1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đặc trưng của đô thị việt nam truyền thống và sự thay đổi những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế ở việt nam hiện nay

21 23 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống và sự thay đổi những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Người hướng dẫn Nguyễn Thanh Hoa
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận chính trị
Thể loại Bài thi kết thúc học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 272,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM ĐỀ TÀI ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG VÀ SỰ THAY ĐỔI NHỮNG ĐẶ.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘIKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM

ĐỀ TÀI:

ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

VÀ SỰ THAY ĐỔI NHỮNG ĐẶC TRƯNG NÀY

TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

Trang 2

Lời cảm ơn

Phát triển đô thị là xu thế tất yếu của tất cả các quốc gia trên thế giới trong

kỷ nguyên hiện đại hóa, khoa học - kỹ thuật tiên tiến Hiện nay, các đô thị ViệtNam đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý phát triển đất nước, đặcbiệt là khi nước ta đang phấn đấu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiệnđại Nhận diện đô thị là một việc làm cần thiết nhằm đánh giá chính xác thựctrạng phát triển và xây dựng các định hướng phát triển trong tương lai

Đề tài của nhóm 3 chúng em được thực hiện trên các quan điểm, cácthống kê khách quan về vấn đề, nhằm đưa ra cái nhìn tổng thể, khách quan nhấtcho các bạn đọc

Để thực hiện được đề tài này, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới

cô giáo Nguyễn Thanh Hoa đã giúp nhóm 3 chúng em có những kiến thức nềntảng về phương pháp làm bài và định hướng đúng đắn những cách thức tiếnhành một đề tài

Và trong quá trình viết đề tài, do thời gian và khả năng nghiên cứu củachúng em còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Chúng em hyvọng cô sẽ đóng góp ý kiến bổ sung để chúng em rút kinh nghiệm và đề tàinghiên cứu hoàn hiện tốt hơn

Một lần nữa xin gửi những lời cảm ơn chân thành nhất!

Trân trọng, ngày 12 tháng 11 năm 2022

Trang 3

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

Nội dung công việc Thời gian

hoàn thành

Dự kiến kết quả Người thực hiện

Xây dựng đề cương khái quát 31/10/2022 Tốt Cả nhóm

Xây dựng đề cương chi tiết 31/10/2022 Tốt Cả nhóm

Sưu tầm tài liệu Tốt Cả nhóm

Viết phần Mở đầu của đề tài 06/11/2022 Bùi Hoàng Vân Ly

Nguyễn Mai Trúc

Viết phần I

(Phần Nội dung) của đề tài

06/11/2022 Vương Thùy Linh

Nguyễn Mai TrúcNguyễn Khánh LinhViết phần II

(Phần Nội dung) của đề tài

10/11/2022 Bùi Hoàng Vân Ly

Lý Tiểu ĐiệpNgô Tuấn Hùng

Đỗ Quân AnhViết phần III

(Phần Nội dung) của đề tài

10/11/2022 Đỗ Minh Ngọc

Đoàn Khánh LinhNguyễn Hoàng Thảo TâmViết phần IV

(Phần Nội dung) của đề tài

10/11/2022 Bùi Hoàng Vân Ly

Viết phần Tổng kết của đề tài 11/11/2022 Vương Thùy Linh

Nguyễn Mai TrúcViết báo cáo 12/11/2022 Bùi Hoàng Vân LyNghiệm thu đề tài

Trang 4

STT Mã sinh viên Họ và tên Đánh giá của thầy/cô

1 472823 Đỗ Minh Ngọc

2 472824 Đoàn Khánh Linh

3 472825 Bùi Hoàng Vân Ly

4 472826 Vương Thùy Linh

Trang 5

Danh mục từ viết tắt

NXB Nhà xuất bản

GS Giáo sưPGS Phó giáo sư

TS Tiến sĩKTS Kiến trúc sư

Trang 6

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 7

B NỘI DUNG 8

I Cơ sở lý luận 8

1. Khái quát về đô thị 8

a. Khái niệm đô thị 8

b. Lịch sử hình thành đô thị 8

c. Vai trò của đô thị 8

2. Hội nhập quốc tế 8

II Đặc trưng của đô thị truyền thống Việt Nam 9

1. Cơ sở hình thành và phát triển các đặc trưng của đô thị truyền thống 9

2. Những đặc trưng của đô thị truyền thống 9

3. Các đô thị truyền thống tiêu biểu 11

4. Lý giải các đặc trưng từ góc độ văn hóa 12

III Sự thay đổi các đặc trưng trong quá trình hội nhập quốc tế 13

1. Tổng quan về đô thị Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế 13

2. Sự thay đổi của các đặc trưng đô thị trong quá trình hội nhập quốc tế 14

3. Đánh giá ưu điểm và các mặt hạn chế của sự thay đổi các đặc trưng trong quá trình hội nhập quốc tế 15

