1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Ảnh hưởng của Tư tưởng nho giáo, tư tưởng pháp trị, tư tưởng từ bi hỷ xả của Đạo phật và tư tưởng truyền thống

12 23 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của Tư tưởng Nho giáo, Tư tưởng pháp trị, Tư tưởng từ bi hỷ xả của Đạo Phật và Tư tưởng truyền thống
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 200,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled MỤC LỤC CHƯƠNG I LỜI MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG II NỘI DUNG 4 I KHÁI NIỆM TƯ TƯỞNG CHÍNH PHÁP LÝ 4 II PHÂN TÍCH CƠ SỞ TƯ TƯỞNG CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHONG KIẾN VIỆT N.

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: LỜI MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG II: NỘI DUNG 4

I KHÁI NIỆM TƯ TƯỞNG CHÍNH PHÁP LÝ 4

II PHÂN TÍCH CƠ SỞ TƯ TƯỞNG CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHONG KIẾN VIỆT NAM 4

1 Tư tưởng Nho giáo 4

1.1 Khái quát 4

1.2 Nội dung 4

1.3 Ảnh hưởng của Nho giáo vào quá trình hình thành và phát triển nhà nước phong kiến Việt Nam: 5

2 Tư tưởng pháp trị 6

2.1 Khái quát: 6

2.2 Tư tưởng pháp trị trong việc hình thành và pháp triển của nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam 7

3 Tư tưởng từ bi hỷ xả của đạo Phật 10

3.1 Khái quát 10

3.2 Tư tưởng từ bi hỉ xả của đạo Phật trong việc hình thành và pháp triển của nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam 11

4 Các tư tưởng truyền thống 12

5 Nhận xét 13

6 So sánh, mở rộng 13

CHƯƠNG III: KẾT LUẬN 14

Trang 2

CHƯƠNG I: LỜI MỞ ĐẦU

Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng quan trong và rộng nhất trong kiến thức của sinh viên ngành Luật, hai hiện tượng này như một dòng chảy xuyên suốt và biến đổi không ngừng Môn Lịch sử nhà nước và pháp luật đã cung cấp cho người đọc về một cái nhìn tổng quan bao quát về toàn bộ quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của pháp luật nhà nước Việt nam từ quá khứ đến hiện tại Không những vậy môn học này còn lý giải được những vấn đề

đã và đang diễn ra trong đời sống nhà nước và pháp luật hiện nay Lịch sử mỗi quốc gia trên thế giới đều có sự khác nhau rõ rệt, đất nước Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều kiểu nhà nước và pháp luật khác nhau Việt Nam có bề dày về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, một đất nước có hàng nghìn năm Bắc thuộc và hàng trăm năm dưới ách đô hộ của thực dân, đế quốc, trải qua một quãng thời gian dài Việt Nam từ một nhà nước xã hội phong kiến đến ngày nay là nhà nước xã hội chủ nghĩa Ở mỗi chế độ khác nhau đều có những cơ sở ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhà nước và pháp luật khác nhau Sau đây nhóm 1 lớp 4701 xin được làm rõ

về sự ảnh hưởng của “cơ sở tư tưởng cho sự hình thành và phát triển của nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam” với những vấn đề cơ bản sau: Ảnh hưởng của Tư tưởng nho giáo, tư tưởng pháp trị, tư tưởng từ bi hỷ xả của Đạo phật và tư tưởng truyền thống.

Trang 3

CHƯƠNG II: NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM TƯ TƯỞNG CHÍNH PHÁP LÝ.

- Là một hệ thống quan điểm triết học về chính trị, quyền lực nhà nước và

hệ thống những quy tắc, quy phạm pháp luật hàm chứa những nguyên lý

và quy luật vận động của xã hội con người, kinh tế, chính trị, quân sự, an ninh, văn hóa và nhân sinh theo phép biện chứng của tự nhiên Qua đó, thể hiện tư duy của loài người về quyền lực và luật pháp trong quá trình vận động và phát triển

II PHÂN TÍCH CƠ SỞ TƯ TƯỞNG CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHONG KIẾN VIỆT NAM.

1 Tư tưởng Nho giáo

1.1 Khái quát

- Là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội hài hòa, trong đó con người biết ứng xử theo lẽ phải và đạo đức, đất nước thái bình, thịnh vượng.

