Untitled MỤC LỤC Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý 1 1 1 Định nghĩa hợp đồng dịch vụ pháp lý 2 1 2 Đặc điểm hợp đồng dịch vụ pháp lý 3 Mục tiêu khi đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng pháp lý 5 Nhữn.
Trang 1MỤC LỤC
Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý 1
1.1 Định nghĩa hợp đồng dịch vụ pháp lý 2
1.2 Đặc điểm hợp đồng dịch vụ pháp lý 3
Mục tiêu khi đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng pháp lý 5
Những điểm cần lưu ý trong đàm phán hợp đồng dịch vụ pháp lý 5
3.1 Những lưu ý chung 5
3.2 Đàm phán thù lao tư vấn 6
3.3 Đàm phán thời gian thực hiện hợp đồng 10
Kỹ năng và các lưu ý trong soạn thảo hợp đồng địch vụ pháp lý 12
4.1 Các loại hợp đồng dịch vụ pháp lý 12
4.2 Nội dung của hợp dồng dịch vụ pháp lý và những lưu ý khi soạn thảo, ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý 12
4.3 Ngôn ngữ trong hợp đồng dịch vụ pháp lý 14
4.4 Các lưu ý về hình thức của hợp đồng dịch vụ pháp lý 15
1
Trang 2MỞ ĐẦU
Không phải tất cả các buổi tiếp xúc khách hàng đều có thể đi đến giai đoạn đàm phán, thỏa thuận hợp đồng dịch vụ pháp lý Có những loại dịch vụ pháp lý nhất định khách hàng và Luật sư có thể thỏa thuận và ký kết ngay hợp đồng dịch vụ pháp lý trong buổi tiếp xúc khách hàng, Thông thường đó có thề là những địch vụ pháp ỉý về việc tiến hành những thủ tục pháp ỉỷ đơn giàn, có quy trinh rõ ràng và biểu phí ẩn định trọn gói Ngoài ra có rất nhiều vụ việc mà Luật sư cần nghiên cứu
hồ sơ trước khi trao đổi với khách hàng nhừng nội đung cùa hợp đồng dịch vụ pháp
lý và cũng là đề Luật sư tự đánh giá khả nẫng đáp ứng yêu cầu cùa khách hàng Với những ỉý do rièng phát sinh từ mỗi vụ việc tại Bước này có thế có những "điềm dừng’' hoặc “bước chuyển'1 thông qua việc Luật sư đề nghị khách hàng cung cẩp thêm các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc hay khách hàng đề nghị Luật sư cung cấp bản chào dịch vụ trước khi khách hàng quyết định trao đổi cụ thể hơn về các nội đung của họp đồng dịch vụ pháp lý Hai bên có thể tiếp tục có những cuộc gặp tiếp theo sau khi thu thập và xử lý thông tin từ đối tác
Đề chuẩn bị cho bước này Luật sư nên chuẩn bị những mẫu hợp dồng dịch vụ pháp lý với những điều khoăn cơ bản đế khách hàng dề hình dung về phương thức làm việc của Luật sư Những biểu giá, quy trình thực hiện một số loại công việc nhất định có ý nghĩa đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý cùạ khách hàng sẽ giủp khách hàng hiểu rõ hơn về các công việc mà Luật sư sẽ tiến hành
Với lí do trên, em xin chọn đề 26: “Những vấn đề cần lưu ý trong quá trình đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp luật” Trong quá trình làm bài không tránh khỏi những sai sót, em mong các thầy cô góp ý để có thể hoàn thiện thêm kiến thức và bài làm
NỘI DUNG
1 Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý
2
Trang 31.1 Định nghĩa hợp đồng dịch vụ pháp lý
Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chưa có một quy định nào thể hiện thế nào là hợp đồng dịch vụ pháp lý, tuy nhiên khái niệm này đã được quan tâm trong một số đề tài nghiên cứu khoa học, chẳng hạn như:
Theo tác giả Vũ Quỳnh Anh (2006) thì “hợp đồng dịch vụ pháp lý là một loại hợp đồng thuộc ngành dịch vụ nghề nghiệp, theo đó bên luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho bên thuê luật sư, còn bên thuê luật sư phải trả tiền thù lao theo thỏa thuận”1 Với khái niệm này thì luật sư là chủ thể duy nhất có thể cung cấp dịch vụ pháp lý cho xã hội
