1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Tâm lý học nghề nghiệp: Phần 2

52 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm Tâm lý của Học sinh, Sinh viên Học nghề
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học nghề nghiệp
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản N/A
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nối tiếp nội dung phần 1, phần 2 cuốn giáo trình Tâm lý học nghề nghiệp tiếp tục cung cấp tới người học kiến thức trọng tâm về: Tâm lý học sư phạm; Tâm lý học dạy nghề; Đặc điểm nhận thức của học sinh, sinh viên; Đặc điểm lao động sư phạm; Yêu cầu phẩm chất ngành Sư phạm;... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 2 giáo trình tại đây.

Trang 1

Chương 2 TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM

2.1 ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HSSV HỌC NGHỀ

Học sinh, sinh viên học nghề thường bao gồm những thanh niên đã tốt nghiệp phổ thông trung học, một số ít sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở có tham gia lao động

ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội hoặc vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự để được vào học các trường dạy nghề (độ tuổi khoảng từ 17 đến 20) Đó là những người ở

độ tuổi sung sức, có thể chất phát triển nhất trong cuộc đời

Quá trình học tập ở các trường dạy nghề đòi hỏi các em phải tách khỏi cuộc sống gia đình và gắn liền với tập thể trong mọi hoạt động từ học tập, sinh hoạt, ăn ở đến lao động, hội họp Vì vậy, trong mọi hoạt động, các em phải điều chỉnh các hành

vi, cử chỉ của mình cho thích hợp với cuộc sống tập thể Đó là thời kỳ chuẩn bị cho các em chuyển hóa từ học sinh dần dần thành những người lao động trong các tập thể lao động ở các ngành kinh tế và các lĩnh vực hoạt động xã hội Sau này, họ sẽ là những công nhân, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ trên mọi lĩnh vực: sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ, y tế của xã hội

2.1.1 Đặc điểm nhận thức

Do sự hoàn thiện của hệ thần kinh mà khả năng nhận thức của thanh niên học nghề rất phát triển Sự tiếp thu tri thức nghề nghiệp và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp được gắn liền với việc rèn luyện các phẩm chất đạo đức của thanh niên học nghề – những người lao động mới, người công dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tính chất và nội dung các môn học hoàn toàn thay đổi so với thời kỳ học phổ thông trước đó Các phương thức lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cũng hoàn toàn khác trước Điều đó không chỉ thể hiện ở số lượng, mức

độ sâu sắc của các sự kiện được nhận thức, mà còn ở chính bản thân các quá trình tâm

lý, các trạng thái tâm lý Các quá trình nhận thức như tư duy, tưởng tượng, chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ, cảm giác, tri giác và biểu tượng kỹ thuật của các em đã được phát triển với chất lượng mới Khả năng phân biệt màu sắc, ánh sáng, độ tinh của thính giác cũng như sự tri giác không gian tăng lên rất nhiều so với lứa tuổi trước Khả năng tập trung

và phân phối chú ý tăng lên rõ rệt nhờ sự ý thức được trong quá trình chú ý, nhờ khả năng tự kiềm chế mình Nhìn chung, thanh niên học nghề có có khả năng chú ý có chủ định tốt, nhưng cũng có hiện tượng vờ chú ý, một hiện tượng không có trong tuổi nhỏ

Tư duy của họ khá phát triển, đặc biệt là tư duy trừu tượng logic Ở họ cũng có khả năng tìm hiểu, tự học, tự quan sát các sự vật hiện tượng và rất nhạy cảm đối với các hành vi của những người xung quanh Nhờ khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh đã phát triển nên họ có khả năng nhìn ra những gì là chủ yếu, thứ yếu ở các đối tượng, các vấn đề đang được họ quan tâm Càng về cuối, tính độc lập trong học tập, trong rèn luyện càng được bộc lộ rõ hơn

2.1.2 Đặc điểm tình cảm, ý chí

Tuổi thanh niên học nghề là lứa tuổi đẹp nhất trong cuộc đời Chính vì vậy, ta thường gọi lứa tuổi này bằng một từ rất đẹp: tuổi xuân (tuổi thanh xuân) Đây là thời

Trang 2

yêu thích nghề nghiệp, yêu bạn bè, tình yêu nam nữ Nhìn chung, tình cảm ở họ thường nở rộ trên nhiều mặt

Thanh nên học nghề thường rất yêu đời và lạc quan Tình yêu cuộc sống thường làm cho họ nhìn thiên về mặt thuận lợi, mặt “hồng” của cuộc sống Họ thường xuyên xây dựng mơ ước của mình bẵng những thuận lợi, đẹp đẽ Ở họ, thường ít lường trước những khó khăn, vấp váp trong cuộc sống Nhưng cũng nhờ có sự yêu đời, lạc quan

mà ở thanh niên học nghề thường có một phẩm chất rất quý: đó là sự vươn tới phía trước, bất chấp những khó khăn thử thách, sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại để thực hiện mục đích đã được ý thức, đã được đặt ra

Đây cũng là lứa tuổi có nhiều bạn hơn các lứa tuổi khác Một mặt, do sự giao tiếp, do chưa có gia đình; mặt khác, do các loại hoạt động xã hội đa dạng của lứa tuổi trẻ mà ở họ dễ xây dựng và giữ lại tình bạn Trong đó, những thanh niên có xu hướng

xã hội rõ ràng, tế nhị trong giao tiếp, rộng lượng, ân cần giúp đỡ người khác và có tâm hồn phong phú thường là những người có nhiều bạn hơn những người khác Tình bạn của thanh niên học nghề chi phối và ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động cũng như sự hình thành nhân cách của họ Thanh niên học nghề cần có bạn và cần tình bạn, họ không thể sống một cách cô độc mà không có bạn Loại tình cảm này ở họ được xây dựng trên nhiều cơ sở khác nhau: có khi từ cùng sở thích và hứng thú, có khi từ sự tương hợp các nét tính cách, có khi từ sự giống nhau về năng lực, cùng quê hương… Nhìn chung, tình bạn ở họ được xây dựng với thái độ chân thành, dễ thấy Khi đã là bạn thân, họ thường tâm sự với nhau những điều thầm kín nhất, cùng hành động, giúp nhau khi hoạn nạn, san sẻ với nhau những lúc vui, lúc buồn

Do đặc điểm trên mà ở thanh niên học nghề, ta thường thấy tình bạn ở họ có nhiều biểu hiện cụ thể, dễ thấy Tình bạn đã làm cho họ hẹn gặp nhau trò chuyện, thư

từ cho nhau, đi chơi với nhau, ăn với nhau Những hành vi đó chúng ta thấy khá nhiều ở ngoài giờ lên lớp, người giờ thực tập ở trường Vì vậy, giáo viên cần giúp đỡ học sinh để họ xây dựng được tình bạn với mục đích chân chính Quan hệ bạn bè tốt đẹp phải là quan hệ bình đẳng, cùng giúp nhau học tập, tu dưỡng để tiến bộ Mọi sinh hoạt của các cặp bạn bè và các nhóm cũng phải theo hướng đó Chỉ có như vậy mới hạn chế được những lêch lạc trong tình bạn của các em

Trong thanh niên học sinh học nghề, còn có một loại tình cảm mới chớm nở nhưng khác hẳn thanh niên học sinh phổ thông là lòng yêu nghề Nhìn chung, lòng yêu nghề càng ngày càng được hình thành và phát triển đúng đắn trong quá trình học tập tại các trường dạy nghề và sau này khi trực tiếp tham gia lao động sản xuất Khi nguyện vọng của học sinh phù hợp với sự phân công công việc của tổ chức và khi thanh niên ý thức rõ ràng trách nhiệm của mình trước đòi hỏi của xã hội thì lòng yêu nghề có cơ sở để phát triển Nhờ có lòng yêu nghề mà học sinh yên tâm học tập, hăng say học tập và lao động, công tác cũng như tu dưỡng

Tuy nhiên, tình cảm nghề nghiệp này chỉ được xây dựng lành mạnh trên cơ sở

cá nhân có nhận thức đúng đắn Khi mới bước chân vào các trương nghề, lòng yêu nghề của học sinh có khi chưa được hình thành hoặc nếu mới chớm nở thì cũng chỉ mơ

Trang 3

hồ, chưa có cơ sở đúng hướng vì họ chưa thực sự bước vào nghề Sự đánh giá về nghề nghiệp thường là do dư luận xã hội và do những nhận thức sai lệch ở cùng lứa tuổi gây nên Mặt khác, họ thường có mơ ước vào học tiếp ở các trường Cao đẳng và Đại học Nhưng khi sự mơ ước không phù hợp với năng lực và trình độ hiện tại thì các em phải

đi vào trường dạy nghề Sự thất vọng thường bao trùm lên suy nghĩ làm cho các em không nhận ra được rằng nghề nào cũng cao quý trong xã hội là khi và chỉ khi nào con người làm nghề gì, việc gì phù hợp với khả năng, trình độ của mình thì người đó mới thật sự hạnh phúc Vả lại, con đường học tập và nghiên cứu của các em không phải đã chấm dứt khi bước vào các trường dạy nghề, con đường ấy vẫn mở ra cho các em và

xã hội vẫn chờ đón những điều đó ở thanh niên học nghề Tuy nhiên, không phải tất cả mọi thanh niên học nghề đều nhận thức được đầy đủ điều đó Do đó, việc bồi dưỡng

để có nhận thức đúng đắn về nghề đã học và xây dựng lòng yêu nghề là một yêu cầu rất quan trọng trong công tác giáo dục học sinh ở các trường dạy nghề Vì chỉ có yêu nghề, có hứng thú với nghề, học sinh học nghề mới say sưa học tập, lao động, tu dưỡng Từ đó, ở họ mới nảy sinh sự sáng tạo, tìm tòi và đi sâu vào ngành nghề mình học Và ngược lại, chỉ khi nào con người đi sâu vào nghề thì mới tìm thấy cái hay, cái hấp dẫn ở đó Do đó, lòng yêu nghề làm cho con người đi sâu vào nghề hơn và cũng nhờ quá trình tìm tòi, đi sâu vào nghề mà lòng yêu nghề càng có cơ sở để phát triển cao hơn nữa

Một loại tình cảm nữa cũng được hình thành và phát triển ở thanh niên học nghề là tình yêu nam nữ Ở thanh niên học nghề, tình cảm này thường có màu sắc đặc biệt: thơ mộng, thuần khiết và dễ dãi Họ thường mến nhau vì cùng chung lý tưởng, cùng sở thích, hứng thú và vì sự hấp dẫn bởi vẻ đẹp của con người cũng như các phẩm chất đạo đức Trong tình yêu, họ không tính toán đến mặt vật chất và ít lường thấy hết những khó khăn Tình yêu nam nữ ở lứa tuổi này cũng có nhiều mặt tốt Chẳng hạn, vì người mình yêu, vì những nhận xét tác động của bạn bè cùng lứa tuổi mà nam nữ thanh niên thường ý tứ, e dè trong sinh hoạt Tình yêu được nhận thức đúng cũng sẽ giúp các em học tập tích cực hơn, biết giúp nhau học tập và tu dưỡng tốt hơn Tuy nhiên, những mặt hạn chế thường xảy ra nhiều hơn, đặc biệt ở những thanh niên chưa thực sự trưởng thành Các em bỏ ra nhiều thời gian cho việc gặp gỡ, thư từ, cho việc chăm sóc bề ngoài của mình Hơn nữa, các em chưa thực sự bước vào cuộc sống lao động, chưa có đủ kinh nghiệm và kiến thức thực tế cần thiết để xây dựng tình yêu nên tình yêu ở các em thiếu cơ sở chắc chắn, thiếu sự cân nhắc kỹ lưỡng Cho nên, tình yêu trong họ thường khó thành công Điều đó đã làm tổn thương trong suy nghĩ, tình cảm