- Gồm những người có học thức, biết phép cư xử và lễ nghĩa nhà Nho, Nho sĩ hay Nho sinh là những người có tư tưởng và lối sống theo các

tư tưởng được đề cập đến trong Nho giáo.

- Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước Đông Á là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam.

- Được truyền bá vào Việt Nam từ thế kỉ đầu Công nguyên và trong suốt thời kì Bắc thuộc.

- Từ thời Lý-Trần, cùng với Phật giáo, Nho giáo đã góp phần hình thành đường lối cai trị "thần dân" của hai triều đại này.

- Đến thời Hậu Lê, Nho giáo giành được địa vị chính thống và trở thành hệ tư tưởng chính trị - pháp lí chính thống của nhà nước phong kiến Việt Nam.

=> Nho giáo trở thành khuôn mẫu để giai cấp phong kiến xây dựng các thiết chế chính trị và luật pháp.

1.2 Nội dung

Nội dung cơ bản của Nho giáo phát triển suốt hơn 2000 năm nay là

về Ngũ luân (các quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bè

bạn) và Ngũ thường (năm đạo ăn ở của con người phải có: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín ) Bên canh đó, Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"

và Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: Công - Dung

- Ngôn - Hạnh Ngoài ra còn có các quan điểm chính trị - pháp lý cơ bản:

- Đầu tiên, quan điểm Thiên mệnh của Nho giáo trời chọn ra người thông minh, tài đức trong thiên hạ để thay trời cai trị nhân dân, được

Trang 4

gọi là Thiên tử (con vua) Quan điểm trên đã thần bí hóa vương quyền, làm cơ sở cho sự kết hợp giữa hai thế lực thần quyền và vương quyền để cai trị nhân dân và cũng là cơ sở để hạn chế quyền lực của nhà vua.

- Quan điểm Tôn quân quyền đề cao địa vị độc tôn và thiêng liêng của nhà vua “Trời không có hai mặt trời, trăm họ không có hai thiên tử” Chính vì vậy, nhà vua có quyền lực tối cao không ai sánh bằng, nắm trong tay cả “vương quyền” và “thần quyền”.

- Quan điểm chính danh hàm chứa ba yếu tố đối với mỗi cá nhân trong quyền lực nhà nước: Địa vị đạt được phải xứng đáng, địa vị phải tương xứng với đạo đức, danh nào thì phận nấy Bên cạnh đó, quan điểm chính danh cũng xác lập trật tự trên dưới Quan điểm chính danh là điểm mấu chốt để tạo nên một xã hội có trật tự, kỷ cương, thái bình, thịnh trị.

- Quan điểm Pháp tiên vương cho rằng các đời vua nên nghe theo các phép cũ của ông cha Chính quan điểm này đã gây ra sự trì trệ, bảo thủ cho bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam do hạn chế đi sự đổi mới trong đường lối cai trị.

=> Từ những quan điểm trên, có thể thấy các triều đại phong kiến Việt Nam chủ trương đường lối Đức trị, đề cao việc tu thân, giáo hóa nhân dân bằng lễ, nhạc còn hình pháp chỉ là bổ trợ Do đó, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam cũng xuất phát từ tư tưởng Nho giáo để xây dựng lối cai trị của mình

1.3 Ảnh hưởng của Nho giáo vào quá trình hình thành và phát triển nhà nước phong kiến Việt Nam:

a) Đến quá trình phát triển Nhà nước

- Nho giáo được sử dụng thành công cụ trị nước suốt chiều dài lịch sử

Tư tưởng Nho giáo nước ta được chia làm 3 thời kì:

 Thời kì Bắc thuộc: Nho giáo xâm nhập như một âm mưu đồng hóa dân ta của tộc Hoa Hạ phương Bắc Do vậy ở thời kì này dân ta tiếp thu Nho giáo chậm chạp

 TK X – XV: giai cấp quý tộc phong kiến chủ động tiếp thu Nho giáo qua hoạt động giao thương, buôn bán, trao đổi hàng hóa với Trung Hoa nhưng chưa đáng kể mà vẫn còn đậm nét văn hóa truyền thống dân tộc Việt.