Tiếp cận ở phạm vi “Hợp đồng tư vấn pháp lý ở Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Mai Anh (2015) có quan điểm: “Chủ thể bên cung ứng hợp đồng dịch vụ pháp lý gồm có Luật sư, Tổ chức hành nghề luậ sư; Trung tâm trợ giúp pháp lý; Trung tâm tư vấn pháp luật” và có quan điểm về hợp đồng tư vấn pháp lý như sau:
“Hợp đồng tư vấn pháp lý là sự thỏa thuận của bên thuê dịch vụ với bên cung ứng dịch vụ về việc cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý, theo đó bên cung ứng dịch vụ sẽ thực hiện tư tư vấn pháp luật theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ, bên thuê dịch vụ phải trả thù lao tư vấn cho bên cung ứng dịch vụ”.2 Với khái niệm này tác giả Nguyễn Mai Anh chỉ khái quát ở phạm vi nghiên cứu về một loại sản phẩm dịch vụ
là “tư vấn pháp lý”
Theo tác giả Trần Bích Hạnh (2015) cho rằng: “Kinh doanh dịch vụ pháp lý rộng hơn hành nghề luật sư và có thể hiểu dịch vụ thương mại pháp lý là loại hình dịch vụ có liên quan đến lĩnh vực pháp luật mà bên cung ứng dịch vụ thực hiện cho khách hàng một hoạt động cụ thể có liên quan đến pháp luật nhằm mục đích kiếm lời”.3 Cách định nghĩa này nhấn mạnh vào hai đặc điểm nổi bật của dịch vụ thương
1 Vũ Quỳnh Anh (2006), Hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề luật sư, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội;
2 Nguyễn Mai Anh (2015), Hợp đồng tư vấn pháp lý ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội;
3 Trần Thị Bích Hạnh (2015), Pháp luật về dịch vụ luật sư ở Việt Nam hiện nay, Hà Nội;
3
Trang 4mại pháp lý so với các dịch vụ khác đó là mục đích tìm kiếm lợi nhuận ở lĩnh vực pháp luật
Ở Việt Nam có rất nhiều quan điểm khác nhau về hợp đồng dịch vụ pháp lý, theo quan điểm của tác giả thì các chủ thể có thể cung ứng dịch vụ pháp lý là Tổ chức hành nghề luật sư, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân, Tổ chức hành nghề công chứng, Văn phòng Thừa phát lại, Tổ chức trọng tài thương mại Trong trường hợp bên yêu cầu dịch vụ pháp lý nhưng người được hưởng lợi lại là người khác thì bên yêu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý không đồng nhất với bên sử dụng Ví dụ, người đại diện hoặc người thân thích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (người bị buộc tội) là người ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý nhưng người được bào chữa lại chính là người bị buộc tội
Từ những phân tích trên, có thể kết luận “hợp đồng dịch vụ pháp lý là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ pháp lý thực hiện công việc cho bên yêu cầu, bên yêu cầu phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng theo thỏa thuận”.4
1.2 Đặc điểm hợp đồng dịch vụ pháp lý Hợp đồng dịch vụ pháp lý là loại hợp đồng ưng thuận: Các chủ thể tự do thể hiện ý chí khi thỏa thuận về nội dung của hợp đồng như: Đối tượng của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, địa điểm, thời hạn phương thức thực hiện hợp đồng, giải quyết tranh chấp bất đồng và khi các bên đã xác lập, giao kết thì hợp đồng mang tính bắt buộc giữa các bên, việc từ chối hoặc chậm trễ thực hiện coi như
vi phạm hợp đồng Thể hiện nổi bật của đặc điểm này là giá trị pháp lý gắn với công việc mà bên cung ứng dịch vụ pháp lý phải thực hiện với kỹ năng, kinh
nghiệm của mình theo quy định của pháp luật.5
4 Đinh Thái Hoàng (2018), “Giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh, luận văn thạc sĩ Luật Học, Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Khoa học Xã hội.
5 Đinh Thái Hoàng (2018), “Giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh, luận văn thạc sĩ Luật Học, Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Khoa học Xã hội.