ở các em và gây ảnh hưởng không tốt tới học tập, lao động và tu dưỡng

Vì vậy, các giáo viên trong các trường dạy nghề cần làm cho học sinh nhận thức

rõ điều đó để các em có thể tập trung vào học tập, tu dưỡng, giúp các em có cơ sở để xây dựng tình yêu chân chính và tạo dựng cuộc sống hạnh phúc Biện pháp giáo dục phải tế nhị, tránh cấm đoán thô bạo, phải có thái độ tôn trọng tình cảm đó ở các em và

có tác động khéo léo để giáo dục các em tôn trọng các chuẩn mực đạo đức, không nên quá dễ dãi, buông lỏng trong tình cảm Đó cũng là trách nhiệm của những người đi

Trang 4

Một số nét ý chí của thanh niên học nghề như tính độc lập, tính kiên quyết hay lòng tự trong cao.v.v cũng được bộc lộ khá rõ nét Các em thể hiện sự vươn tới vị trí ngang bằng với người lớn ở sự tự chủ Các em tách mình ra khỏi những người ở lứa tuổi thấp hơn, cố gắng đặt mình trong hàng ngũ những người lớn, những người cùng tuổi Họ nhiều khi ngại ngùng khi đi cùng cha mẹ hoặc phải nghe cha mẹ hướng dẫn khi có những người lạ, những bạn bè cùng tuổi mới quen biết Họ muốn tự chủ trong mọi công việc Tính độc lập còn biểu hiện khá rõ nét ở việc phán đoán các hiện tượng xảy ra, trong việc quyết định hành động và trong việc biểu lộ các ý kiến, quan điểm của mình Nhờ ý thức bản ngã phát triển mà tính độc lập ở họ còn được biểu hiện ở sự

tự kiểm tra và sự tự đánh giá các hành vi ở chính bản thân mình Trong gia đình, tính độc lập biểu hiện rõ trong việc tự lo lắng và thu xếp công việc của bản thân và của những người thuộc lứa tuổi thấp hơn Thanh niên học nghề thường có ý kiến trái hẳn lại ý kiến của cha mẹ và điều đó thường gây ra sự “xung đột” trong quan hệ cha mẹ - con cái Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện thượng này là thanh niên học nghề có đặc điểm bồng bột, thẳng thắn và chân thành, những ý kiến của thanh niên thường có tính chất khẳng định, dứt khoát, họ cho rằng chỉ nên nói những điều mà mình nghĩ là đúng Một nguyên nhân nữa thường là sự không phù hợp giữa cách thức đối xử của cha mẹ với thanh niên, hầu như các bậc cha mẹ vẫn giữ cách tác động cũ khi thanh niên đã thay đổi hẳn so với tuổi thiếu niên

Thanh niên học nghề cũng thường rất quý trọng sự thẳng thắn, dũng cảm Đối với họ, sự thẳng thắn và dũng cảm dám nhận trách nhiệm, dám nhận khuyết điểm có sức thuyết phục rất lớn và họ đòi hỏi ở nhau trong giao tiếp, trong quan hệ tình bạn, trong công việc những nét tính cách này Họ cũng rất nhạy cảm với sự đánh giá của người khác, đặc biệt là nhận xét, đánh giá của những người cùng lứa tuổi và những người có uy tín Chính vì vậy, nhiều khi họ hành động theo nhận xét của bạn bè và theo sự khuyên bảo của những người mà họ quan niệm là “mẫu người” Do đó, giáo viên cần tạo ra các dư luận tập thể lành mạnh để giáo dục học sinh học nghề, mặt khác, giáo viên cần gương mẫu về mọi mặt để có uy tín tốt trước các em

2.1.3 Đặc điểm tính cách

Ở lứa tuổi này, thế giới quan được hình thành và phát triển khá rõ nét Thế giới quan là toàn bộ “bức tranh” về thế giới trong ý thức con người Nhờ việc tiếp thu hàng loạt các kiến thức khoa học và kỹ thuật khác nhau mà ở thanh niên học nghề có những quan điểm đúng về hiện thực

Lý tưởng của thanh niên học nghề cũng được hình thành khá rõ rệt, nhất là sau khi họ đã xác định được con đường lao động và học tập cho cả cuộc đời Sống để làm

gì, cho ai, đó là câu hỏi trả lời cho lý tưởng Do được sinh ra trong thời kỳ đổi mới của

xã hội nên thanh niên học nghề thường có khát vọng vươn tới lý tưởng cao đẹp ở hai loại mục tiêu: đó là xã hội tốt đẹp và những con người ưu tú có phẩm chất, năng lực kiệt xuất Niềm khát vọng vươn tới những điều đẹp đẽ, lớn lao thường có ảnh hưởng lớn hành vi của họ Những biểu hiện cụ thể trong học tập, tu dưỡng, công tác, lao động

ở trường nghề chính là các hành vi thiết thực phấn đấu cho lý tưởng Sự hi vọng dễ

Trang 5

nảy sinh, dễ xây dựng nhưng khi gặp trở ngại, thất bại thì nỗi thất vọng cũng dễ làm cho họ khó định hướng trở lại Đó là biểu hiện của sự bồng bột, thiếu chín chắn, thiếu kinh nghiệm, chưa từng trải trong việc xây dựng các ước mơ, hoài bão ở thanh niên học nghề

Sự hình thành thế giới quan và lý tưởng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo nên các niềm tin trong thanh niên học nghề Nhờ có những hiểu biết nhất định mà niềm tin của thanh niên học nghề đã có cơ sở Mặt tình cảm của niềm tin biểu hiện ở họ khá rõ nét: khi đã tin tưởng về một cái gì đó và được xác định là đúng đắn thì ở họ có những cảm xúc đặc biệt, đó là sự say sưa mang màu sắc lý tưởng Niềm tin của thanh niên học nghề dễ nhận thấy, không chỉ biểu hiện ở sự trao đổi, tranh luận mà còn biểu hiện

cụ thể ở sự hăng hái, nhiệt tình trong hành động của họ Sở dĩ như vậy là vì niềm tin ở thanh niên khá tuyệt đối và dứt khoát, ranh giới giữa cái tin và sự không tin biểu hiện khá rõ ràng Chính vì vậy, khi thanh niên học nghề đã tin vào cái gì, họ thường dốc hết tâm trí và hành động để thực hiện niềm tin ấy

Do đặc điểm của lứa tuổi, thanh niên học nghề thường có hứng thú riêng, trong

đó nổi bật lên là hứng thú nhận thức Họ là những người ham hiểu biết, cho nên, hứng thú của họ không chỉ bó hẹp trong việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn vượt ra xa khỏi phạm vi nghiên cứu

Do đặc điểm dễ nắm bắt những cái mới nên những giáo viên trong các trường nghề phải làm cho các em thấy được những cái mới nào là có lợi, là phù hợp và cái mới nào là có hại, là xa lạ với chúng ta Có nhận thức đúng về cái mới thì ở các em mới có hành động theo cái mới một cách đúng đắn Mặt khác, khi những biểu hiện lệch lạc trong việc tiếp thu và hành động theo cái mới đã nảy nở ở thanh niên học nghề, ta cần tìm hiểu để nắm được nguyên nhân xảy ra, mức độ thể hiện và phạm vi có hại của nó để tìm các biện pháp thích hợp uốn nắn họ

Một đặc điểm nữa là thanh niên học nghề rất thích hoạt động tập thể Họ thường có khuynh hướng muốn khẳng định khả năng của mình trước tập thể Họ thích giao thiệp rộng rãi và thích giao du với bạn bè Điều đó thể hiện khả năng hiếu động của tuổi trẻ Cho nên, những hoạt động tập thể thường có tác dụng khích lệ họ rất cao Bởi lẽ, thông qua các hoạt động này thanh niên học nghề mới được trải nghiệm, được thử thách, có kinh nghiệm, làm phong phú và cân bằng nhân cách của mình, năng lực

tổ chức, hoạt động tập thể của họ cũng được nâng cao, có bản lĩnh vững vàng hơn.v.v…

Vì vậy, các trường dạy nghề cần tổ chức các hoạt động tập thể có tính đa dạng, phù hợp với khả năng của thanh niên học nghề để cuốn hút các em như các hoạt động đáu tranh với các hiện tượng tiêu cực trong sinh viên, trong xã hội, các hoạt động thi đua nâng cao tay nghề hay các hoạt động nâng cao đời sống văn hóa tinh thần.v.v…

Nhìn chung, ở thanh niên học nghề có nhiều phẩm chất tâm lý tốt, nhân cách của các em cũng đã được định hình tương đối rõ nét Điều đó giúp chúng ta có thể phát huy các mặt này và từ đó, khắc phục các mặt nhược điểm vốn có của tuổi trẻ Tuy

Trang 6

kiện lịch sử và xã hội cụ thể Vì vậy, các đặc điểm này luôn thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử mặc dù trên cùng một lãnh thổ, một đất nước, cùng một chế độ xã hội Cho nên, việc giáo dục thanh niên học nghề cần tính đến những thay đổi của các đặc điểm tâm lý ở các giai đoạn lịch sử xã hội khác nhau và ở từng cá nhân cụ thể

2.2 ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG SƯ PHẠM VÀ YÊU CẦU VỀ PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA GVDN

2.2.1 Đặc điểm lao động sư phạm của người GVDN

Giáo viên dạy nghề là người làm công tác giảng dạy và giáo dục ở các cơ sở dạy nghề

+ Đối tượng lao động sư phạm của người GVDN là nhân cách người học nghề

Đó là con người đang trong thời kì chuẩn bị, đang ở buổi bình minh của cuộc đời mà xã hội tương lai mạnh hay yếu, phát triển hay trì trệ đều tuỳ thuộc vào nội dung và chất lượng của thời kì chuẩn bị này Thực chất nội dung của thời kì chuẩn bị này là hình thành những phẩm chất và năng lực của con người mới, đáp ứng được nhu cầu của xã hội đang phát triển Hoạt động chính của thầy giáo là tổ chức và điều khiển trẻ lĩnh hội, thông hiểu những kinh nghiệm, những tinh hoa mà loài người tích luỹ được và biến chúng trở thành những nét nhân cách của chính mình Không ai trong xã hội, ngay cả cha mẹ là bậc vĩ nhân đi nữa cũng không thể thay thế được chức năng của người thầy giáo

+ Công cụ lao động của người GVDN

Nghề thầy giáo làm nhiệm vụ dạy học, giáo dục mà công cụ chủ yếu của lao động sư phạm là nhân cách của chính mình

Trong khi thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục, thầy giáo dùng nhân cách của chính mình để tác động vào nhân cách của học sinh Đó là phẩm chất chính trị, sự giác ngộ về lí tưởng đào tạo thế hệ trẻ, lòng yêu nghề, mến trẻ, trình độ học vấn, sự thành thạo về nghề nghiệp, lối sống, cách xử sự và kĩ năng giao tiếp của thầy giáo

Đó là lí do mà K D Uxinkij đã khẳng định rằng người giáo viên phải: “dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”

Hơn nữa nghề đào tạo con người lại là nghề mà lao động sư phạm diễn ra rất nghiêm túc, không được phép tạo ra thứ phẩm chứ đừng nói gì là phế phẩm như ở một số nghề khác

Vì công cụ chủ yếu của lao động sư phạm của người thầy giáo là bản thân nhân cách của chính mình cho nên nghề thầy giáo đòi hỏi những yêu cầu về phẩm chất và năng lực rất cao Nhưng làm sao để có thể có được điều đó? Một giáo viên đã nêu ra câu hỏi rằng “Thế nào là một giáo viên tốt?” - Theo tôi để trở thành một giáo viên tốt, trước hết cần phải sống một cuộc sống chân chính, vẹn toàn nhưng đồng thời phải có

ý thức và kỹ năng tự hoàn thiện mình Tâm hồn của nhà giáo phải được bồi bổ rất nhiều để sau này có khả năng truyền lại gấp bội cho thế hệ trẻ Người giáo viên, một mặt là cống hiến, mặt khác họ như một thứ bọt biển phải thấm hút mình tất cả vào

Trang 7

mọi tinh hoa của dân tộc và thời đại, cuộc sống, khoa học rồi họ lại tiếp tục cống hiến những tinh hoa này cho trẻ