 TK XV – XIX: Các triều đại từ nhà Lê đến nhà Nguyễn đã dựa vào tư tưởng Nho giáo để tuyển lựa và chấn chỉnh bộ máy quan lại, dùng cương thường đạo lý, tập quán tông pháp để chuẩn mực hóa hành

vi của nhân dân.

b) Đến pháp luật

- Pháp luật truyền thống của Việt Nam có sự tương đồng với các quốc gia đồng văn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên do ảnh hưởng lớn

từ tư tưởng trị nước của đạo Khổng Pháp luật Khổng giáo chủ yếu

Trang 5

trị dân qua lễ và hình Lễ là tiết chế lòng dân, hình là để ngăn chặn điều xấu Các triều đại phong kiến Việt Nam cũng tiếp nhận và sáng tạo dựa trên những yếu tố ấy.

- Tiêu biểu là bộ Quốc triều thời Lê Sơ - công cụ củng cố nhà nước trung ương tập quyền dựa trên chế độ vương quyền của Nho giáo.

- Dựa trên cơ sở Tam cương, Ngũ thường, Luật Hồng Đức điều chỉnh tất cả những mối quan hệ nhân thân và tài sản của gia đình, các đạo lý làm chồng, làm vợ và làm con nhằm bảo vệ chế

độ tông pháp.

- Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển pháp luật phong kiến Việt Nam chưa từng có bộ luật nào áp dụng một cách xuất sắc những nguyên tắc trị nước Nho giáo mà sáng tạo và tiến bộ như Luật Hồng Đức.

- Tư tưởng đạo đức Nho giáo thời kì này đã ăn sâu vào đời sống chính trị, pháp luật Đại Việt.

2 Tư tưởng pháp trị

2.1.Khái quát:

- Là học thuyết chủ trương dùng pháp luật cai trị xã hội, trị quốc

an dân, là sáng tạo của người Trung Hoa; ra đời trong thời kì Xuân thu - Chiến quốc.

- Nhà tư tưởng của pháp trị được cho là Hàn Phi (281 – 233 TCN) Pháp trị là việc vua (hoặc giới cầm quyền) có quyền ban hành pháp luật, mặc dù pháp luật được mọi người tuân theo một cách tuyệt đối nhưng việc ban hành pháp luật lại dựa trên sự độc đoán của nhà vua.

- Hàn Phi cho rằng để pháp luật có thể cai trị đất nước cần phải

có ba yếu tố: Pháp, Thế và Thuật.

+ Pháp: Sử dụng pháp luật là công cụ trị nước, pháp luật phải phù hợp với xã hội, “Cũng theo Hàn Phi, đã đặt ra pháp luật thì từ trên xuống dưới, từ sang đến hèn bất cứ ai cũng phải tuân theo pháp luật, cũng bình đẳng trước pháp luật”

+ Thế: Có pháp luật tốt, nhà vua phải củng cố được địa vị, củng

cố được quyền lực so cho pháp luật được thi hành.

+ Thuật: Để bảo đảm uy quyền và việc thực thi pháp luật, nhà vua cần phải có những phương pháp “điều khiển quan lại, buộc họ phải tuân thủ pháp luật, bảo vệ pháp luật, ngăn ngừa quan lạm dụng pháp luật”

2.2 Tư tưởng pháp trị trong việc hình thành và pháp triển của nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam.

Trang 6

- Xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam,

ta đã giành lại được chủ quyền và độc lập sau gần 1000 năm Bắc thuộc Từ đó, các học giả đã cho rằng chính tư tưởng yêu nước

truyền thống và độc lập tự chủ là yếu tố quyết định cho sự phát triển của Việt Nam.

