và hiệu lực pháp lý, các văn bản quy phạm được phân thành văn bản luật và văn bản dưới luật

Thứ nhất, đối với văn bản luật là những văn bản quy phạm pháp luật do

Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, có hiệu lực pháp luật cao hơn và các văn bản dưới luật, các văn bản dưới luật không được trái với văn bản luật Văn bản luật bao gồm Hiến pháp, Luật (Bộ luật, luật)

Thứ hai, đối với văn bản dưới luật có hiệu lực pháp lý thấp hơn các văn bản

luật, do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục nhất định Các văn bản dưới luật không được trái với các văn bản luật Tôn trọng và tuân thủ, đảm bảo tính tối cao của luật là một trong những nguyên tắc cốt lõi của nhà nước pháp quyền Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành không được trái với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước cấp trên

3 Trần Mạnh Tuệ, Văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động ban hành văn bản quy phạm

pháp luật của các cấp chính quyền tại Thành phố Hải Phòng, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Hà

Nội, Năm 2011, Tr 13.

Trang 6

Chương II: Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật

2.1.Xác lập quan hệ pháp luật

Có thể khẳng định rằng, quan hệ pháp luật giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống pháp luật quốc gia và là hình thức đặc thù của sự tác động pháp luật Quan

hệ pháp luật cũng là một trong những hiện tượng pháp lý phức tạp nhất, có ý nghĩa to lớn về phương diện lý luận và điều quan trọng hơn là về phương diện thực tiễn Về cơ bản, quan hệ pháp luật “là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh trong đó các bên tham gia quan hệ pháp luật có các quyền và nghĩa vụ

hệ xã hội đặc biệt trong hệ thống các quan hệ xã hội Quy phạm pháp luật nói chung, cụ thể là Văn bản Quy phạm pháp luật chính là cơ sở của quan hệ pháp luật

Sự xuất hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dựa trên cơ sở quy phạm pháp luật Quy phạm pháp luật được thực hiện thông qua các quan hệ pháp luật, quan hệ pháp luật là phương tiện thực hiện các quy phạm pháp luật trong đa phần các trường hợp Giữa quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật luôn có sự tồn tại, mối quan hệ mật thiết lẫn nhau Không có quy phạm pháp luật thì không

có quan hệ pháp luật Quy phạm pháp luật xác định những hoàn cảnh, tình huống thực tế xảy ra sẽ làm phát sinh hoặc thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật Quan hệ giữa quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật có thể xem là mối

Ngoài ra, quan hệ pháp luật được Nhà nước bảo đảm và bảo vệ dựa trên cơ

sở tác động của các quy phạm pháp luật Các hình thức, biện pháp bảo đảm thực hiện, bảo vệ của Nhà nước cũng có sự khác nhau tùy thuộc vào tính chất của các loại quan hệ pháp luật và những điều kiện khách quan khác Chính quy phạm pháp luật sẽ là công cụ, phương tiện giúp Nhà nước bảo đảm và bảo vệ tốt nhất các quan hệ pháp luật

4 Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội,NXB Tư

pháp, Năm 2016, Tr 385.

5 Đào Trí Úc, Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,

1993, Tr.90.

Trang 7

2.2.Thực hiện pháp luật

Bản chất của việc thực hiện pháp luật là sự chuyển hóa các yêu cầu của pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật và các nguyên tắc pháp luật vào trong

phù hợp với những quy định của pháp luật, được tiến hành bởi những chủ thể có

đủ khả năng nhận thức được yêu cầu của pháp luật, có khả năng tự mình xác lập, thực hiện hành vi do pháp luật quy định thì mới được coi là biểu hiện thực

tế của việc thực hiện pháp luật Có thể hiểu, thực hiện pháp luật “là hoạt động

có mục đích làm cho quy định của pháp luật trở thành những hành vi thực tế,

Thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Vì thế, việc quy định văn bản quy phạm pháp luật sẽ hỗ trợ Nhà nước trong việc thể chế hóa các chính sách, đường lối, định hướng mà bộ máy cầm quyền muốn xây dựng và hướng tới trong thực tiễn Cụ

thể trong bốn hình thức thực hiện pháp luật Thứ nhất, đối với tuân thủ pháp

luật, các văn bản quy phạm pháp luật quy định sẽ hạn chế được tỷ lệ hành vi vi phạm pháp luật Các chủ thể pháp luật kiềm chế không thực hiện những hành vi

mà pháp luật ngăn cấm Ví dụ như, không thực hiện những hành vi tội phạm

được quy định trong Bộ luật Hình sự Thứ hai, đối với chấp hành pháp luật,

văn bản quy phạm pháp luật sẽ giúp các chủ thể có cách nhìn nhận đúng hơn về pháp luật, giúp các chủ thể hiểu và thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Việc chấp hành pháp luật cũng chính là nghĩa vụ đối với mọi cá nhân, tổ chức Đối với các cán bộ nhà nước có thẩm quyền, việc thực hiện thẩm quyền của họ không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ pháp lý

Thứ ba, đối với sử dụng pháp luật, quy định văn bản quy phạm pháp luật

thể hiện quyền và tự do dân chủ của công dân khi các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình khi được thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép

6 Đào Trí Úc, “Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà

nước và pháp luật, Số 3/2012, Tr.5.

7 Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội,NXB Tư

pháp, Năm 2016, Tr.403.

Trang 8

Thứ tư, đối với áp dụng pháp luật, việc quy định văn bản pháp luật là

hình thức mà trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật ban hành các quyết định của pháp luật ban hành các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể

2.3.Truy cứu trách nhiệm pháp lý

Truy cứu trách nhiệm pháp lý là những hậu quả pháp lý bất lợi về vật chất hoặc tinh thần được áp dụng bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với các chủ thể vi phạm pháp luật, Những hậu quả pháp lý bất lợi này là những hình thức cưỡng chế pháp lý được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật tương ứng Trên cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật Một cá nhân, tổ chức chỉ bị truy cứu trách nhiệm pháp lý về hành vi

vi phạm pháp luật đã xảy ra Việc quy định văn bản quy phạm pháp luật sẽ hỗ trợ Nhà nước trong việc duy trì và ổn định trật tự, an ninh của xã hội Khi có hành vi vi phạm pháp luật, các biện pháp trách nhiệm pháp lý sẽ được áp dụng đúng theo các thủ tục, trình tự do pháp luật quy định Ngoài ra, các biện pháp cưỡng chế của nhà nước có nhiều loại và được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật, như chế tài hình sự, chế tài kỷ luật, chế tài hành chính, chế tài dân sự Việc đưa ra các biện pháp cưỡng chế được xây dựng trên

cơ sở của quy phạm pháp luật, cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật mà Nhà nước đã quy định và đảm bảo, bảo vệ các quan hệ pháp luật

2.4.Giáo dục pháp luật

Giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững Giáo dục pháp luật nhằm mục đích cung cấp kiến thức pháp luật cần thiết cho các cá nhân, hình thành ở họ thái độ, tình cảm tôn trọng pháp luật, ý thức thượng tôn Hiến pháp

và pháp luật, tích cực pháp luật trong cuộc sống Theo Từ điển Tiếng Việt:

Downloaded by Quang Quang (khoa31141020806@gmail.com)

Trang 9

“Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có

Trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, Nhà làm luật cũng đưa ra các kế hoạch, dự thảo xem xét đến tính hiệu quả của văn bản khi áp dụng trong thực tiễn Chính vì thế, văn bản quy phạm pháp luật sẽ hỗ trợ giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động có tổ chức, có định hướng, có hệ thống,

kế hoạch do các cơ quan, tổ chức, cộng đồng và cá nhân (chủ thể giáo dục) thực hiện nhằm mục đích xây dựng ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật ở các cá nhân với nội dung trang bị kiến thức pháp luật cần thiết, xây dựng thái độ, tình cảm tôn trọng, hiểu biết giá trị, ý nghĩa của pháp luật, các quyền, nghĩa vụ pháp luật, thói quen tuân thủ và sử dụng pháp luật

Chương III: Giải pháp hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật

Để ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật, Việt Nam cần đưa ra những giải pháp kịp thời, đảm bảo chất lượng để khắc phục những nhược điểm, hạn chế trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hiện nay Người viết đưa ra một số đề xuất như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách đồng bộ và thống nhất.

Pháp luật cần xây dựng một quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, gọn nhẹ, áp dụng chung cho tất cả các loại văn bản quy phạm pháp luật theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập vào các điều ước quốc tế mà vẫn bảo đảm được các yêu cầu về chất lượng do Quốc Hội, Chính phủ đặt ra Đặc biệt, để có một văn bản quy phạm pháp luật khả thi, phải đề cao năng lực và tính chịu trách nhiệm của chủ thể soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật Bởi vì, bất cứ một việc làm thiếu trách nhiệm của chủ thể soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đều có thể dẫn đến hậu quả những văn bản quy phạm khi ban hành ra có chất lượng thấp, thiếu tính khả thi Vì thế, cần

8 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2006

Downloaded by Quang Quang (khoa31141020806@gmail.com)

Trang 10

hoàn thiện chế độ trách nhiệm của chủ thể có thẩm quyền trong quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Thứ hai, đổi mới quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật Để quy

trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng văn bản, thì một việc làm rất cần thiết là trong quá trình soạn thảo phải có sự tham gia của các cán bộ làm công tác tư pháp Các cán bộ tư pháp tham gia vào quá trình soạn thảo phải

là những người có chuyên môn về soạn thảo, kiểm tra và thẩm định văn bản quy phạm pháp luật Với sự tham gia của các cán bộ tư pháp có chuyên môn sẽ tránh được các lỗi trong quá trình soạn thảo như lỗi về căn cứ pháp lý và các lỗi về nội dung Việc tham gia của các cán bộ tư pháp sẽ kết hợp được việc soạn thảo với việc thẩm định văn bản quy phạm pháp luật

Thứ ba, đổi mới quy trình lấy ý kiến, thông qua và công bố văn bản quy

phạm pháp luật Việc lấy ý kiến của nhân dân vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là một trong những việc rất cần thiết, bảo đảm tính khả thi của văn bản Cần phải có quy định về trách nhiệm các chủ thể liên quan đối với việc văn bản quy phạm pháp luật được thông qua bằng hình thức do Lãnh đạo ký ban hành trực tiếp mà không có ý kiến của các thành viên khác

Thứ tư, tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Thường

xuyên đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là kiến thức về pháp luật quản lý Nhà nước, các kiến thức về văn bản cho cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ làm công tác văn bản nói riêng Tổ chức những hội thảo khoa học để cán bộ làm công tác văn bản có thể trình bày những quan điểm, những khó khăn, vướng mắc trong công tác văn bản, từ đó tìm ra những hướng xử lý tốt nhất, phù hợp nhất và có những kiến nghị, đề xuất đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp

Downloaded by Quang Quang (khoa31141020806@gmail.com)

Ngày đăng: 27/01/2023, 09:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) Đào Trí Úc, Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, Tr.90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: NXB. Khoa học Xã hội
Năm: 1993
(2) Đào Trí Úc, “Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 3/2012, Tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở Việt Nam
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Năm: 2012
(3) Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB. ĐHQGHN, Năm 2015, Tr. 454 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật
Nhà XB: NXB. ĐHQGHN
Năm: 2015
(4) Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội,NXB. Tư pháp, Năm 2016, Tr.385, 403 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: NXB. Tư pháp
Năm: 2016
(5) Tại Điều 2 & Điều 3 Luật Ban hành quy phạm pháp luật năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ban hành quy phạm pháp luật năm 2015
Năm: 2015
(6) Trần Mạnh Tuệ, Văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền tại Thành phố Hải Phòng, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Hà Nội, Năm 2011, Tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền tại Thành phố Hải Phòng
Tác giả: Trần Mạnh Tuệ
Năm: 2011
(7) Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w