+ Nghề sư phạm là nghề tái sản xuất sức lao động

Để tồn tại, phát triển, xã hội loài người phải sản xuất, tái sản xuất ra đồ vật nhằm sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần Cần chú ý đến sức lao động Sức lao động chính là toàn bộ sức mạnh vật chất hay tinh thần ở trong mỗi con người, cái nhân cách sinh động mà chủ thể cần phải có để sản xuất ra sản phẩm vật chất hay tinh thần có ích cho xã hội Cho nên, chức năng của giáo dục chính là bồi dưỡng, phát huy sức mạnh đó ở trong con người và thầy giáo là lực lượng chủ yếu trong việc tạo ra sức lao động xã hội đó

Những sức mạnh tinh thần đó là truyền thống yêu nước, bất khuất, ý chí kiên cường, tình thương đồng bào, đồng loại, đức tính cần cù, sáng tạo, tri thức, năng lực

để làm chủ thiên nhiên, xã hội và bản thân, lòng yêu lao động, lao động có tổ chức, có

kỹ thuật, năng xuất cao v.v

Tác động giáo dục tạo ra sức mạnh không phải ở dạng giản đơn cũng không phải “một vốn bốn lãi” mà có lúc đã tạo ra được những hiệu quả không lường Có lẽ đây là lí do mà người ta cho rằng đầu tư cho giáo dục là loại đầu tư có lãi nhất, sáng suốt nhất Để làm rõ cho ý kiến này ta hãy tiếp xúc với một dẫn chứng Trong một cuộc hội thảo nọ, khi bàn về sự giàu có của một đất nước, có nhiều ý kiến nêu ra những căn cứ khác nhau Có người cho rằng cần dựa vào tài nguyên, khoáng sản như dầu mỏ, kim cương, vàng v.v Có ý kiến khác lại cho rằng phải dựa vào thu nhập bình quân tính theo đầu người Có ý kiến khác lại cho rằng phải lấy số lượng chuyên gia làm căn cứ Nhưng trong số những ý kiến nêu ra thì ý kiến cho rằng dựa vào trình

độ dân trí của người lao động là có căn cứ khoa học nhất Họ lập luận rằng, chúng ta đang sống trong thời đại cuả cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai Do đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này quy định mà ngày càng dẫn đến sự thay đổi vị trí của người lao động sản xuất Nếu như trước đây, người lao động phải dùng chủ yếu là năng lượng cơ bắp để gia công nhằm tạo ra vật phẩm cho xã hội thì ngày nay vị trí đó được thay thế dần bằng các thao tác của máy móc, và như vậy người lao động từ vị trí là của người gia công nay đã ở vị trí là người chỉ huy quá trình gia công Công việc chính của họ là dùng “năng lượng thần kinh” để “bấm nút”, lập chương trình cho máy móc gia công tạo ra sản phẩm cho xã hội Nói cách khác, họ lao động chủ yếu bằng sức mạnh tinh thần, sức mạnh trí tuệ Không thể có sự chối cãi

gì khi cho rằng nhà trường, thầy giáo là nơi, là người tạo ra sức mạnh đó theo phương thức tái sản xuất mở rộng sức lao động

+ Nghề sư phạm vừa mang tính khoa học, tính nghệ thuật

Nghề sư phạm đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và sáng tạo cao trong hoạt động của người giáo viên Ai có ở trong nghề thầy giáo, có làm việc với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp cao thượng thì mới cảm thấy hết ý nghĩa của lao động sư phạm qua một giờ giảng trong khuôn khổ nhà trường Dạy học sinh

Trang 8

không phải khó nhưng dạy sao cho các em biết con đường đi đến chân lí, nắm được phương pháp, phát triển trí tuệ v.v mới là công việc đích thực của ông giáo

Quan niện công việc của nhà giáo như vậy và yêu cầu họ thực hiện chức năng

xã hội của mình theo yêu cầu đó thì nó đòi hỏi tính khoa học cao và tính khoa học cao đến mức khi thể hiện mình như một người thợ cả lành nghề, một nghệ sỹ, một nhà thơ của quá trình sư phạm

+ Nghề sư phạm là nghề lao động trí óc chuyên biệt

Lao động trí óc có hai đặc điểm nổi bật: 1) Lao động trí óc đòi hỏi phải có một thời kì khởi động như là việc lấy đà trong thể thao, nghĩa là thời kì để cho lao động đi vào nền nếp, tạo ra hiệu quả Người công nhân đứng máy sau một thời gian ngắn cho

ra sản phẩm nhưng người lao động trí óc phải suy nghĩ trăn trở đêm ngày, có khi trăn trở hàng tháng cho việc làm ra sản phẩm Lao động của nhà giáo cũng có tính chất như vậy, nhất là khi giải quyết một tình huống sư phạm phức tạp và quyết định; 2) Lao động trí óc có “quán tính” của trí tuệ Người giáo viên có lương tâm và trách nhiệm với nghề luôn suy nghĩ nhằm tìm ra các biện pháp tác động có hiệu quả tới sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ

Do những đặc điểm của lao động trí óc chuyên nghiệp như trên cho nên công việc của nghề thầy giáo không hẳn đã bị đóng khung trong không gian lớp học cũng như thời gian qua tám giờ vàng ngọc xác định mà ở khối lượng, chất lượng của tính sáng tạo của công việc Công việc tìm tòi một luận chứng, cách giải một bài toán, xác định một biện pháp sư phạm cụ thể trong một hoàn cảnh sư phạm nhất định trong thao tác sư phạm của giáo viên nhiều khi có tính quá trình để bừng hiểu - bừng phát

ra cũng giống như trường hợp “Eureca” của Acsimet vậy

Tóm lại, thông qua phân tích những đặc điểm lao động sư phạm, chúng ta thấy đặt ra nhiều đòi hỏi về phẩm chất và năng lực của người giáo viên Điều này càng minh chứng cho tính khách quan trong yêu cầu đối với nhân cách nhà giáo dục

2.2.2 Yêu cầu về phẩm chất và năng lực sư phạm của người GVDN

a) Yêu cầu về phẩm chất của người giáo viên

+ Thế giới quan khoa học trong nhân cách người giáo viên: Thế giới quan khoa học giúp cho người thầy nhìn nhận, đánh giá đúng thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy trong mối liên hệ biện chứng và là cơ sở hình thành niềm tin và các giá trị nhân văn khác

Thế giới quan là yếu tố tâm lý quan trọng trong cấu trúc nhân cách Nó không những quyết định nội dung của niềm tin chính trị mà còn quy định toàn bộ hành vi cũng như sự ảnh hưởng của thầy giáo đối với trẻ

+ Lý tưởng: Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ là hạt nhân trong cấu trúc nhân cách

người thầy giáo Lý tưởng được coi như là “ngôi sao dẫn đường” giúp cho thầy giáo luôn đi lên phía trước, thấy hết được giá trị lao động của mình đối với thế hệ trẻ Mặt khác, lý tưởng của thầy giáo cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách học sinh

Trang 9

Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ của người thầy giáo biểu hiện ra ngoài bằng niềm say mê nghề nghiệp, lòng yêu trẻ, lương tâm nghề nghiệp, sự tận tụy hy sinh với công việc, tác phong làm việc cần cù, trách nhiệm, lối sống giản dị và chân tình v.v… Những cái đó sẽ tạo nên sức mạnh giúp thầy vượt qua mọi khó khăn về tinh thần và vật chất, hoàn thành nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam Những cái đó cũng sẽ để lại những dấu ấn đậm nét trong tâm trí học sinh, nó có tác dụng hướng dẫn, điều khiển quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ

Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ không phải là cái gì có sẵn, cũng không phải cái gì

có thể truyền từ người này sang người khác bằng cách áp đặt Trái lại, sự hình thành

và phát triển là một quá trình hoạt động tích cực trong công tác giáo dục Chính trong quá trình đó, nhận thức về nghề càng được nâng cao, tình cảm nghề nghiệp ngày càng được hình thành sâu sắc

Vì tác dụng to lớn và tầm quan trọng của lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ trong nhân cách người thầy giáo như vậy nên mọi việc làm trong trường sư phạm đều phải nhằm xây dựng lý tưởng nghề nghiệp cho giáo sinh Nếu trường sư phạm không giáo dục lý tưởng nghề nghiệp cho giáo sinh thì cũng như A.X Macarencô đánh giá là “không giáo dục gì hết”

+ Lòng yêu người: Lòng yêu người, mến trẻ là một trong những phẩm chất đạo

đức của con người, một phẩm chất đặc trưng trong nhân cách người thầy giáo vì lòng thương người đó là đạo lý của cuộc sống Ở người giáo viên, lòng thương người, yêu trẻ càng sâu sắc bao nhiêu thì họ càng làm được nhiều việc bấy nhiêu Để khẳng định

ý nghĩa to lớn của tình thương người, lòng yêu trẻ trong nhân cách người thầy giáo, V.A.Xukhômlinxkij một giáo viên công huân của Liên Xô trước đây (1918-1970) thông qua sự trải nghiệm của mình đã viết: “Tôi nghĩ rằng đối với một nhà giáo dục điều chủ yếu là tình người, đó là nhu cầu sâu sắc trong con người Có lẽ những mầm mống của hứng thú sư phạm là ở chỗ hoạt động sáng tạo đầy tình người để tạo ra hạnh phúc cho con người Đó là một điều vô cùng quan trọng Vì khi tạo ra nềm vui cho người khác, cho trẻ thơ thì ở họ sẽ có một tài sản vô giá đó là tình người mà tập trung là sự nhiệt tâm, thái độ ân cần và chu đáo, lòng vị tha”

Lòng yêu trẻ của thầy giáo được thể hiện một cách sâu sắc ở thái độ, ánh mắt, hành vi và thái độ trong hoạt động sư phạm

Lòng yêu trẻ còn được thể hiện trong thái độ quan tâm đầy thiện chí và ân cần đối với trẻ, kể cả đối các em học kém và vô kỷ luật Người thầy giáo có lòng yêu thương trẻ lúc nào cũng thể hiện tinh thần giúp đỡ họ bằng ý kiến hoặc hành động thực tế của mình một cách chân thành và giản dị Đối với họ không bao giờ có thái độ phân biệt đối xử dù có những em chưa ngoan hoặc chậm hiểu

Tuy nhiên, lòng yêu trẻ của người thầy giáo không thể pha trộn với những nét

uỷ mị, mềm yếu, thiếu đề ra yêu cầu cao và nghiêm khắc đối với trẻ mà ngược lại

Trang 10

Tóm lại, có thể nói rằng bí quyết thành công của người thầy giáo xuất sắc là bắt nguồn từ một thứ tình cảm vô cùng sâu sắc - đó là tình yêu trẻ Khẩu hiệu các trường học hiện nay ở nước ta “Tất cả vì học sinh thân yêu” cũng là xuất phát từ tình cảm đó

+ Lòng yêu nghề: Lòng yêu trẻ và yêu nghề luôn gắn bó chặt chẽ và đan xen

vào nhau Càng yêu người bao nhiêu càng yêu nghề bấy nhiêu, có yêu người giáo viên mới có cơ sở để yêu nghề Không có lòng thương người, yêu trẻ thì người giáo viên khó mà tạo ra cho mình những động lực mạnh mẽ để suốt đời phấn đấu vì lý tưởng cách mạng và lý tưởng nghề nghiệp

Người thầy giáo là người luôn nghĩ đến việc cống hiến cho sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ của mình Trong công tác giảng dạy và giáo dục, họ luôn luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, luôn luôn cải tiến nội dung và phương pháp đào tạo, không

tự thoả mãn với trình độ hiểu biết và tay nghề của mình Họ thường có niềm vui khi được giao tiếp với học sinh Sự giao tiếp này sẽ làm phong phú cuộc đời người thầy giáo, càng làm cho họ có nhiều cảm xúc tích cực và niềm say mê nghề nghiệp