a. Ưu điểm 16

b. Hạn chế 16

IV Định hướng và các giải pháp quản lý đô thị hiện nay: 17

1. Định hướng 17

2. Các giải pháp 17

C TỔNG KẾT 18

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 7

A MỞ ĐẦU

Phát triển đô thị là xu thế tất yếu của tất cả các quốc gia trên thế giới trong kỷnguyên hiện đại hóa, khoa học - kỹ thuật tiên tiến Hiện nay, các nước trên thế giớiđều có xu hướng mở cửa để hội nhập và phát triển, đặc biệt là các nước đang pháttriển đang ngày càng mở rộng những khu đô thị của mình và Việt Nam cũng khôngphải là ngoại lệ

Tuy nhiên, sự phát triển của xu hướng đô thị hóa đang dần mang đến những vấn

đề ảnh hưởng đến đời sống xã hội, đặc biệt là những giá trị văn hóa đang dần trởnên mờ nhạt Không những vậy, sự phát triển và thay đổi của đô thị hiện đại đã vàđang gây ra khủng hoảng do thiếu thốn cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng

Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, đất nước ta đang phải đứng giữa hai lựa chọn:thay đổi để hội nhập hay giữ vững những giá trị truyền thống Vì thế, việc xác định

rõ ràng những yếu tố truyền thống và hiện đại ấy trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.Bởi nó có thể ảnh hưởng đến những chính sách, những quyết định trong tương laisau này về việc thay đổi và quy hoạch đô thị Quá trình quy hoạch và đổi mới ấyyêu cầu sự thay đổi phù hợp nhất để vừa giữ vững được bản sắc văn hóa dân tộc;vừa có thể phát triển một đất nước văn minh, hiện đại hơn

Việc tìm hiểu những đô thị Việt Nam truyền thống và sự thay đổi của các đô thị

ấy trong quá trình hội nhập quốc tế là cơ sở để nghiên cứu sâu về văn hóa ViệtNam Những nền văn hóa lớn thường gắn liền với các khu đô thị vậy nên vấn đềnghiên cứu này có thể cung cấp thông tin về quá trình hình thành và phát triển củacác đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam

Trang 8

B NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận

1 Khái quát về đô thị

a Khái niệm đô thị

Đô thị là khu vực tập trung đông dân cư sinh sống và chủ yếu hoạt độngtrong những lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm kinh tế, chính trị, vănhoá, xã hội, du lịch và dịch vụ của cả nước hoặc vùng lãnh thổ bao gồm thị trấn, thị

xã, thành phố (thành phố trực thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương)

c Vai trò của đô thị

 Vai trò phát triển kinh tế: Đô thị là nhân tố then chốt quyết định thành công

của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất và phát triển kinh tế

-xã hội của các vùng và cả nước Sự hình thành, khai thác và mở rộng các đô thị

dịch cơ cấu kinh tế: từ nông nghiệp đến công nghiệp rồi dần phát triển dịch vụ vàcác loại hình khác; thay đổi cơ cấu lao động cho phù hợp với tình hình kinh tế đấtnước và thay đổi sự phân bố dân cư giảm sự chênh lệch giữa các vùng

 Vai trò văn hóa - xã hội: Đô thị đóng vai trò là trung tâm thúc đẩy phát triển

quyết những vấn đề về sức khỏe thể chất và tinh thần, các nhu cầu trong đời sống

vực, góp phần giải quyết các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn

2 Hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế là quá trình tất yếu, có lịch sử phát triển lâu dài và có nguồngốc, bản chất xã hội của lao động và sự phát triển văn minh của quan hệ giữa conngười với con người Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải cómối liên kết chặt chẽ với nhau Chính vì vậy mà suốt thời gian qua, thực hiện theođường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác quy hoạch và quản lýxây dựng đô thị đã có nhiều thay đổi lớn Nền kinh tế thị trường đang phát triểnmạnh, hội nhập quốc tế càng ngày càng mở rộng và sâu sắc hơn, đã làm cho đấtnước Việt Nam đang thay đổi toàn diện theo hướng tích cực Các vấn đề về đô thị

Trang 9

hoá và phát triển đô thị bền vững đang là mục tiêu cơ bản đặt ra trong thời kỳ hiệnđại Bởi lẽ đây chính là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế.