4
Trang 5Hợp đồng dịch vụ pháp lý là loại hợp đồng song vụ: Theo nguyên tắc quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia, mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau, việc bên nào phải thực hiện nghĩa vụ trước phải căn cứ vào thỏa thuận của các bên trong hợp đồng Đặc điểm này thể hiện rõ nhất bên sử dụng dịch vụ pháp lý phải trả thù lao cho bên cung ứng dịch vụ Bên sử dụng dịch vụ pháp lý có quyền yêu cầu bên cung ứng thực hiện đối tượng của hợp đồng thì có nghĩa vụ thanh toán phí tương ứng, ngược lại bên cung ứng dịch vụ pháp lý có nghĩa vụ thực hiện theo thỏa thuận thì cũng có quyền yêu cầu bên thuê mình phải trả công tương xứng.6
Hợp đồng dịch vụ pháp lý mang tính chất đền bù: Khi đối tượng của hợp đồng dịch vụ pháp lý được thực hiện thì bên được hưởng lợi từ dịch vụ này cũng hoàn trả một nghĩa vụ tương ứng theo thỏa thuận, theo nguyên tắc chung của quan hệ dân sự
là có đi có lại đền bù ngang giá Trong hợp đồng dịch vụ pháp lý đặc điểm này được thể hiện bên cung ứng dịch vụ pháp lý đã thực hiện những công việc nhất định thì được trả một khoản phí tương ứng
Chủ thể cung ứng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý phải đáp ứng về kinh doanh
có điều kiện: dịch vụ pháp lý là phải luôn gắn liền với pháp luật và chủ thể thực hiện, phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật mới được cung ứng dịch
vụ pháp lý Theo quy định tại khoản 2, Điều 7 Luật Đầu tư quy định về Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại Phụ lục 4 của Luật này thì hành nghề luật sư, hành nghề công chứng, hoạt động dịch vụ của tổ chức trọng tài thương mại và hành nghề thừa phát lại là những nghề kinh doanh có điều kiện Các bên không được thỏa thuận kết quả khi thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý: Đối tượng của hợp đồng là những công việc cụ thể, bên cung ứng dịch vụ sẽ bằng công sức, trí tuệ, kinh nghiệm và sự tận tâm của mình để hoàn thành công việc đã cam kết thực hiện, không được giao cho người khác làm thay, trừ trường
6 Đinh Thái Hoàng (2018), “Giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh, luận văn thạc sĩ Luật Học, Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Khoa học Xã hội.
5
Trang 6hợp được bên hợp đồng dịch vụ pháp lý đồng ý Mặt khác, rất khó xác định chất lượng của dịch vụ pháp lý do bản chất vô hình của loại hình dịch vụ này, do vậy không có cơ sở pháp lý để thỏa thuận chất lượng công việc và khó có thể đạt được
sự rõ ràng, chính xác
Mục tiêu khi đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng pháp lý
Thứ nhất, đàm phán hợp đồng hướng đến kết quả là tạo lập giao dịch mang lại lợi ích cho các bên
Thứ hai, đàm phán hợp đồng để chuẩn bị cho việc soạn thảo hợp đồng được tốt hơn
Thứ ba, soạn thảo hợp đồng chặt chẽ, hợp lý sẽ đảm bảo hiệu lực của hợp đồng
Thứ tư, ngăn ngừa được các rủi ro và các vi phạm hợp đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng
Những điểm cần lưu ý trong đàm phán hợp đồng dịch vụ pháp lý
3.1 Những lưu ý chung
Thứ nhất, trong đàm phán hợp đồng dịch vụ pháp lý cần có nghệ thuật trong giao tiếp, thương lượng, từ đó mới có thể tạo bầu không khí tôn trọng, hợp tác và
có thể đưa ra một hợp đồng hài hòa về lợi ích giữa luật sư và khách hàng
Thứ hai, cần chú ý một số nguyên tắc trong đàm phán, bao gồm:
-T do, t nguy n, bình đ ng; ự ự ệ ẳ
-Thi n chí h p tác; ệ ợ
-Trung th c, ngay th ng;ự ẳ
-Không trái pháp lu t và đ o đ c xã h i.ậ ạ ứ ộ
6
Trang 7Thứ ba, cần tập trung đàm phán những nội dung quan trọng, tránh rườm rà, mất thời gian, tọa không khí lề mề, kém hiệu quả
3.2 Đàm phán thù lao tư vấn
- Căn cứ tính thù lao:
Theo quy định của Luật luật sư hiện hành, mức thù lao luật sư được tính dựa trên ba căn cứ sau đây:
+ Nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý;
+ Thời gian và công sức của Luật sư sử dụng để thực hiện dịch vụ pháp lý; + Kinh nghiệm và uy tín của Luật sư.7
Nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý được hiểu là tính chất đơn giản hay phức tạp của vụ việc theo yêu cầu của khách hàng Việc xác định các tính chất này
có liên quan đến nhiều vấn đề như: Quan hệ pháp luật đang tranh chấp, tính hợp pháp trong yêu cầu của khách hàng, v.v Ngoài ra, nội dung, tính chất vụ việc cũng quyết định thời gian và công sức của Luật sư phải bỏ ra để thực hiện dịch vụ Nếu
vụ việc đơn giản, thời gian công sức mà Luật sư dùng để giải quyết sẽ ít hơn và ngược lại Trong những vụ việc dân sự phức tạp, việc xác định tính chất của quan
hệ pháp luật tranh chấp cũng không đơn giản đặc biệt là trong tình huống xuất hiện ngày càng nhiều sự kiện, tình tiết có liên quan Có những vụ việc khách hàng sẽ đặt
ra những yêu cầu “kép” như mong muốn Luật sư giải quyết tranh chấp thừa kế mà tài sản thừa kế lại đang do một người khác không thuộc hàng thừa kế quản lý, có công bảo quản, giữ gìn Lúc này, Luật sư cần xác định, khách hàng vừa có yêu cầu chia thừa kế vừa có yêu cầu đòi tài sản, mà yêu cầu thứ hai lại có liên quan đến quyền lợi của người quản lý tài sản, nên việc phân chia thừa kế và giải quyết yêu cầu sao cho thỏa đáng cũng tương đối phức tạp, v.v Về thời gian và công sức của
7 Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2020), Sổ tay Luật sư, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
7
Trang 8Luật sư, trong vụ án hình sự, việc thu thập, tham gia đánh giá, kiểm tra chứng cứ, đưa ra yêu cầu làm rõ sự thật khách quan, giúp bị can, bị cáo thực hiện các quyền của mình cũng không hề đơn giản, đặc biệt là đối với các vụ án hình sự lớn với số lượng bị can, bị cáo lên đến hàng chục người với hàng trăm ngàn bút lục hồ sơ, v.v Trong các vụ án phức tạp như vậy, Luật sư phải dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu các tình tiết, vạch phương hướng, giúp khách hàng thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết các vấn đề của họ Tuy nhiên, đôi khi việc thu thập chứng
cứ lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan lẫn khách quan, liên quan đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân, thậm chí, có nhiều trường hợp các chủ thể nắm giữ chứng cứ, tài liệu chứng minh còn có tâm lý ngại cung cấp, hoặc đưa ra những điều kiện mang tính chất cản trở, gây khó khăn, cùng với các điều kiện chủ quan lẫn khách quan khác dẫn đến ảnh hưởng kết quả của việc thu thập
Kinh nghiệm và uy tín của Luật sư cũng là một căn cứ pháp lý để tính mức thù lao luật sư Chất lượng dịch vụ pháp lý do Luật sư cung cấp cho khách hàng phụ thuộc rất lớn vào căn cứ này Thông thường, kinh nghiệm và uy tín của Luật sư được thể hiện rõ nhất trong kỹ năng hành nghề và tư cách đạo đức nghề nghiệp luật
sư Luật sư có kinh nghiệm là người sử dụng thành thạo các kỹ năng hành nghề trong việc xác định yêu cầu của khách hàng có hợp pháp hay không; thu thập tài liệu, chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ; phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá các sự kiện tình tiết để xác định giá trị chứng minh của các tài liệu, chứng cứ đó; có khả năng
đề ra phương án bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng; chuẩn
bị luận cứ pháp lý, dự kiến các tình huống và xử lý các tình huống phát sinh tại phiên tòa, từ đó, trình bày lời bào chữa hoặc bảo vệ quyền lợi cho khách hàng với lập luận sắc bén, chính xác, có sức thuyết phục cao
Tuy nhiên, trên thực tế, để xác định thế nào là một Luật sư có “kinh nghiệm và