Có thể nói rằng, chỉ có người giáo viên nào mà họ hiến cả cuộc đời mình cho

sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ, lấy việc hy sinh, phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ đào tạo con người mới làm hạnh phúc cao cả của cuộc đời mình thì mới có thể thực hiện được chức năng “người kỹ sư tâm hồn” một cách xứng đáng

+ Một số phẩm chất đạo đức khác

Khác với các hoạt động khác, hoạt động sư phạm của người thầy giáo được thực hiện nhằm làm thay đổi nhân cách con người học sinh, do vậy mối quan hệ thầy trò được nổi lên như một vấn đề quan trọng nhất Nội dung, tính chất và cách xử lý mối quan hệ này có ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề dạy học Nếu người thầy giáo xây dựng được mối quan hệ tốt với học sinh sao cho qua đó, khơi dậy ở họ tính tích cực hoạt động thì chắc chắn chất lượng dạy - học sẽ được nâng cao Hơn nữa người thầy giáo, khi giáo dục học sinh không những bằng những hành động trực tiếp của mình

mà còn bằng tấm gương của cá nhân mình, thái độ và hành vi của chính mình đối với hiện thực

Để làm được điều đó, thầy giáo phải biết lấy những quy luật khách quan làm chuẩn mực cho mọi tác động sư phạm của mình đồng thời phải có những phẩm chất đạo đức và ý chí cần thiết Trong những phẩm chất đó, ta có thể nêu lên rằng những phẩm chất đạo đức và ý thức không thể thiếu ở người giáo viên Đó là tinh thần nghĩa

vụ, “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, thái độ nhân đạo, lòng tôn trọng, tính công bằng, lòng chính trực, tính ngay thẳng, sự giản dị và khiêm tốn, tính mục đích, tính nguyên tắc, tính kiên nhẫn, tính tự kiềm chế, kỹ năng biết tự chiến thắng với những thói hư tật xấu, kỹ năng điều khiển tình cảm, tâm trạng cho thích hợp với các tình huống sư phạm v.v

Những phẩm chất đạo đức này được coi được coi là nhân tố tinh thần quan trọng góp phần tạo ra sự cân bằng theo quan điểm sư phạm trong các môí quan hệ cụ thể giữa thầy và trò Những phẩm chất ý chí là sức mạnh để làm cho những phẩm

Trang 11

chất, năng lực của người thầy giáo được trở thành hiện thực và tác động sâu sắc đến học sinh

Sau đây ta sẽ xét những yếu tố hợp thành của các nhóm của năng lực sư phạm nghề của người giáo viên dạy nghề

+ Năng lực chuyên môn nghề

Bất cứ làm nghề gì đều đòi hỏi người lao động phải có năng lực chuyên môn của nghề đó Nội dung của năng lực chuyên môn ở từng nghề có sự khác nhau, nhưng cấu trúc của năng lực chuyên môn ở mọi nghề đều giống nhau Năng lực chuyên môn nghề

là năng lực quan trọng nhất của người dạy nghề, muốn trở thành GVDN nhất thiết phải

có năng lực này Đó chính là sự am hiểu sâu sắc, tường tận và vững vàng hệ thống tri thức lý thuyết của nghề, là năng lực cập nhật và làm chủ được những kiến thức, phát minh mới trong khoa học, công nghệ.v.v Đó cũng là tiêu chuẩn đầu tiên để tuyển chọn giáo viên dạy nghề, đồng thời cũng là yếu tố để phân biệt giáo viên dạy nghề với giáo viên phổ thông

+ Năng lực thực hành nghề

Nhiệm vụ chính của người GVDN không chỉ hướng dẫn, điều khiển quá trình lĩnh hội kiến thức chuyên mon nghề mà còn tham gia vào quá trình hướng dẫn, tổ chức cho học sinh học nghề luyện tập, rèn luyện để các em có được những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp

Năng lực thực hành nghề, bao gồm:

- Thực hiện thành thạo các kỹ năng của nghề được phân công giảng dạy;

- Thực hiện đúng kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động của nghề

+ Năng lực tổ chức, quản lý sản xuất

Ngoài hai yếu tố cơ bản đã phân tích ở trên, giáo viên cần phải có năng lực tổ chức sản xuất như: lập kế hoạch sản xuất, tính toán nguyên vật liệu, thiết bị sản xuất, chi phí sản xuất GVDN cũng phải có khả năng tiếp cận với thực tế, công nghệ sản xuất mới và hiện đại để đưa vào bài giảng Năng lực tổ chức, quản lý sản xuất, bao gồm:

- Lập được kế hoạch tổ chức sản xuất

- Tổ chức thành thạo lao động sản xuất, dịch vụ nghề được phân công giảng dạy;

Trang 12

.+ Năng lực dạy học

Là năng lực cốt lõi của GVDN Để tổ chức tốt quá trình dạy học, người GVDN

cần có những năng lực:

- Năng lực hiểu học sinh

Như ta đã biết rằng dạy học là một quá trình vận hành, thống nhất của hai loại hoạt động dạy và học do thầy và trò đảm nhiệm Trong quá trình đó, chức năng của thầy là tổ chức và điều khiển hoạt động học của trò, còn trò thì hành động để chiếm lĩnh nền văn hoá xã hội Dạy học chỉ có hiệu quả cao khi quá trình đó thực sự được điều khiển Kết quả của sự điều khiển một phần bị phụ thuộc vào “tần số” trao đổi thông tin giữa người dạy và người học Nói cách khác thầy càng hiểu trò, hiểu kịp thời bao nhiêu thì càng có được căn cứ khoa học để tổ chức và điều khiển quá trình dạy học và giáo dục của mình bấy nhiêu Vì vậy, năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục được xem là phẩm chất tâm lý quan trọng của năng lực sư phạm ở người giáo viên

Nhờ có năng lực này mà giáo viên biết “thâm nhập” vào thế giới bên trong của trẻ, có sự hiểu biết tường tận về nhân cách của chúng cũng như biết quan sát tinh tế những biểu hiện tâm lý của học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục

Nếu ở thầy giáo có năng lực hiểu học sinh thì khi chuẩn bị bài giảng sẽ biết tính đến mức độ văn hoá, trình độ phát triển của chúng để hình dung được từng em cái gì chúng biết, biết đến đâu, cái gì có thể quên hoặc khó hiểu Ở những giáo viên ít kinh nghiệm vì không biết đánh giá đúng trình độ học sinh nên đối với họ tài liệu nào cũng dường như cũng đơn giản, dễ hiểu và không đòi hỏi một thủ thuật trình bày đặc biệt nào Rõ ràng là đối với họ, tất cả học sinh đều như nhau Sự phân biệt cuả họ có chăng chỉ ở hai loại học sinh cố gắng hoặc lười biếng, học khá hoặc học kém Do đó, trong khi chế biến và trình bày tài liệu, họ đã chỉ hướng về mình chứ không phải hướng về học sinh Trái lại, người thầy giáo có kinh nghiệm khi chế biến và trình bày tài liệu lại biết đặt mình vào đúng vị trí của người học Bên cạnh đó, họ đặc biệt đã biết suy nghĩ về đặc điểm của nội dung mà xác định khối lượng kiến thức, mức độ khó khăn và hình thức trình bày sao cho thuận lợi nhất đối với học sinh

Vì vậy, năng lực hiểu học sinh của giáo viên sẽ biểu hiện ở chỗ, thầy biết xác định được khối lượng kiến thức đã có, mức độ, phạm vi lĩnh hội của học sinh và từ

đó, biết xác định mức độ, khối lượng kiến thức mới cần trình bâỳ trong công tác dạy học hay giáo dục Khi người thầy giáo có năng lực hiểu học sinh thì trong quá trình giảng dậy của mình sẽ biết căn cứ vào một loạt dấu hiệu do quan sát tinh tế để có thể xây dựng những biểu tượng chính xác về những lời giảng dạy của mình đã được những học sinh khác nhau lĩnh hội như thế nào Nhiều quan sát tâm lý cho thấy rằng khả năng hiểu học sinh trong quá trình dạy học của người thầy giáo được thể hiện trên hai mức độ Ở mức độ thấp, giáo viên có thể nhận biết được học sinh hiểu bài mới ra sao bằng cách đề ra câu hỏi, ra bài tập để học sinh làm, trả lời Ở mức độ cao hơn khi giáo viên có năng lực, ngay trong quá trình dạy học tựa hồ như đẵ nắm vững được phần nào diễn biến của sự lĩnh hội ở chúng và đã biết “đọc” trước cái gì đã diễn

Trang 13

ra và diễn ra như thế nào trong óc họ Quan sát những giáo viên dạy giỏi ta thấy, rằng

họ theo dõi học sinh hiểu bài như thế nào không phải chỉ qua các câu trả lời mà chính qua thắc mắc của học sinh hoặc căn cứ vào những dấu hiệu dường như không đáng kể như một sự ngập ngừng trong câu trả lời, một từ, một câu bị dập xoá trong bài làm, một ánh mắt, một nụ cười hay một tiếng xì xào cuả lớp v.v mà có thể hiểu thấu những biến đổi nhỏ nhất trong tâm hồn học sinh, dự đoán đúng mức độ hiểu bài và có khi còn phát hiện ra cả mức độ sai lệch của chúng

Người thầy giáo có năng lực hiểu học sinh còn biết dự đoán trước được thuận lợi và khó khăn, biết xác định đúng đắn mức độ căng thẳng cần thiết khi thực hiện các nhiệm vụ nhận thức

Năng lực hiểu học sinh là kết quả của một quá trình lao động đầy trách nhiệm, đầy tình thương yêu để đi sâu - sát học sinh, nắm vững môn mình dạy, am hiểu đầy

đủ về tâm lý trẻ em, nắm vững tâm lý học sư phạm cùng với một số phẩm chất tâm lý cần thiết như sự “ tinh ý” sư phạm qua quan sát, óc tưởng tượng, khả năng phân tích

và tổng hợp v.v

- Năng lực chế biến tài liệu

Điều đó thể hiện năng lực gia công về mặt sư phạm của thầy giáo đối với tài liệu học tập nhằm làm cho nó phù hợp tối đa đối với đặc điểm tâm lý của từng lứa tuổi, đặc điểm cá nhân học sinh, trình độ, kinh nghiệm của các em và đảm bảo tính lôgic của hoạt động sư phạm

Muốn làm được điều đó trước hết đòi hỏi người thầy giáo phải biết đánh giá đúng đắn giá trị của tài liệu Điều này sẽ giúp cho giáo viên xác lập được đúng đắn mối quan hệ giữa yêu cầu kiến thức của chương trình với trình độ nhận thức của học sinh nhằm đảm bảo được yêu cầu chung về kiến thức của chương trình lại vừa làm cho tài liệu đó vừa sức tiếp thu đối với khả năng của trẻ

Trên cơ sở đánh giá đúng đắn tài liệu, người thầy giáo phải biết chế biến, gia công cách trình bày nhằm cho nó vừa đảm bảo được tính lôgic của sự phát triển khoa học vừa phù hợp với logic sư phạm lại thích hợp với trình độ nhận thức của trẻ Trong cơ chế dạy học theo quan điểm hoạt động, người thầy giáo sẽ không phải làm cái việc là chuyển vận nội dung tài liệu từ sách giáo khoa đến đầu trò mà làm chủ việc tổ chức cho trẻ hoạt động để dành lại được tri thức khoa học đã được gửi gắm trong sách giáo khoa, truyền được sức sống của kiến thức, làm cho kiến thức đó có ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống của họ Vì vậy, người thầy giáo ngoài việc nắm được lôgic phát triển của tri thức, hiểu thấu đáo, chính xác tài liệu, còn phải biết chế biến nhào nặn, biết bổ sung vào tài liệu đó tất cả những điều lấy từ sách vở, tự quan sát và thu thập từ cuộc sống

Để làm được điều đó, người thầy giáo phải có khả năng phân tích, tổng hợp,

hệ thống hoá kiến thức Khi trình bầy một tài liệu,nhất là tài liệu mới, khó, phức tạp,

có nhiều mối tương quan, người thầy giáo phải có khả năng phân tích để thấy cái gì là bản chất, cốt lõi, cái cơ bản, mối quan hệ giữa chúng với những cái chi tiết, cái thứ