- “Nếu như tình yêu nước là hiện tượng tâm lý, tình cảm phổ biến trong mọi xã hội đã xuất hiện nhà nước, không phân biệt giai cấp, không mang tính tư tưởng hệ thì tư tưởng yêu nước, chủ nghĩa yêu nước, đặc biệt là chủ nghĩa dân tộc lại mang tính ý thức hệ, là lý luận của tầng lớp tinh hoa về quốc gia, dân tộc.” Tư tưởng ấy cũng có một quan hệ mật thiết với tư tưởng pháp lí chính thống của nước Việt Nam thời kỳ phong kiến Từ thuở đầu dựng nước, hệ thống luật pháp chưa được xây dựng một cách rõ ràng và phát triển, nhà vua vừa là người đặt ra luật vừa là người có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm bất kì quan lại vì vậy có thể coi rằng nhà vua chính là luật pháp Do đó trong suốt thời kỳ phong kiến, trung quân ái quốc luôn được đặt lên hàng đầu Bên cạnh đó còn phải biết đặt quyền lợi của dân tộc, của quốc gia lên trên quyền lợi của gia tộc, dòng họ

a) Đến quá trình phát triển Nhà nước

- Trải qua hơn 1000 năm dưới ách thống trị của các triều đại Trung Quốc, những tư tưởng pháp trị dần được dân tộc Đại Việt tiếp nhận Tư tưởng pháp trị đã có sức ảnh hưởng lớn ngay từ những năm đầu tiên của các triều đại Ngô - Đinh - Tiền Lê cho đến những năm cuối cùng triều đại nhà Nguyễn trong việc xây dựng và hình thành đất nước.

- Tiếp thu kiến thức từ các triều đại trước, triều Hậu Lê đã có những nhận thức về tầm quan trọng trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước, đồng thời thấy được vai trò của nhà nước trong việc xây dựng pháp luật, bảo vệ quyền lợi Nhân dân:

+ Nhà nước phải đưa ra những chính sách có lợi cho dân.

+ Nhà nước phải ý thức được rằng cuộc sống nhân dân phải đầy

đủ, phải được ưu tiên, cần phải có những bảo đảm dân không phải chịu khổ, chịu đói, chịu rét, “Để dân được no ấm, cần bớt sự trưng thuế và cung ứng”.

- Ngoài ra, thời kì Hậu Lê còn nhận thức được sâu sắc vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm sự công khai, minh bạch của pháp luật, pháp luật phải phù hợp với đời sống xã hội, phải phù hợp với đạo đức, “Người ta sở dĩ khác giống cầm thú là vì có lễ để phong giữ Nếu không có lễ thì bừa bãi tình dục, phóng đãng xằng bậy, không gì không làm”.

- Sang triều đại cuối cùng của lịch sử phong kiến Việt Nam,

tư tưởng pháp trị được đề cao, kết hợp với tư tưởng đức trị, nhà

Trang 7

Nguyễn đã xây dựng một nền quân chủ chuyên chế với trung tâm quyền lực là nhà Vua Xét về mặt hạn chế và kiểm soát quyền lực nhà nước, triều Nguyễn có phần hoàn thiện hơn so với triều Hậu Lê Đặc biệt, ở triều Nguyễn còn có Tam pháp ty (gồm Đại lý tự phụ trách việc xét xử, Đô sát viện phụ trách việc kiểm sát và các bộ) có trụ sở ở Công chính đường, thực hiện chức năng trình đơn và phân bố việc thi hành cho các cơ quan tương ứng 10 Ngoài những cơ quan trên còn

có những cơ quan cấp địa phương có vai trò đóng góp, giúp việc cho nhà vua.

b) Đến quá trình phát triển pháp luật

- Dưới sự cai trị của nhà Hậu Lê, triều đại có đời sống pháp

lý phong phú nhất Trong cuộc sống, luật đã được phát huy tối đa

Hệ thống ban hành văn bản quy phạm pháp luật chiếm một số lượng đáng kể dưới các hình thức khác nhau, bao gồm: Bộ Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức, 1428), bộ Luật thư do Nguyễn Trãi biên soạn (1440), Bộ Lê triều quan chế (1471), Thiên Nam dư

hạ tập (1483), cùng hàng trăm văn bản pháp luật đơn hành như chiếu, chỉ, dụ, sắc, lệnh của nhà vua được ban hành, cùng hàng trăm văn bản luật lệ như ghế, đạo, chỉ, dụ, vua.