Trang 10

II Đặc trưng của đô thị truyền thống Việt Nam

1 Cơ sở hình thành và phát triển các đặc trưng của đô thị truyền thống

Trong khi ở phương Tây, làng xã là “cái bao tải khoai tây” rời rạc, còn đô thị làmột tổ chức tự trị vững mạnh thì, ngược lại, ở Việt Nam làng xã nông nghiệp làmột tổ chức tự trị vững mạnh, còn đô thị lại yếu ớt, lệ thuộc Đó là một bức tranhmang tính quy luật tất yếu do sự khác biệt của hai loại hình văn hóa quy định: ởnền văn hóa Việt Nam nông nghiệp trọng tĩnh, làng xã là trung tâm, là sức mạnh, làtất cả, cho nên làng xã có quyền tự trị Còn ở các nền văn hóa châu Âu sớm pháttriển thương mại và công nghiệp, thì hiển nhiên là đô thị tự trị và có uy quyền.Theo tài liệu của Viện Sử học Việt Nam, đô thị đầu tiên ở Việt Nam xuất hiệnkhá muộn so với các nước trên thế giới và các đô thị cổ sau khi hình thành cũngkhông có sự phát triển liên tục mà thường thăng trầm cùng với sự thay đổi địa điểmkinh đô của các triều đại khác nhau Trước hết là trung tâm chính trị rồi từ đó mới

là kinh tế văn hóa Điều này cho phép các học giả đưa ra tổng kết quan trọng vềlịch sử và tính chất của đô thị Việt Nam, đó là sự phát triển hay lụi tàn của các đôthị Việt Nam mang nhiều dấu ấn hành chính - chính trị hơn là thương mại, dịch vụ.Như nguyên lý ra đời đô thị ở hầu hết các nước, tức yếu tố “đô” trong “đô thị” lấn

át yếu tố “thị” vốn là cơ bản để tạo thành đô thị Bóc tách hai chữ “đô thị”, ta dễdàng nhận ra yếu tố “đô” luôn gắn liền với “Thành”, “Dinh”, “Trấn” - những trungtâm cai trị của chính quyền nhà nước quân chủ và được xây dựng bởi lực lượngcầm quyền trong xã hội Những nhu cầu giao thương, tìm kiếm các nguồn hàngthương mại đã tạo thành các “thị” - tức là phố, phường Có thể thấy, phần “đô” luônđiều hành phần “thị”, bởi các tầng lớp thị dân trong phần “thị” luôn bị chi phối bởicác tầng lớp quan lại, quý tộc, đô thị Việt Nam bị nông thôn kìm giữ, không cholàng xã phát triển thành đô thị

2 Những đặc trưng của đô thị truyền thống

Với lịch sử phát triển, truyền thống kinh tế cùng với cách tổ chức, quy hoạchhiện nay, đô thị Việt Nam có những đặc trưng nổi bật được thống kê từ nhiều họcgiả như sau:

 Được sinh ra bởi các quyết định mang tính pháp lý của Nhà nước

Không giống như Trung Hoa hay phương Tây, đô thị Việt Nam được nhà nướcsinh ra và chịu sự quản lí của nhà nước Nhà nước đặt ra đô thị thì dễ hiểu là nhà nước phải quản lí và khai thác nó (thông qua bộ máy quan lại) Ngay cả một số ít

đô thị hình thành tự phát do ở vào những địa điểm giao thông buôn bán thuận tiện

Trang 11

như Vĩnh Bình (nay là thị xã Lạng Sơn), Vân Đồng (thuộc tỉnh Quảng Ninh), Phố Hiến (nay là thị xã Hưng Yên), và Hội An, thì ngay sau khi hình thành, nhà nước cũng lập tức đặt một bộ máy cai trị trùm lên để nắm trọn quyền kiểm soát và khai thác.