Trang 14

yếu như thế nào cũng như biết suy nghĩ để tìm cách trình bầy, dẫn dắt làm cho chúng trở nên nổi bật, trở thành đối tượng tiếp thu của trẻ

Hai là người thầy giáo phải có óc sáng tạo Truyền đạt kiến thức cho người khác hiểu được không phải là vấn đề đơn giản Không phải mọi cái mà mình hiểu thì

họ sẽ biết nói lại cho người khác cũng hiểu đúng và đầy đủ như mình Do đó, việc xây dựng lại cấu trúc tài liệu cho phù hợp với đặc điểm đối tượng là một quá trình lao động sáng tạo Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là làm cho tài liệu trở nên đơn giản, thô thiển, làm hạ thấp trình độ của học sinh

Óc sáng tạo của người thầy giáo khi chế biến tài liệu luôn có sự liên hệ lôgic với khả năng truyền đạt và giáo dục các ý tưởng sư phạm Cái đó làm cho họ biết trình bầy tài liệu theo suy nghĩ và lập luận của mình, biết cung cấp cho học sinh những kiến thức tinh giản, chính xác, biết tìm ra mối liên hệ giữa kiến thức cũ với kiến thức mới, kiến thức bộ môn này với bộ môn khác, biết liên hệ, vận dụng những điều đã học vào thực tiễn cuộc sống Do có óc sáng tạo, người giáo viên sẽ biết cách suy nghĩ đúng để tìm ra những phương pháp mới, hiệu nghiệm, làm cho bài giảng đầy sức lôi cuốn và giầu cảm xúc tích cực

Tính nhạy cảm với cái mới và sự giàu sức sáng tạo cũng được coi là yếu tố tâm

lý quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của năng lực chế biến tài liệu ở người thầy giáo

- Năng lực tổ chức thực hiện bài dạy

Kết quả của việc lĩnh hội tri thức, chiếm lĩnh đối tượng học tập của chủ thể bị phụ thuộc vào ba yếu tố: trình độ nhận thức của học sinh, nội dung bài giảng, cách tổ chức thực hiện bài dạy của giáo viên Năng lực dạy học được biểu hiện cụ thể ở năng lực thiết kế - thi công bài học Do đó, yêu cầu thầy phải biết cách chế biến tài liệu, tìm ra cách thức dạy hiệu quả và phải nâng trình độ dạy của mình lên mức độ năng lực

Người lao động ở nghề nào cũng phải có kỹ thuật thao - động tác - cử động theo yêu cầu của ngành nghề của mình Nghề dạy cũng có kỹ thuật riêng của nó Nhiều lần đã nói đến rằng hoạt động dạy và hoạt động học luôn có sự thống nhất với nhau trong cùng một quá trình mà không hoạt động nào thay thế cho cho nhau được Hoạt động của thầy không có mục đích riêng cho mình mà nhằm mục đích tạo lập, tổ chức và làm chủ hoạt động nhận thức tích cực của trò Quan niệm này dẫn tới một kỹ thuật dạy học hoàn toàn khác với kỹ thuật “rót tri thức” theo kiểu thầy giảng, trò ghi Đặc điểm nổi bật của kỹ thuật dạy học này là thầy tổ chức và điều khiển hoạt động của trò nhằm giúp các em lĩnh hội tri thức Việc tổ chức này được thực hiện dựa trên

cơ sở nắm vững con đường mà loài người đã đi trong khi phát hiện tri thức đó của chủ thể Vì chỉ có cách đó, học sinh mới thật sự nắm được lôgic nội tại của khái niệm cũng như chân lý của khoa học

Do đó, mọi giáo viên cần phải nắm vững kỹ thuật tổ chức, điều khiển hoạt động của nhận thức của trò, qua bài giảng phải thực hiện tốt toàn bộ thao tác sư phạm cho đạt đến mức như là có năng lực sư phạm Để nắm vững kỹ thuật dạy học, người

Trang 15

giáo viên phải hiểu thấu đáo các yếu tố tâm lý của việc thiết kế, thi công bài học, giao tiếp sư phạm cũng như phương thức sử dụng phương tiện dạy học hiện đại

Giáo viên thành thục kỹ thuật dạy học mới, tạo cho học sinh biết đứng ở vị trí

“người phát minh” trong quá trình dạy học Giáo viên biết cách truyền đạt tài liệu một cách rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nội dung của nó được vừa sức với học sinh Trong khi thực hiện các thao tác sư phạm, giáo viên luôn biết cách gây hứng thú, kích thích học sinh suy nghĩ một cách tích cực và độc lập không phải là bằng hô hào mà bằng chính “lực hút” từ bản thân nội dung đối tượng học tập đang được các em nghiên cứu Giáo viên biết tạo ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh hội, học tập như tiến hành động viên, khơi gợi được sự chú ý, hình thành các kỹ năng, chuyển hoá kịp thời từ trạng thái làm việc sang trạng thái nghỉ nhằm làm giảm căng thẳng trong giây lát và ngược lại, khắc phục sự suy giảm các thao tác của hoạt động trong giờ giảng hoặc biết cách làm tiêu tan những thái độ thờ ơ, uể oải ở học sinh

Việc hình thành cho giáo viên có được một năng lực như vậy để nắm vững kỹ thuật dạy như đã nêu trên quả không dễ dàng, trái lại nó là kết quả của một quá trình học tập nghiêm túc về cả lý luận khoa học cơ bản lẫn lý luận nghiệp vụ và sự rèn luyện tay nghề một cách công phu, cẩn trọng, có ý thức của người giáo viên

+ Năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực giáo dục và năng lực tổ chức quản lý

- Năng lực giao tiếp sư phạm

Năng lực giao tiếp sư phạm của giáo viên được hợp thành bởi các phẩm chất tâm lý như biết định hướng - định vị cũng như thực thi và kiểm tra qúa trình tiếp xúc với các đối tượng theo mục tiêu sư phạm Để chuẩn bị được các tiền đề tâm lý cần thiết cho giao tiếp, chủ thể phải hiểu rõ ràng xem mình đang tiếp xúc với ai? Họ như thế nào? Tiếp xúc để làm gì? Từ đó, tiến hành xây dựng kế hoạch, chiến lược, tâm thế

và phương tiện - điều kiện cho việc tiếp xúc Khi tiến hành thực thi các nhiệm vụ giao tiếp sư phạm, người giáo viên phải tích cực suy nghĩ và tưởng tượng sáng tạo nhằm xác định được một bức tranh tâm lý trung thực về cả mình lẫn đối phương để giao tiếp cho phù hợp Nếu tình hình thực tế gay cấn, cần thiết phải thay đổi chiến lược và phản

đề nhằm thay đổi chủ đề cho sự tiếp xúc Phải biết cảm hóa, ám thị đối phương nghĩ và hành động theo mục tiêu giáo dục - đào tạo Trong quá trình tiếp xúc phải biết kiểm tra, đánh giá quá trình cũng như kết quả của sự tiếp xúc để hiệu chỉnh theo mục tiêu của giao tiếp trong khi thực thi các nhiệm vụ giáo dục - đào tạo Vấn đề là phải đứng vững trên quan điểm của tâm lý học giao tiếp sư phạm mà tiến hành các thao tác giao tiếp cho liên tục và khái quát ngay từ phút đầu đến phút cuối cùng của mọi quá trình giáo dục - đào tạo trong nhà trường dạy nghề Việc thực hiện tốt các thao tác giảng dạy

là rất khó Nó đòi hỏi giáo viên phải có năng lực giảng dạy Trong các quá trình sư phạm, việc thực hiện tốt các thao tác giao tiếp sư phạm thực sự là vấn đề khó khăn nhất đối với mọi giáo viên Nó đòi hỏi ở mọi giáo viên phải có kỹ năng giao tiếp sư phạm

- Năng lực giáo dục

Trang 16

Năng lực giáo dục được cấu thành bởi các phẩm chất tâm lý của các năng lực

bộ phận như: 1) Năng lực cảm hóa, thuyết phục và sai khiến học sinh suy nghĩ, hành động, quan hệ theo ý tưởng sư phạm; 2) Năng lực khai thác tiềm năng giáo dục trong các bài giảng và khả năng dùng đạo đức, các phương tiện, điều kiện cần thiết cho giáo dục toàn diện nhân cách học sinh trong khi thực hiện các nhiệm vụ dạy học

Trong các quá trình sư phạm kỹ thuật, người giáo viên phải thực hiện cả một hệ thống các nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng Năng lực giáo dục được bao gồm năng lực thấu hiểu học sinh, năng lực tác động hình thành những phẩm chất nhân cách cho năm mặt giáo dục toàn diện cũng như các mặt giáo dục khác và năng lực cải biến nhân cách theo mục tiêu của các quá trình sư phạm

- Năng lực tổ chức, quản lý quá trình đào tạo

Những phẩm chất của năng lực quản lý này phải được hiện thực hóa ra trong trong toàn bộ tiến trình hoạt động của người giáo viên từ thông tin đến kế hoạch hóa,

tổ chức lãnh đạo - chỉ đạo thực hiện và kiểm tra - đánh giá - hiệu chỉnh theo mục tiêu giáo dục Nó được cấu thành bởi các phẩm chất tâm lý như: tầm nhìn chiến lược, trình

độ thiết kế, óc thực tiễn, tính nhạy cảm, ý chí mạnh, tài tổ chức, biết điều hành, sự đồng cảm, năng lực ám thị, năng lực tự ám thị, năng lực phân tích - hành động trên bình diện trí óc của tư duy lý luận.v.v

Để có thể tiến hành được tốt các nhiệm vụ quản lý các quá trình giáo dục - đào tạo, người giáo viên phải biết cách tiến hành xây dựng tập thể lớp, chuẩn bị nhân cách của mình sao cho phù hợp với yêu cầu của mọi họat động - quan hệ sư phạm và tạo lập

đủ các phương tiện tinh thần, vật chất cũng như các điều kiện tâm - sinh lý cá nhân, tâm lý - xã hội của nhóm và huy động sức mạnh của cả nền kinh tế - văn hóa - xã hội cho việc thực thi công việc dạy nghề Phương tiện quan trọng của quản lý là tập thể, êkíp lãnh đạo, bầu không khí tâm lý nhóm, truyền thống trường - lớp, dư luận và tâm trạng dạy học tích cực, nhân cách sáng của giáo viên, văn bản pháp quy.v.v

b) Đặc điểm hoạt động dạy nghề

Trong nhà trường thầy giáo đóng vai trò là chủ thể của hoạt động dạy học Hoạt động dạy nghề của người giáo viên không có chức năng sáng tạo ra tri thức mới, cũng không tái tạo lại tri thức đã có mà là ra tổ chức và chỉ đạo hoạt động học của học sinh học nghề một cách khoa học nhằm tạo ra cái mới trong nhân cách học sinh học nghề Chính vì vậy, hoạt động dạy của người giáo viên dạy nghề cũng luôn mang tính khoa

Trang 17

học, tính nghệ thuật, tính sáng tạo, tính phát triển nhân cách, tính mẫu mực, tính giao tiếp

- Mục đích của hoạt động dạy nghề là giúp người học nghề lĩnh hội nền văn hoá

xã hội, lĩnh hội, tiếp thu hệ thống kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp nhằm làm phát triển năng lực, phẩm chất nghề nghiệp cho người học nghề Để đạt được mục đích này, người giáo viên dạy nghề cần giúp đỡ, hướng dẫn, điều chỉnh các hoạt động học tập của học sinh, bởi vì, bản thân học sinh không thể tự mình biến năng lực loài người thành năng lực của chính mình được Do đó, người giáo viên dạy nghề phải thật sự quan tâm, định hướng, chỉ đường cho người học, tránh để họ đi mò mẫm, đi theo con đường thử - sai như các nhà khoa học đã từng đi trong quá trình tìm kiếm chân lý khoa học Nhưng để hoạt động dạy nghề được định hướng cụ thể, ta phải xác định được các mức độ người học nghề cần phải đạt được trong từng giai đoạn dạy học Người học nghề cần phải đạt được những nội dung gì về kiến thức, kỹ năng cũng như năng lực nghề nghiệp Những mục đích đó cần phải được cụ thể trong các nhiệm vụ học tập và người học sinh học nghề cần phải thực hiện