- Đến thời Lê sơ sau này, trong đời sống pháp luật đã thực sự trở thành công cụ quản lý đất nước, phương tiện cao nhất bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân và trật tự xã hội Các quy tắc quản lý xã hội và phong tục tập quán của dân tộc thời kỳ này vẫn đang được dung hòa bằng quy luật Tính công khai luôn phải được bảo đảm bởi nhà nước, tính minh bạch của luật pháp, luật pháp phải luôn được xây dựng phù hợp với đạo đức, và nó phải là công

cụ để bảo vệ đạo đức Luật Cơ bản Hậu Lê quy định các chức vụ chính thức dưới hai hình thức: một là chức vụ chính thức, hai là trách nhiệm pháp lý Chính trực, siêng năng, công bằng là điều cán

bộ luôn phải có trong quá trình thi hành công vụ, đồng thời phải chuẩn bị cho những hậu quả nếu vi phạm pháp luật Đề cao vai trò của nhà nước trong việc tổ chức thực thi pháp luật và bảo vệ lợi ích của nhân dân Vì vậy, các chính sách quốc gia có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mục tiêu đạt được thịnh vượng và hòa bình cho người dân.

- Là triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, nhà Nguyễn đã thiết lập một hệ thống chính trị với hệ thống luật pháp quy mô trên tinh thần kế thừa những thành tựu của các triều đại trước Nhà Nguyễn rất coi trọng công tác lập pháp, tiêu biểu có thể kể đến như: Bộ Hoàng Việt luật lệ (1815), Hội điển toát yếu (1833), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1843-1855) Triều đại

Hệ thống pháp luật đặt nền móng cho quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội Trong quản lý xã hội chú trọng sự kết hợp giữa

Trang 8

khái niệm nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền Theo quan điểm của Vương triều, luật pháp và hệ thống hình phạt của

nó không chỉ để "giáo dục kẻ ác" và "loại bỏ lòng tham", mà còn

để hạn chế hành vi của quân vương và các quan đại thần Trong lĩnh vực quan hệ pháp luật, Bộ luật Gia Long được đánh giá là chưa kế thừa đầy đủ những tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức, những tinh thần nhân đạo vẫn được thể hiện rõ ràng, kết hợp pháp quyền với đạo đức, thuần phong mỹ tục dân tộc Trong lĩnh vực tố tụng, luật triều Nguyễn chuyên xử lý toàn bộ các vụ án từ thụ lý, điều tra, xem xét, giam giữ, xét xử, thi hành án đều thuộc thẩm quyền của tòa án Làm rõ các thủ tục bắt, giam, xét hỏi, xét xử và thi hành án Nâng cao vai trò của thực thi pháp luật: Để pháp luật thực

sự có hiệu lực, pháp luật phải được sử dụng một cách hợp lý, và người sử dụng pháp luật cần có một mức độ linh hoạt nhất định Đối tượng của hình phạt phải là đúng người phạm tội, và trách nhiệm phải được đặt trực tiếp vào người phạm tội Bảo vệ lợi ích của người dân Pháp luật là đại lượng cơ bản hạn chế, hạn chế và kiểm soát quyền lực nhà nước, so với thời Hậu Lê, việc chế định

và thực hiện quyền lực của nhà Nguyễn triệt để hơn, hệ thống hoàn thiện hơn.

=> Qua các triều đại trong lịch sử phong kiến Việt Nam, tuy không hoàn toàn giống nhau trong đường lối và chính sách cai trị nhưng chung quy lại

đã ít nhiều đã thể hiện tư tưởng đề cao pháp trị trong việc hình thành và phát triển nhà nước và pháp luật.

3 Tư tưởng từ bi hỷ xả của đạo Phật

3.1 Khái quát

- Định nghĩa

 Từ: là tình thương, là lòng từ ái, thương ở đây là cả thương ta và thương người, thương cả vạn vật và vì mến thương mà chúng ta tạo ra cái vui cho người, lan tỏa và cảm hoá những trái tim lầm lỗi trở về thiện tâm.

 Bị: là buồn, buồn vì cái buồn của người khác, khổ vì cái khổ của người khác.

 Hỷ: là vui do cái vui của người khác, lấy cái vui đó làm cái vui cho ta.

 Xả: là trạng thái của tâm, khiến cho giữa ta và toàn thể chúng sinh và vạn vật không còn sự riêng biệt chia cách vạn vật, chúng sinh cùng với ta là đồng nhất thể.