 Là trung tâm chính trị - hành chính, rồi sau đó mới đến chức năng kinh tế và

văn hóa

Đô thị của Việt Nam không mang nội dung giống như Trung Quốc hay phươngTây Trong khi đô thị của ta thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu thì đô thịphương Tây thực hiện chức năng kinh tế là chủ yếu Đô thị ở Việt Nam không nảysinh từ con đường phát triển tự nhiên, tức là không phải hệ quả của sự phát triểntiểu thủ công nghiệp và thương mại, mà trái lại do nhà nước sinh ra Bởi vậy đô thịthực hiện chức năng hành chính là chủ yếu và chịu sự quản lí trực tiếp của nhànước phong kiến Trong đô thị có bộ phận quản lí và bộ phận làm kinh tế, thườngthì bộ phận quản lí được hình thành trước theo kế hoạch, rồi dần dần, một cách tựphát bộ phận kinh tế mới được hình thành Thậm chí trong nhiều trường hợp, bộphận quản lí của đô thị đã hoạt động rồi mà bộ phận làm kinh tế vẫn không pháttriển được hoặc phát triển yếu ớt như trường hợp các kinh đô Hoa Lư của nhà Đinh,phủ Thiên Trường của nhà Trần, Tây Đô của nhà Hồ, Lam Kinh của nhà Lê,Phượng Hoàng Trung Đô của nhà Tây Sơn,

 Số lượng và quy mô của đô thị ở Việt Nam không đáng kể so với nông

- Tổ chức hành chính của đô thị được mô phỏng theo tổ chức nông thôn (ví dụnhư: chia đô thị thành các cấp độ hành chính như: phủ, huyện, tổng, thôn).Ngoài ra, đô thị còn có một khu vực hành chính mà nông thôn không có, đó làphường Song trên thực tế, phường vốn là nơi tụ cư của những người cùng làmmột nghề và cùng xuất xứ từ một làng quê

- Phố nằm xen kẽ với làng

- Lối sống của đô thị Việt Nam cũng tương tự với nông thôn vì có tính cộng đồng

và tập thể cao: Do chỗ sức mạnh của truyền thống văn hóa nông nghiệp đã

Trang 12

không cho phép nông thôn tự chuyển thành đô thị, cho nên ở Việt Nam các làng

xã nông thôn thực hiện chức năng kinh tế của đô thị gọi là làng công thương.Chúng không trở thành đô thị được, mọi sinh hoạt vẫn giống như một làng nôngnghiệp bình thường do tính cộng đồng (cả làng cùng làm một nghề nên khôngthể trao đổi hàng hóa nội bộ được) và do tính tự trị (dân cư sống tự túc, khépkín, không có nhu cầu buôn bán giao lưu)

3 Các đô thị truyền thống tiêu biểu

Trải qua nhiều thay đổi về văn hóa, số lượng đô thị truyền thống lịch sử là khá ít

và đã được bộc lộ rõ ràng qua ba đô thị truyền thống tiêu biểu hiện nay:

 Hà Nội:

Nằm về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng HàNội đã trải qua nhiều giai đoạn: nhà Lý, nhà Trần, nhà Hồ, nhà Nguyễn, thời kỳPháp thuộc,… Mỗi thời kì đều có các công trình văn hóa khác nhau song khác biệtlớn nhất là thời kỳ phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc Trong thời kỳ phong kiến ởnước ta, Hà Nội là Kinh thành Thăng Long của nhiều đời vua chúa Bắt đầu từ thời

kỳ Pháp thuộc, thành phố Hà Nội dần mang dáng dấp của một đô thị châu Âu vàvẫn liên tục giữ vai trò là trung tâm văn hóa, thẩm mỹ và nghệ thuật, tri thức của cảnước Khu phố cổ thành phố Hà Nội, trung tâm lịch sử dân tộc của thành phố, lúcbấy giờ vẫn là khu vực đông đúc nhất Qua nhiều năm, những dân cư sinh sống nhờnhững nghề bằng tay thủ công, kinh doanh tiểu thương nhỏ lẻ đã hình thành nhữngcon phố nghề đặc trưng mang những cái tên như Hàng Bạc, Hàng Bồ, HàngĐường, Hàng Thùng,… Mỗi loại sản phẩm và hàng hóa đều có một phố riêng.Thành phố Hà Nội không chỉ là trung tâm văn hóa của cả nước mà còn mang đậmnhững truyền thống riêng mà không nơi đâu có được

 Huế:

Nằm ở trung tâm tỉnh Thừa Thiên Huế, địa bàn nằm trải dài theo dòng sôngHương Đồng thời cũng là vùng kinh tế tài chính trọng điểm miền Trung, Huế đãđược Trung ương xác lập là đô thị loại I Thành phố Huế là kinh đô phong kiếncuối cùng của nước ta, vốn có lịch sử vẻ vang và truyền thống cội nguồn văn hóatruyền kiếp với những giá trị và truyền thống độc lạ Sự hình thành bắt đầu của nóvẫn là gắn với thị hiếu và điều kiện kèm theo của giới quý tộc, quan lại nhà Nguyễn

từ những thế kỉ XVII, XVIII do đô thị này vẫn không thoát khỏi sự quản trị của nhànước Quy hoạch đô thị như vậy có hạt nhân, trung tâm là khu chính dinh ở bờ bắcsông Hương để giao hàng cho công dụng hành chính và mục tiêu chính trị Ở khudân cư, làm ăn kinh doanh trong quy hoạch đô thị Huế từ trước thế kỉ XIX cũng đãđược hình thành, được đặt ở phía trước khu chính dinh, bám theo triền sông vớiphố xá, chợ bến và vẫn không thiếu những hàng cây đặc trưng của đô thị này Chợphố liền nhau, đường cái đi ở giữa, thuyền kinh doanh dọc ngang như mắc cửi Nhưvậy hoàn toàn có thể thấy dù đã được coi là đô thị, Huế vẫn còn sống sót những néttruyền thống cuội nguồn rất “dân dã” của nông thôn Bước sang thế kỉ XIX, khi trở

Trang 13

thành quốc đô của nước ta, đô thị Huế được lan rộng ra và tăng cấp lên rất nhiềunhưng vẫn trên cơ sở quy hoạch được hình thành từ trước Không chỉ còn nhữngthôn Vĩ Dạ đầy thơ mộng, làng Phú Cam làm nón, ở Huế có vẻ như vẫn đậm chấtnông thôn hơn nhiều đô thị khác Huế hay được ví như “Thành phố nhà - vườn” -mỗi ngôi nhà được bao phủ bởi một khu vườn xanh tươi với những hàng cây cắtxén tươm tất Điều này chính là một dẫn chứng cho một mái ấm gia đình nông thônnổi bật.

 Thành phố Hồ Chí Minh (tên gọi cũ là Sài Gòn):

Nằm ở vị trí đắc địa và tác động ảnh hưởng bởi nhiều nền văn hóa khác nhaunên ngay từ tiến trình xây dựng, dân cư Sài Gòn đã có sự giao thoa của người dân

từ những nền văn hóa khác nhau tạo nên nhiều nét đặc trưng độc đáo Vấp phải vănhóa nông thôn, văn hóa này muốn kiềm chế bằng tay thủ công vào trong khuôn khổcủa nó, không cho bằng tay thủ công tăng trưởng vì nó sẽ hấp dẫn nông dân khỏilàng, tạo thành những trung tâm tinh chỉnh và điều khiển lại nông thôn như tìnhhình ở châu Âu Nếu ở phương Tây, những làng nghề thủ công bằng tay sẽ dần tăngtrưởng và tự lan rộng ra, chuyển lên đô thị nhưng ở nước ta thì không được nhưvậy Nghề ở đây chỉ là một hoạt động giải trí thụ phu so với canh tác nông nghiệpcủa làng Các làng nghề không bị sức ép về sự khan hiếm đất đai canh tác đến độphải chuyển sang sống bằng nghề bằng tay thủ công Thị trường tiêu thụ khôngđược lan rộng ra do sản phẩm và hàng hóa tiểu thủ công nghiệp mà những làngnghề sản xuất ra đa phần nhằm mục đích giao hàng nhu yếu nhỏ hẹp của nhữngnhững tầng lớp quý tộc, quan lại phong kiến Các hoạt động giải trí kinh doanhnhững mẫu sản phẩm này cũng do chính những tầng lớp này quản trị Do đó, không

đủ lực để bứt ra khỏi quỹ đạo của làng xã nông thôn và trở thành một bộ phận kinh

tế tài chính độc lập Có thể thấy Sài Gòn là một trung tâm kinh tế văn hóa bị ảnhhưởng rất nhiều bởi phương Tây, tuy vậy vẫn giữ được nét đặc trưng của đô thịtruyền thống Việt Nam

4 Lý giải các đặc trưng từ góc độ văn hóa

Không gian đô thị luôn có sự đan xen và phát triển theo kiểu "da báo" giữa

đô thị

và nông thôn Do vậy tính gắn bó truyền thống và cả huyết thống giữa đô thị - nôngthôn khá rõ rệt và khác với nhiều nước Đồng thời tạo ra tính bảo thủ giữa đô thị-nông thôn không phân biệt quá rõ ràng, do tốc độ đô thị hoá chậm nên tính thờigian cũng không mấy ý nghĩa, hàng thập kỷ trôi đi mà đô thị thì rất ít thay đổi

Sở dĩ, đô thị có những nét độc đáo như vậy là vì:

 Thể chế làng xã của Việt Nam mang tính bao trùm tới mức tất cả các cộngđồng lớn hơn (đô thị, nhà nước) đều là sự phóng chiếu của chính nó Có thể nói:

“Siêu làng lớn nhất là nước, là dân tộc” Văn hóa Việt Nam xưa không phải là vănhóa thành thị, không có hiện tượng thành thị chỉ huy nông thôn mà ngược lại, chínhthành thị lại bị nông thôn hóa Đô thị lớn nhất cả nước là Thăng Long chỉ là cửa

Ngày đăng: 27/01/2023, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Phạm Thái Việt (Chủ biên), TS. Đào Ngọc Tuấn, Đại cương về Văn hóa Việt Nam, NXB. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về Văn hóa Việt Nam
Tác giả: TS. Phạm Thái Việt, TS. Đào Ngọc Tuấn
Nhà XB: NXB. Văn hóa – Thông tin
Năm: 2004
2. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2001 3. Trần Quốc Vượng (Chủ biên), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB. Giáo dục, HàNội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam", NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2001 3. Trần Quốc Vượng (Chủ biên), "Cơ sở văn hoá Việt Nam
Nhà XB: NXB. Giáo dục
4. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, NXB. Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB. Văn hoá thông tin
Năm: 2003
5. TS. Trần Thị Hồng Thúy (Chủ biên), PGS.TS. Phạm Thái Việt, TS. Đào Ngọc Tuấn, ThS. Bạch Đăng Minh, Đại cương Văn hóa Việt Nam, NXB. Lao động - Xã hội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Hồng Thúy, Phạm Thái Việt, Đào Ngọc Tuấn, Bạch Đăng Minh
Nhà XB: NXB. Lao động - Xã hội
Năm: 2011
6. Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB. Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB. Văn hoá thông tin
Năm: 2002
7. Phạm Thái Việt, Toàn cầu hoá những biến đổi lớn về chính trị quốc tế và văn hoá, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá những biến đổi lớn về chính trị quốc tế và văn hoá
Tác giả: Phạm Thái Việt
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 2006
8. Trần Quốc Vượng, Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, NXB. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: NXB. Văn hoá dân tộc
Năm: 2000
10.Bộ Chính trị, Đề án "Đô thị hóa, phát triển đô thị và phát triển kinh tế đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án "Đô thị hóa, phát triển đô thị và phát triển kinh tế đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Tác giả: Bộ Chính trị
12.Đàng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đàng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
14.PGS. Trương Minh Dực, TS. Lê Văn Định, Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam Một cách tiếp cận, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam Một cách tiếp cận
Tác giả: PGS. Trương Minh Dực, TS. Lê Văn Định
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
15.Trần Ngọc Khánh, Văn hóa đô thị, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, [2012] 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa đô thị
Tác giả: Trần Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
16.PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ, Lại bàn về chế độ phong kiến Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại bàn về chế độ phong kiến Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ
19.Đô thị hóa và các vấn đề phát sinh, Báo Điện tử Chính Phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa và các vấn đề phát sinh
Nhà XB: Báo Điện tử Chính Phủ
13.PGS.TS Tô Thị Minh Thông, Hội thảo khoa học Viện Quy hoạch đô thị nông thôn Khác
17.GS, TS, KTS. Nguyễn Tố Lăng, Nhận diện vấn đề đô thị và quản lý phát triển đô thị khi đất nước dần trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (Kỳ 1), Tạp chí Cộng Sản Khác
18.PGS.TS.KTS Nguyễn Quốc Thông, Toàn cầu hóa với vấn đề phát triển đô thị ở Việt Nam, Tạp chí Kiến trúc Khác
20.PGS. Trương Minh Dực, TS. Lê Văn Định, "Đô thị hoá ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra đối với quá trình xây dựng văn hoá vả lối sống đô thị hiện nay", Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 3 - 2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w