- Đối tượng của hoạt động dạy nghề chính là nhân cách của người học nghề (đầu vào của quá trình dạy học) Học sinh đi học nghề mang trong mình hành trang là vốn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phẩm chất, năng lực mà họ đã hình thành được ở giai đoạn trước đó Người giáo viên dạy nghề cần phải hiểu rõ và nắm vững các trình độ này ở người học nghề để coi đó là xuất phát điểm, là cơ sở tâm lý cần thiết trong quá trình định hướng, điều khiển, tổ chức hoạt động dạy của mình Người giáo viên trong quá trình dạy nghề cần phải tác động vào các khía cạnh đó để nâng cao dần chất lượng của hiểu biết, trình độ kỹ năng, năng lực nghề nghiệp và các phẩm chất đạo đức cho học sinh học nghề Đó cũng là sản phẩm của quá trình dạy nghề càn phải hướng tới - nhân cách phát triển toàn diện của người học nghề với những năng lực nghề nghiệp cụ thể (đầu ra của quá trình dạy nghề)

- Phương tiện của hoạt động dạy nghề

Hoạt động dạy nghề buộc phải đưa tri thức mà loài người đã phát hiện vào quá trình dạy Phòng học, xưởng thực hành, sân bãi, tài liêu giảng dạy, phấn, bảng, máy vi tính, máy chiếu.v.v cũng chính là những phương tiên cần thiết của hoạt động này Tuy nhiên, người giáo viên dạy nghề còn phải sử dụng một loại phương tiện đặc biệt quan trọng để thực hiện hoạt động dạy nghề đó là nhân cách nghề nghiệp của chính bản thân Tất cả các phẩm chất, trình độ, năng lực chuyên môn nghề nghiệp, sự sáng tạo sư phạm, sáng tạo nghề nghiệp và các đặc điểm tâm lý khác của người giáo viên dạy nghề đều được sử dụng trong quá trình dạy học Đó là công cụ, là phương tiện chủ yếu để tổ chức cho người học tái tạo tri thức, kỹ năng, năng lực nghề nghiệp của nhân loại và hình thành những tri thức ấy, năng lực ấy cho học sinh thông qua đó tạo ra sự phát triển tâm lý học sinh Cho nên, hoạt động dạy nghề chính là dùng nhân cách của người giáo viên như một công cụ quan trọng để tác động và hình thành lên nhân cách cho học sinh học nghề

Trang 18

Hoạt động dạy nghề nhằm giúp học sinh học nghề lĩnh hội được hệ thống kiến thức lý thuyết của nghề, luyện tập, thực hành để hình thành những kỹ năng và phẩm chất của nghề nghiệp mà các em theo học Người giáo viên dạy nghề là chủ thể của hoạt động dạy nghề Việc thực hiện hoạt động dạy nghề của giáo viên không nhằm phát triển nhân cách của chính họ mà là hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo học sinh học nghề tái tạo nền văn hoá xã hội, tái tạo lại kiến thức nghề nghiệp cũng như con đường, cách thức, biện pháp khai phá ra hệ thống các kiến thức đó của các nhà khoa học Trong quá trình đó, người giáo viên dạy nghề sẽ dần dần giúp học sinh học nghề hình thành, sử dụng, rèn luyện và phát triển các phẩm chất như tính tự giác, tích cực, chủ động, hăng say, sáng tạo.v.v ở chính người học nghề nhằm hình thành nên những hiểu biết, kỹ năng nghề, đạo đức nghề nghiệp một cách khoa học, logic, bài bản lần đầu tiên trong thế giới tâm lý của các em Thông qua đó, phẩm chất và năng lực nghề nghiệp sẽ dần dần được hình thành ở người học nghề

Hoạt động dạy có những thành phần cơ bản là hoạt động dạy cụ thể, hành động dạy và thao tác dạy Cấu trúc của hoạt động dạy sẽ được cụ thể hoá bằng nội dung của

sơ đồ sau:

Hoạt động dạy nghề cụ thể Động cơ dạy

Hành động dạy Mục đích dạy

Thao tác dạy Phương tiện - điều kiện dạy

Hình 2.1 Sơ đồ: Cấu trúc của hoạt động dạy nghề

Khi thực hiện nhiệm vụ dạy nghề, người giáo viên dạy nghề ở các nghề khác nhau sẽ phải thực hiện những hoạt động dạy nghề cụ thể Ví dụ như các giáo viên dạy nghề kỹ thuật sẽ có các hoạt động như dạy vẽ kỹ thuật, dạy cơ kỹ thuật, dạy điện kỹ thuật v.v Nội dung của hoạt động dạy cụ thể của người giáo viên dạy nghề là cấu trúc của đối tượng kỹ thuật cũng như nội dung của chương trình, kế hoạch dạy học và giáo trình, sách giáo khoa Tri thức về chuyên môn kỹ thuật cũng như giáo dục học nghề nghiệp, kỹ năng và phương pháp dạy học nghề được coi là những cơ sở, những tiền đề lý luận, chỉ đạo cho người giáo viên biết cách suy nghĩ đúng để tìm ra phương thức tiến hành các hoạt động dạy nghề một cách hiệu quả

Hoạt động dạy cụ thể sẽ được người giáo viên thực hiện qua các hành động dạy Nhìn chung có ba loại hành động chuẩn bị dạy, tiến hành thực hiện nhiệm vụ dạy và kiểm tra - đánh giá quá trình cũng như kết quả dạy Trước khi dạy, người giáo viên sẽ phải tiến hành nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, giáo trình và tìm hiểu tâm - sinh lý học sinh lớp, nhóm mình sẽ dạy Trên cơ sở đó, họ sẽ phải tiến hành soạn giáo

án, viết đề cương bài giảng, xác định lịch trình giảng dạy, làm đồ dùng dạy học, chuẩn

Trang 19

bị phương tiện - trang thiết bị kỹ thuật và tâm thế cần thiết cho việc dạy Khi dạy, người giáo viên phải biết tiến hành truyền thụ kiến thức, rèn kỹ năng, giáo dục nhân cách thông qua việc dùng hệ các phương pháp giảng thuật, giảng giải, giảng diễn, sử dụng sách giáo khoa - tài liệu tham khảo, luyện tập, ôn tập - củng cố - hệ thống hoá kiến thức, kiểm tra - đánh giá và phương pháp độc lập quan sát - làm thí nghiệm.v.v

Ở trên lớp, khi thực hiện nhiệm vụ dạy, người giáo viên phải có kỹ năng biết thực hiện tốt các hành động tổ chức lớp học, thiết kế, chỉ đạo việc thi công bài học và giao tiếp

sư phạm Hành động dạy của người giáo viên sẽ phải tuân thủ được logic môn học cũng như logic của quá trình dạy học và có nghệ thuật sư phạm

Các hành động dạy sẽ được thực hiện bằng hệ thống các thao tác dạy Khi dạy

kỹ thuật, người giáo viên phải có kỹ năng sử dụng các thao tác trí tuệ cũng như động tác đối tượng cảm tính như tay - máy, tay - máy điều khiển - máy sản xuất và động tác tay - chân - cơ thể v.v Trong khi thực hiện các hành động dạy ở trên lớp, người giáo viên sẽ phải chú ý thực hiện tốt các động tác giao tiếp, quan sát lớp học, viết bảng, trình bày trực quan, theo dõi tiến độ dạy theo chương trình đã định trong giáo án, kết hợp hài hoà giữa thao tác dạy của mình với thao tác học của học sinh, thực hiện những

cử động - thao động tác cho phù hợp với nội dung dạy và tổ chức bài học

Mỗi một hoạt động dạy cụ thể của người giáo viên sẽ được kích thích bằng hệ thống các động cơ Có động cơ kích thích và động cơ tạo ý Tất cả những gì về dạy học được người giáo viên nhận thức và do đó, nó kích thích chủ thể đi vào giải quyết một cách có hiệu quả toàn bộ nhiệm vụ dạy đều có thể trở thành động cơ dạy Tất cả vì

sự hoàn thiện năng lực nhận thức cũng như kỹ năng hành động sáng tạo và sự phát triển các phẩm chất, năng lực nghề nghiệp trong nhân cách học sinh học nghề sẽ được coi là động cơ trong sáng, tích cực và cao đẹp nhất của người giáo viên dạy nghề Những động cơ này sẽ đóng vai trò quan trọng, kích thích hoạt động dạy và được thay đổi, phát triển và hoàn thiện hơn lên trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của hoạt động dạy cụ thể của người giáo viên dạy nghề

Trong hoạt động dạy, mỗi một hành động của người giáo viên dạy nghề đều hướng vào để đạt được những mục đích cụ thể Các mục đích dạy được xác định theo một cấu trúc - hệ thống, phù hợp với nhiệm vụ dạy lý thuyết nghề hay hướng dẫn thực hành nghề, vận dụng và kiểm tra - đánh giá một khi đã đạt được sẽ góp phần vào việc thực hiện mục đích dạy Động cơ dạy luôn chi phối mục đích dạy và các mục đích dạy một khi đã thực hiện được sẽ tạo điều kiện tâm lý cần thiết cho động cơ dạy trở thành hiện thực

Trong khi thực hiện các thao tác dạy, ở người giáo viên sẽ phải có đầy đủ được phương tiện vật chất - tinh thần nhất định cùng các điều kiện tâm - sinh lý cá nhân thuận lợi, tâm lý - xã hội tích cực và tiềm lực con người, tiền bạc cùng vật chất của nền kinh tế - văn hoá - xã hội cần thiết cho việc giải quyết nhiệm vụ dạy Các điều kiện, phương tiện dạy nghề khác nhau sẽ làm cho các thao, động tác dạy nghề của các giáo viên là khác nhau

Trang 20

a) Định nghĩa

Hoạt động học nghề là quá trình học sinh, sinh viên tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo lĩnh hội, tiếp thu, rèn luyện những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và hình thành các phẩm chất, năng lực nghề nghiệp của bản thân dưới sự hướng dẫn, tổ chức, định hướng, điều khiển của người giáo viên dạy nghề

b) Đặc điểm hoạt động học nghề

+ Mục đích của hoạt động học nghề

Thông thường các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể (đối tượng của hoạt động) trong khi đó hoạt động học nghề lại làm cho chính chủ thể của hoạt động này thay đổi và phát triển Điều đó có nghĩa rằng: Hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp mà các nhà khoa học đã tìm ra không hề thay đổi sau khi bị học sinh học nghề chiếm lĩnh Sự thay đổi trong và sau quá trình học nghề lại chính là hiểu biết, năng lực của người học nghề thông qua quá trình tiếp thu, lĩnh hội và rèn luyện của chính họ Vì vậy, người học càng giác ngộ được sâu sắc mục đích này bao nhiêu thì sức mạnh vật chất và tinh thần của họ ngày càng được huy động bấy nhiêu, sự thay đổi

và phát triển tâm lý của chính họ lại càng lớn lao và mạnh mẽ Tuy nhiên, ta cũng cần biết rằng, hoạt động học nghề cũng có thể làm thay đổi khách thể, nhưng đó không phải là mục đích tự thân của hoạt động học mà là lại phương tiện của hoạt động học

+ Đối tượng của hoạt động học nghề

Đối tượng của hoạt động học nghề được coi là hệ thống tri thức chung, những

kỹ năng khái quát, kỹ xảo hành động - quan hệ, phương thức thực hiện hoạt động - giao tiếp, cách tổ chức hành động nói chung và đặc biệt là hệ thống kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực nghề nghiệp Các đối tượng này luôn tồn tại khách quan trong nền văn hóa xã hội của loài người, trong các nghề nghiệp cụ thể và được chắt lọc, lựa chọn