- Đạo Phật được truyền bá vào nước ta từ rất sớm theo hai con

đường: từ Trung Quốc xuống và từ Ấn Độ sang Đạo Phật được truyền bá vào nước ta từ đầu Công nguyên và đến thế kỉ II, ở Việt Nam đã có tổ chức tăng đoàn và chùa tháp

Trang 9

3.2 Tư tưởng từ bi hỉ xả của đạo Phật trong việc hình thành và pháp triển của nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam.

a) Đến quá trình phát triển Nhà nước

- Có sự xuất hiện các chức tăng quan trong triều đình Cụ thể, dưới triều nhà Đinh, Lịch triều hiến chương loại chí ghi chép: “Đinh Tiên Hoàng lại định giai phẩm các tăng và các đạo sĩ, có các danh hiệu đại

sư, tăng lục, đạo sĩ, sùng chân uy nghi, như Tăng thống Ngô Châu Lưu thì cho hiệu là Khuông Việt đại sư, thì cho chức Sùng chân uy nghi” Theo chú giải của sử sách cổ, Tăng thống là chức quan phong chi vị sư

mà triều đình coi là người đứng đầu Phật giáo trong cả nước, “Tăng lục” là chức quan trông coi Phật giáo nhưng dưới chức tăng thống và cũng do cao tăng đảm nhận, Sùng chân uy nghi là chức quan trông coi

về đạo giáo, do đạo sĩ đảm nhận Điều đó thể hiện được Phật giáo đã bắt đầu có những vị trí trong chính quyền thời phong kiến Các vị tăng quan rất được triều đình coi trọng và trọng dụng, họ được tham gia trực tiếp vào việc bàn luận chính trị với nhà vua và các quan văn, quan võ trong triều.

- Dưới thời Lý, sư Vạn Hạnh góp phần đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sư Đa Bảo, rất nhiều lần được vua Lý Thái Tổ mời vào cung để bàn việc nước, quốc sư Viên Thông thường được vua Lý Thần Tông hỏi

về các lẽ hưng vong bi loạn và được di chiếu phó thác các việc và các tăng quan này được ví như cố vấn đặc biệt cho nhà vua.

- Dưới thời Lê, sư Đỗ Pháp Thuận được nhà vua trọng dụng trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại Có thể thấy được, tư tưởng Phật giáo rất được chính quyền phong kiến coi trọng, các vị vua ở thời đại này cũng

tu hành theo tư tưởng Phật giáo.

b) Đến quá trình phát triển pháp luật

- Tư tưởng từ bi hỷ xả đã góp phần “xoa dịu” sự hà khắc, dã man trong các hình phạt Như thời Đinh, Tiền Lê thường nuôi hổ và đặt những vạc dầu để xử phạt những ai vi phạm luật lệ, những người vi phạm sẽ bị đem cho hổ ăn hoặc bỏ vào vạc dầu để nấu Nhưng đến thời

Lý thì pháp luật chứa đựng tư tưởng từ bi hỉ xả của Phật giáo nên tinh thần khoan dung và nhân ái được đưa vào luật lệ.

- Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép: “Trước kia, trong nước việc kiện tụng phiền nhiễu, quan giữ việc hình câu nệ luật văn, cốt làm khắc nghiệt, thậm chí bị oan uổng Vua lấy làm thương xót sai trung thư sửa định luật lệnh châm trước cho thích dụng với thời bây giờ, chia ra môn loại, biên ra nhiều khoản làm sách hình luật của một triều đại” Vua thường lấy lòng khoan dung tha thứ cho những người vi phạm Thêm vào đó, luật pháp thời Lý còn chú ý tới người già, trẻ nhỏ, coi trọng công tác giáo dục.

Trang 10

4 Các tư tưởng truyền thống

- Tư tưởng chính trị - pháp lí truyền thống ở Việt Nam không chỉ bao gồm tư tưởng của nước mà còn bao gồm cả tư tưởng của làng Luận

án “Tư tưởng chính trị - pháp lí ở làng xã cổ truyền và ảnh hưởng của

nó đối với xã hội Việt Nam” của Lê Thị Việt Hương có đưa ra khái niệm về tư tưởng chính trị - pháp lý làng xã cổ truyền: “Tư tưởng chính trị - pháp lí ở làng xã cổ truyền là tổng thể những quan niệm của cộng đồng cư dân làng xã về quyền lực và pháp luật liên quan trực tiếp đến lợi ích của làng xã, được định hình, tồn tại trong không gian mỗi làng

xã và mang tính phổ biến, được thể hiện chủ yếu dưới dạng một hệ thống chuẩn mực xã hội trong đời sống chính trị - pháp lý thực tiễn của làng xã” Tư tưởng chính trị - pháp lí quyền xã cổ truyền gồm có:

- Tư tưởng tự trị - tự quản được hình thành bởi điều kiện kinh tế -

xã hội của làng xã, đặc điểm tự cấp, tự túc tạo nên sự biệt lập về xã hội Tính tự trị của làng xã được thể hiện tiêu biểu qua quyền sở hữu và phân chia ruộng đất công, cho dù sau đó xuất hiện chính sách ban cấp của nhà nước cho quan lại và người có công nhà nước cũng phải chấp nhận một thực tế là khi các làng xã khai báo về ruộng đất công đã giữ lại một phần để làm ruộng hậu thực hiện các việc chung trong làng hay ruộng đất khai hoang thêm cũng nằm ngoài quản lí.

- Tư tưởng trọng lệ hơn trọng luật: Tư tưởng này bao gồm những quan niệm của cộng đồng dân cư làng xã về bản chất, vai trò của lệ làng trong so với pháp luật Sự tồn tại của hương ước – hình thức văn bản hóa của lệ làng cũng được coi là lẽ tự nhiên và tất yếu của mỗi làng Cho dù được Nhà nước phong kiến thừa nhận hay ngăn cản, mỗi làng đều soạn hương ước riêng thể hiện mối quan hệ trong làng xã – tiêu biểu cho câu nói “phép vua thua lệ làng”.

- Tư tưởng lão quyền: Là tư tưởng sử dụng tuổi tác để phong chức tước, bậc vị Đề cao quyền của người già trong quản lý xã hội, tán thành phương thức trao quyền dựa trên tiêu chí tuổi tác và năng lực.

- Tư tưởng tộc quyền: Đề cao quyền lực của dòng họ Cụ thể xã hội Việt Nam, khi làng xã cổ truyền dòng họ vẫn tồn tại như những thực thể thống nhất có cấu trúc riêng với hệ thống điều chỉnh riêng, độc lập nhưng không đối lập với làng xã, thì tư tưởng tộc quyền vẫn còn cơ sở

để bảo lưu và phát triển.

- Tư tưởng địa vị quan liệu: Đề cao giá trị của cá nhân dựa trên vị trí trong xã hội Tư tưởng này là 1 yếu tố quan trọng trong hệ quan niệm chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền, tuy nhiên “địa vị” trong sự nhận thức, đề cao và hướng tới của người dân làng xã không nhất thiết là một chức vị sử dụng quyền lực nhà nước mà là bất cứ một vị trí xã hội nào

đó có thể gây ảnh hưởng đối với xã hội.

=> Tư tưởng chính trị - pháp lí làng xã cổ truyền là tư tưởng phi chính thống nhưng cũng tiếp thu nhiều yếu tố tư tưởng chính thống Tuy tư tưởng ấy

Ngày đăng: 27/01/2023, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp Luật Việt Nam /Trường Đại học Luật Hà Nội/ NXB Công ân Nhân Dân 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp Luật Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an Nhân Dân
Năm: 2017
6. Viện Sử học, Lê triều quan chế, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1997, tr. 13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê triều quan chế
Tác giả: Viện Sử học
Nhà XB: Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
7. Định nghĩa Tư - Bỉ - Hỉ - Xả, Thư viện hoa sen Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư - Bỉ - Hỉ - Xả
8. Giáo trình lịch sử, tư tưởng chính trị, pháp lý / Trường đại học kiểm sát Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử, tư tưởng chính trị, pháp lý
Tác giả: Trường đại học kiểm sát Hà Nội
10. Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam / Tập I /NXB.Giáo dục / Hà Nội 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam / Tập I
Nhà XB: NXB.Giáo dục
Năm: 1960
11. Đại Việt sử ký toàn thư / Ngô Sĩ Liên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w