uy tín” cao là một việc rất khó Bởi lẽ, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ tiêu chí cụ thể nào được luật hóa để xác định vấn đề này Do vậy, khi tính toán mức
8
Trang 9thù lao với khách hàng, Luật sư phải căn cứ vào các quy định và điều kiện cụ thể để đưa ra một mức thù lao hợp lý mà khách hàng có thể chấp nhận được Nếu Luật sư đưa ra một mức thù lao quá cao, khách hàng đương nhiên khó có thể chấp nhận và
họ sẽ tìm cách rút lui để đi tìm và lựa chọn một Luật sư khác phù hợp hơn Điều này cũng không loại trừ đối với trường hợp, Luật sư chỉ mới nghe lời trình bày của khách hàng, chưa có điều kiện kiểm tra, đánh giá tài liệu, chứng cứ do khách hàng cung cấp, chưa xác định được yêu cầu của khách hàng có căn cứ để bảo vệ hay không, đã vội nhận lời và đưa ra mức thù lao quá cao, khiến khách hàng nghi ngờ tính thận trọng nghề nghiệp của Luật sư dẫn đến thiếu tin tưởng và tìm cách từ chối tiếp nhận dịch vụ pháp lý
Ngoài ra, mặc dù Luật luật sư hiện hành không quy định rõ ràng, cụ thể về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp trong xác định mức thù lao, nhưng trên thực tế, trong quan hệ với khách hàng, yếu tố đạo đức nghề nghiệp là căn cứ rất quan trọng
để Luật sư tính toán, đưa ra mức thù lao hợp lý nhằm củng cố lòng tin của khách hàng cũng như uy tín của bản thân
- Phương thức tính thù lao:
Khoản 2 Điều 55 Luật luật sư quy định thù lao của Luật sư được tính theo ba phương thức sau đây:
+ Giờ làm việc của Luật sư;
+ Vụ, việc với mức thù lao trọn gói;
+ Vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dự án
Việc áp dụng phương thức nào để tính thù lao là do Luật sư chủ động đề xuất trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng Trên thực tế, yếu tố quyết định phương thức phù hợp để áp dụng trong việc tính thù lao còn tùy thuộc vào cách tính toán, các
9
Trang 10điều kiện thực tế của từng Luật sư, theo từng vụ, việc mà không thể rập khuôn vào một phương thức cụ thể nào
Trong trường hợp, Luật sư nhận vụ việc theo chỉ định của cơ quan tiến hành tố tụng, thì mức thù lao được tính theo giờ làm việc của Luật sư Thời gian làm việc của Luật sư được tính bao gồm:
+ Thời gian gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
+ Thời gian thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa; + Thời gian nghiên cứu hồ sơ và chuẩn bị tài liệu;
+ Thời gian tham gia phiên tòa;
+ Thời gian hợp lý khác để thực hiện việc tham gia tố tụng theo yêu cầu của
cơ quan tiến hành tố tụng.8
Trong trường hợp này, thù lao theo giờ làm việc của Luật sư không thể máy móc tính theo giờ hành chính với thời lượng 08 giờ/ngày Bởi lẽ, lao động tác nghiệp của Luật sư là loại lao động đặc thù, không kể ngày hay đêm, trong hay ngoài giờ hành chính Do đó, Luật sư cần tính toán kỹ thời lượng phải giải quyết công việc sao cho phù hợp với công sức và thời gian bỏ ra Đồng thời, trong bản đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng thanh toán thù lao, Luật sư cần nêu rõ các căn cứ thực tế để chứng minh cho số giờ làm việc của mình (Hiện nay, tồn tại tình trạng các cơ quan tiến hành tố tụng chậm thanh toán thù lao cho Luật sư trong các vụ án được chỉ định Vì vậy, các Đoàn Luật sư cần có ý kiến với các cơ quan này để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của Luật sư)
Các Luật sư cần lưu ý, trong trường hợp nhận bào chữa chỉ định, ngoài khoản tiền thù lao, trong quá trình chuẩn bị, tham gia bào chữa tại phiên tòa và các cơ quan tiến hành tố tụng, Luật sư được thanh toán chi phí tàu xe, lưu trú theo quy
8 Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2020), Sổ tay Luật sư, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
10