để đưa vào chương trình học trong các cơ sở dạy nghề Học sinh đi học nghề là chủ động chiếm lĩnh các đối tượng này và chuyển biến chúng thành những hiểu biết, kỹ năng, năng lực nghề nghiệp chủ quan của bản thân

Trong khi tổ chức các hoạt động học nghề, các đối tượng học (tri thức, kỹ năng) được xây dựng sẽ phải tuân thủ đúng các yêu cầu của tâm lý học dạy học như sau:

1) Các tri thức, kỹ năng phải được sắp xếp một cách hợp lý, theo một hệ thống, phù hợp với cấu trúc thực của đối tượng kỹ thuật - quy trình công nghệ: tính phức tạp của chúng luôn tăng dần lên như tiến hành lắp ráp các yếu tố của bộ cơ theo sơ đồ rồi đến phát hiện ra cái thừa - thiếu - sai trong sơ đồ về đối tượng và vận dụng sáng tạo các tri thức - kỹ năng về cơ kỹ thuật đã biết để giải quyết nhiệm vụ kỹ thuật trong quá trình gia công ra sản phẩm;

2) Phương thức giải quyết các nhiệm vụ học sẽ luôn luôn ở trạng thái ẩn tàng vào trong đối tượng học tập mà chúng chỉ có thể được phát hiện ra và nhận thức thông qua chính hành động của chủ thể;

3) Hệ thống các tri thức, kỹ năng được xây dựng theo nguyên lý vừa - đủ và sắp xếp theo một logic xác định, sao cho, sau khi đã giải quyết chúng, học sinh học nghề

Trang 21

hoàn toàn có khả năng biết cách suy nghĩ và hành động đúng để tự tìm ra phương thức giải tối ưu - hợp lý nhất cho tất cả các bài toán kỹ thuật mới, cao hơn, khó hơn mà các

em chưa từng biết Trong các quá trình sư phạm kỹ thuật, chúng ta cần chú ý đến tính vừa sức của người học nghề Nếu nhiệm vụ học đã nêu ra nhiều quá sẽ dễ gây mệt mỏi cho học sinh, còn chúng quá ít thì sẽ không có tác dụng làm cho các em có được đầy

đủ những tiền đề tâm lý cần thiết để nắm vững đối tượng kỹ thuật - quy trình công nghệ Điều này có nghĩa là chúng ta phải tăng cường nêu vấn đề để phát triển năng lực

tư duy của người học, lưu tâm chỉ đạo một cách sát sao các hành động thực hành kỹ thuật của các em trong các quá trình dạy nghề

+ Nhiệm vụ của hoạt động học nghề

Học sinh học nghề có nhiệm vụ tái tạo lại đối tượng để chuyển tải nội dung của chúng thành hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ đạo đức và năng lực nghề nghiệp của chính mình thông qua việc thực hiện các hành động học tập Các hành động này được thực hiện nhằm đạt mục đích học tập và mục đích thực hành Tổng thể các mục đích thực hành được hoàn thành sẽ góp phần thực hiện được mục đích học tập

Bản chất của hoạt động học nghề là người học nghề hướng vào làm thay đổi chính mình dưới sự điều khiển có ý thức của hoạt động dạy nghề nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phương thức làm ra tri thức, thái độ, những chuẩn mực đạo đức

và phương thức hành vi - ứng xử của nghề nghiệp Nghĩa là, người học nghề sẽ phải tiến hành thực hiện toàn bộ các nhiệm vụ tạo lại cái đã có để làm ra cái mới lần đầu tiên cho nhân cách của mình thông qua các hành động phân tích, đối tượng cảm tính,

mô hình hoá như mô hình giống vật thật, mô hình biểu trưng, mô hình mã hoá, cụ thể hoá và kiểm tra Trong quá trình giải quyết hệ thống nhiệm vụ học nghề, chủ thể sẽ học được cả tri thức lẫn phương thức làm ra tri thức, thái độ và đạo đức trong hành vi - ứng xử cho mình Việc học của từng chủ thể sẽ luôn được diễn ra trong các điều kiện

cụ thể của hoạt động dạy nghề ở những môi trường tâm lý - xã hội nhất định của một tập thể lớp cũng như nhóm học tập

+ Phương tiện học tập của học sinh, sinh viên học nghề

Các nhiệm vụ học tập sẽ được học sinh học nghề giải quyết nếu họ biết cách thực hiện khi dựa vào các phương tiện vật chất và tinh thần như hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ, tâm thế học tập đã có, bầu không khí tâm lý của tập thể lớp, ý chí, sự giác ngộ, tinh thần trách nhiệm và đạo đức trong học tập Trong đó, phương tiện quan trọng là hệ thống các kinh nghiệm đã có, đặc biệt là khả năng tiến hành các thao tác tư duy, tưởng tượng như: khả năng phân tích nhận định vấn đề; khả năng đọc, lý giải bản

vẽ, hành động mẫu; khả năng quan sát, khả năng tổng hợp các nguồn thông tin, khả năng khái quát hóa, cụ thể hóa hệ thống các hành động, thao tác học tập; khả năng tưởng tượng; khả năng thực hiện công việc; khả năng kiểm tra, đánh giá.v.v… Bên cạnh đó, còn phải tính đến các phương tiện vật chất khác như phòng học, bàn, ghế, xưởng, sân bãi thực hành, ánh sáng.v.v Các phương tiện trên có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học sinh học nghề

Trang 22

Hoạt động học có những đặc điểm tâm lý như sau:

1) Sự phát triển nhân cách của người học nghề luôn luôn được diễn ra trong một quá trình thống nhất với sự tiếp thu tri thức, kỹ năng và kỹ xảo của họ;

2) Người học nghề thực hiện những tác động định hướng hoạt động tư duy của vào tiếp nhận và giải quyết hệ thống các nhiệm vụ học nhằm lĩnh hội được những đơn

vị tri thức chung, những kỹ năng khái quát và quan hệ ứng xử kiểu người;

3) Người học nghề phải biết cách thực hiện các quá trình tạo lại đối tượng bằng chính hành động của mình để phát hiện ra logic nội tại của chúng, nắm bắt và chuyển tải nội dung đó vào thế giới tinh thần của mình, qua đó, chúng được cấu tạo lại mà làm thành tri thức, kỹ năng, thái độ và đạo đức của chính mình

Trong các quá trình sư phạm kỹ thuật, giáo viên được coi là người chịu trách nhiệm thiết kế và thi công các loại hình bài học lý thuyết, thực hành rồi tổ chức lớp học và đưa học sinh vào đó mà chỉ đạo cho các em tiến hành giải quyết nhiệm vụ của bài học bằng chính hành động tích cực của mình Hành động học của học sinh rất quan trọng, có tác dụng làm cơ sở tâm lý cho việc hình thành hoạt động học và có vai trò quyết định phẩm chất trí tuệ cũng như nhân cách của các em

Hoạt động dạy nghề nhằm tạo ra cái mới trong tâm lý học sinh học nghề, do đó

nó vận hành theo cơ chế sáng tạo, còn hoạt động học nghề lại vận hành theo cơ chế lĩnh hội Hai hoạt động này hoạt động theo hai cơ chế khác nhau nhưng chúng không tách rời nhau Hoạt động dạy nghề chỉ diễn ra khi có hoạt động học nghề và hoạt động học nghề chỉ diễn ra khi có sự chỉ đạo và tổ chức của hoạt động dạy nghề Hai hoạt động này tồn tại cùng nhau, cho nhau và cùng hướng đến mục đích chung là hình thành và phát triển năng lực nghề nghiệp ở người học nghề

d) Sự hình thành hoạt động học nghề

+ Hình thành động cơ học nghề

Động cơ học tập của học sinh học nghề được hiện thân ở đối tượng của hoạt động học, tức là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, giá trị, chuẩn mực của nghề nghiệp mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ Trong tâm lý học sinh, sinh viên học nghề, động

cơ này được biểu hiện ra ngoài ở lòng khát khao đối với tri thức: yêu thích bộ môn mình học, nghề mình học, say mê nghiên cứu tìm tòi, phát hiện những điều mới lạ.v.v Tuy nhiên, trong thực tiễn giáo dục nghề nghiệp, không ít học sinh đi học vì gia đình, vì bạn bè.v.v Vì vậy những học sinh này, sinh viên thường thờ ơ chán ghét những tri thức khoa học, tri thức nghề nghiệp Cho nên, ở những em này, động cơ học nghề còn chưa chính xác Động cơ học nghề không có sẵn, cũng không thể áp đặt từ ngoài mà phải được hình thành dần dần trong quá trình học sinh, sinh viên ngày càng

đi sâu vào chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực nghề nghiệp dưới sự hướng dẫn, tổ chức của người GVDN

Những phẩm chất tâm lý của nhận thức, tình cảm, ý chí, hứng thú, xu hướng, lý tưởng, nhu cầu kỹ thuật.v.v của học sinh, sinh viên góp phần tạo ra những động cơ học nghề Những phẩm chất dó sẽ điều chỉnh hoạt động học nghề, làm cho các em có

Trang 23

được sức mạnh tinh thần to lớn trong việc giải quyết nhiệm vụ góp phần tạo ra được động cơ đối với hoạt động học nghề Dần dần, học tập trở thành một nhu cầu không thể thiếu tạo thành sức mạnh tinh thần thường xuyên thúc đẩy học sinh, sinh viên vượt qua mọi khó khăn để dành lấy kiến thức, kỹ năng, năng lực nghề nghiệp Học nghề khi

đó sẽ mang tính chất tự nguyện cao cả, say mê, hào hứng và có chất lượng

Như vậy, muốn hình thành động cơ học tập cho học sinh học nghề thì trong từng tiết học, từng ca thực hành, giáo viên phải tổ chức cho học sinh tự phát hiện ra những điều mới lạ, gây được những ấn tượng tốt đẹp cho học sinh đối với việc học tập Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải coi trọng việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc hình thành hứng thú - nhu cầu - kỹ năng - năng lực - xu hướng kỹ thuật cho học sinh, sinh viên thông qua việc cải tiến nội dung cũng như phương pháp, hình thức tổ chức, tích cực tìm kiếm phương tiện dạy học kỹ thuật và đổi mới tư duy sư

phạm kỹ thuật

+ Hình thành mục đích học nghề

Như trên đã nói, đối tượng học nghề là nơi hiện thân của động cơ học nghề Muốn cho hoạt động học nghề được thực hiện bởi động cơ đích thực thì đối tượng của hoạt động học nghề phải được cụ thể hoá thành hệ thống các khái niệm, các kỹ năng

cụ thể Mỗi khái niệm, mỗi kỹ năng cụ thể của môn học được thể hiện trong từng tiết, từng bài chính là mục đích cần chiém lĩnh của hoạt động học nghề

Bản chất của hoạt động học nghề là hướng vào làm thay đổi chủ thể của nó Sự thay đổi này biểu hiện ở sự thay đổi mức độ làm chủ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, thái độ, giá trị, chuẩn mực, những quy luật và những phương thức hành vi Chính những cái đó làm thành nội dung của mục đích học tập Mục đích này chỉ bắt đầu được hình thành khi chủ thể bắt tay vào thực hiện hành động học tập Lúc đó chủ thể thâm nhập vào đối tượng, nhờ đó nó chiếm lĩnh được những tri thức, kỹ năng, năng lực nghề nghiệp mới Tuy nhiên, kết quả của sự chiếm lĩnh này còn tuỳ thuộc sự thâm nhập của người học nghề vào đối tượng học diễn ra theo hướng nào Thường có 2 trường hợp xảy ra:

- Học sinh, sinh viên học nghề hướng vào chiếm lĩnh dấu hiệu chung bề ngoài của sự vật, hiện tượng riêng lẻ, không có mối liên hệ tất yếu với nhau Cách thức này chỉ hình thành ở họ khả năng phân loại, nhận biết sự vật, hiện tượng khi cần thiết

- Học sinh, sinh viên học nghề hướng vào chiếm lĩnh phương pháp chung nhằm phát hiện ra những quy luật, những nguyên tắc khái quát Điều đó cho phép người học

có thể giải quyết một loạt yêu cầu cụ thể trong quá trình học nghề cũng như thực tiễn nghề nghiệp sau này Cách thức này làm cho học sinh hình thành năng lực đi sâu vào bản chất của đối tượng

Trên đường đi tới đích cuối cùng luôn xảy ra hiện tượng chuyển hoá giữa mục đích và phương tiện Một mục đích bộ phận khi đã được hình thành đầy đủ, nó lập tức trở thành phương tiện cho sự hình thành mục đích bộ phận tiếp theo Như vậy, để việc học nghề diễn ra có hiệu quả, chất lượng, người học phải có được một cách rõ ràng các

Trang 24

Học bằng những phương tiện - điều kiện gì? Quy trình học tập sẽ phải diễn ra như thế nào?.v.v Chính vì vậy, trong các quá trình sư phạm kỹ thuật, khi giao việc cho học sinh, chúng ta sẽ phải xác định cho các em biết rõ về mục đích, mục tiêu học tập và tổ chức - chỉ đạo cho các em thực hiện mục đích, mục tiêu học tập đó

mô hình, ký hiệu, sơ đồ về vật và ngôn ngữ Ở hình thức tinh thần, khái niệm được tồn tại trong hoạt động tâm lý của chủ thể và sẽ biểu hiện ra ngoài qua nội dung tâm lý của hành vi, quan hệ cũng như sản phẩm mà họ đã làm ra

Trong quá trình học nghề, dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của giáo viên người học nghề cần phải thực hiện những hành động học nghề cần thiết Tương ứng với 3 hình thức tồn tại của khái niệm như vừa kể trên, người học nghề phải thực hiện

ba hình thức của hành động học nghề Đó là:

+ Hình thức hành động vật chất trên vật thật (hay còn gọi là vật thay thế) Có nghĩa rằng học sinh dùng thao tác tay chân để tháo, lắp, sắp xếp.v.v… vật thật Thông qua hành động này làm cho logic của khái niệm vốn trú ngụ trên vật thật được bộc lộ

ra ngoài

+ Hình thức hành động với lời nói và các hình thức “mã hoá” khác tương ứng với đối tượng Mục đích của hành động này là dùng lời nói cũng như các hình thức mã hoá khác để chuyển logic của khái niệm đã phát hiện ở hành động vật chất vào trong tâm lý chủ thể hành động

+ Hình thức hành động tinh thần: Hành động diễn ra trong đầu bằng những ý nghĩ không cần vật thật, vật thay thế

Theo V.V.Đavưđôp muốn học tập tốt cần 3 hành động: hành động phân tích, mô

hình hoá và cụ thể hoá

+ Hành động phân tích: Nhằm phát hiện ra nguồn gốc xuất phát của khái niệm,

nó là phương tiện để đi sâu vào đối tượng Phân tích cũng diễn ra ở 3 hình thức hành động: Phân tích vật chất, phân tích dựa trên lời nói và phân tích tinh thần

+ Hành động mô hình hoá: Giúp con người diễn đạt logic khái niệm một cách trực quan Trong dạy học thường dùng những loại mô hình: Gần giống vật thật, tượng trưng, mã hóa Hành động mô hình hoá có tác dụng giúp cho chủ thể biết cách diễn đạt khái niệm một cách trực quan Mô hình đã được coi là giai đoạn bắc cầu, quá độ, chuyển tiếp giữa cái vật chất tới cái tinh thần

+ Hành động cụ thể hoá: Giúp học sinh vận dụng phương thức hành động chung vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể trong cùng một lĩnh vực

Trang 25

Như vậy trong dạy học, hành động phân tích sẽ có tác dụng tìm ra mối quan hệ chung một cách khái quát về đối tượng, còn hành động mô hình hoá lại phản ánh đối tượng một cách trực quan dưới dạng mô hình và hành động cụ thể hoá được dùng để triển khai cái chung - cái trừu tượng ra cái cụ thể - đa dạng - phát triển trong thực tiễn Dạy học đi từ cái chung, cái trừu tượng đến cái riêng biệt, cụ thể được coi là phương hướng dạy học hiện đại, có khả năng làm phát triển đầy đủ những phẩm chất tâm lý của năng lực tư duy lý luận cho học sinh như khả năng phân tích, khả năng hành động trên bình diện trí tuệ

Thông qua sự hướng dẫn, tổ chức của người GVDN, các hành động học ở trên dần dần được hình thành và thể hiện trong quá trình học nghề của người học Thông qua đó, nó giúp học sinh hình thành thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, hiểu biết, trình

độ kỹ năng, năng lực nghề nghiệp cần thiết Chúng ta phải làm cho họ biết tiến hành các việc sau:

1) Tiến hành tốt các hành động phân tích nội dung đối tượng trên vật thật cũng như lời nói và tinh thần nhằm chuyển tải được logic của đối tượng kỹ thuật vào đầu óc các em thành ra khái niệm kỹ thuật;

2) Tiến hành tốt hành động mô hình hoá nội dung của các đối tượng cũng như khái niệm và ngôn ngữ thành ra mô hình tư duy nhằm chuyển tải logic của chúng vào trong đầu để nó được tồn tại dưới các dạng biểu tượng, hình ảnh kỹ thuật;

3) Tiến hành tốt các hành động cụ thể hoá để đưa cái chung, cái trừu tượng của đối tượng ra dạng cụ thể, đa dạng và phát triển của nó trong thực tế mà thành các thành phần thực hành của tư duy kỹ thuật

2.3.3 Cơ chế tâm lý của sự hình thành khái niệm

a) Định nghĩa khái niệm

Khái niệm là phương tiện và hình thức tồn tại của tư duy Khái niệm do nhà khoa học tạo ra thông qua các hoạt động nghiên cứu và hoạt động tư duy tìm hiểu về bản chất của đối tượng Bằng hoạt động sáng tạo của mình, nhà khoa học đã tạo ra được những phương tiện tinh thần để phản ánh đối tượng dưới dạng những khái niệm

Vì vậy, quan điểm tâm lý học hoạt động đã cho rằng, đằng sau khái niệm là hành động Muốn cho học sinh nắm vững được khái niệm, nhà sư phạm phải tiến hành trải logic của khái niệm đó ra thành hệ thống các việc làm và tổ chức cho các em thực hiện các công việc đó bằng chính các hành động của mình một cách tuyến tính theo một quy trình nhất định, phù hợp với cấu trúc của đối tượng

Khái niệm khoa học là kiến thức về những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của vật thay thế hay hiện tượng của thực tế khách quan, về những mối liên hệ và tương quan bản chất chung giữa chúng với nhau Nguồn gốc của khái niệm là ở sự vật, từ khi con người phát hiện ra nó thì khái niệm có thêm một chỗ ở thứ hai là trong đầu óc con người Để tiện lưu trữ và truyền lại cho các thế hệ sau, con người dùng ngôn ngữ gói gém nội dung khái niệm lại ở trong sách Sự gói gém này có thể bằng một hoặc vài câu gọi là định nghĩa hoặc bằng một từ để đặt tên cho nó gọi là thuật ngữ

Trang 26

Như vậy, khái niệm là năng lực thực tiễn được kết tinh lại và gửi gắm vào trong đối tượng, khái niệm là một sản phẩm tâm lý của con người Khái niệm kỹ thuật được coi là kết quả của hoạt động sáng tạo kỹ thuật và sản phẩm của hoạt động tư duy kỹ thuật Khái niệm kỹ thuật - nghề nghiệp sẽ được hình thành thông qua việc thực hiện

hệ thống các bài học lý thuyết và thực hành kỹ thuật Về bản chất, hoạt động kỹ thuật của kỹ sư, hoạt động học tập kỹ thuật của sinh viên các trường kỹ thuật và hoạt động

tư duy kỹ thuật của mỗi một chủ thể khi đứng trước các bài toán kỹ thuật đều có sự đẳng cấu với nhau

Khái niệm có vai trò rất lớn, vì khi con người có được khái niệm thì nó có khả năng tạo cho họ những sức mạnh tinh thần mới, năng lực thực tiễn và khả năng hoạt động - quan hệ theo đúng quy luật khách quan Khái niệm được coi như là thức ăn, sản phẩm và phương tiện của hoạt động tư duy, có khả năng tạo ra sức mạnh tinh thần, một loại vũ khí cho sự thích nghi và sáng tạo của con người trong môi trường xã hội Khái niệm được coi như là những viên gạch cơ sở để xây dựng nên lâu đài trí tuệ, vườn ươm của tư tưởng cũng như của niềm tin, ước mơ sáng tạo và là phương tiện cho việc giáo dục - bồi dưỡng nhân tài

b) Các loại và hình thức tồn tại của khái niệm

Có ba loại khái niệm: 1) Khái niệm về đối tượng (mang lại cho chúng ta những tri thức khoa học); 2) Khái niệm về quy trình hành động (đem lại cho chúng ta những tri thức về phương pháp nghiên cứu, hành động); 3) Khái niệm về quan hệ, quy luật tính của hoạt động (sẽ đem lại cho ta những tri thức về quy tắc hành vi, chuẩn mực đạo đức và các định hướng giá trị)

Khái niệm được tồn tại ở ba hình thức sau:

1) Hình thức tồn tại vật chất: Đây là hình thức tồn tại đầu tiên, bên ngoài, nơi trú ngụ số một Nguồn gốc của khái niệm là ở sự vật, hiện tượng, quá trình hoạt động Khái niệm luôn được ẩn tàng vào vật thể Ở đây, khái niệm được coi là hình thức tồn tại tinh thần nằm trong vật thể;

2) Hình thức mã hoá - vật chất hoá: Nó được coi là cái tinh thần tồn tại trong vật chất và biểu đạt nội dung của nó dưới dạng các từ khái niệm, công thức, định nghĩa, nguyên lý v.v Đây là nơi trú ngụ thứ hai của khái niệm và nó cũng được coi

là sản phẩm của hoạt động tư duy của chủ thể;

3) Hình thức tồn tại tinh thần (nằm trong hoạt động tâm lý trên vỏ não của chủ thể phản ánh nội dung của hoạt động, đối tượng và sản phẩm mà hoạt động đó tạo ra): Đây được coi là hình thức tồn tại bên trong - hình thức tồn tại tinh thần của các hoạt động tâm lý của chủ thể khi phản ánh khái niệm ấy

Tướng ứng với các hình thức tồn tại, có

hs)

Ngày đăng: 27/01/2023, 02:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Ngọc Đại (1983), Tâm lý học dạy học, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1983
2. Nguyễn Thị Lan (1995), Tâm lý học sư phạm kỹ thuật nghề nghiệp, Trường ĐHSPKT TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sư phạm kỹ thuật nghề nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Lan
Nhà XB: Trường ĐHSPKT TP Hồ Chí Minh
Năm: 1995
5. Tổng cục dạy nghề (1986), Giáo trình Tâm lý học, NXB Công nhân Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học
Tác giả: Tổng cục dạy nghề
Nhà XB: NXB Công nhân Kỹ thuật
Năm: 1986
6. Trần Trọng Thủy (1985), Tâm lý học lao động, Viện Khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lao động
Tác giả: Trần Trọng Thủy
Nhà XB: Viện Khoa học giáo dục
Năm: 1985
7. Phạm Ngọc Uyển, Nguyễn Văn Hùng (2005), Tâm lý học nghề nghiệp, Tổng cục dạy nghề, Bộ LĐ- TB và XH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nghề nghiệp
Tác giả: Phạm Ngọc Uyển, Nguyễn Văn Hùng
Nhà XB: Tổng cục dạy nghề, Bộ LĐ- TB và XH
Năm: 2005
8. Nguyễn Quang Uẩn (2001), Tâm lý học đại cương, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
10. Website http://www.huongnghiepviet.com Link
3. Nguyễn Thạc (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXBGD, HN 4. Đào Thị Oanh (1999), Tâm lý học lao động, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm