Bài viết Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần (BAGUERA) điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ tại Bệnh viện tỉnh Phú Thọ trình bày đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần (BAGUERA) điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.
Trang 1ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT THAY ĐĨA ĐỆM NHÂN TẠO CÓ KHỚP TOÀN PHẦN (BAGUERA) ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM
CỘT SỐNG CỔ TẠI BỆNH VIỆN TỈNH PHÚ THỌ
Nguyễn Văn Sơn 1 , Hà Xuân Tài 1 , Nguyễn Xuân Trường 1 , Vương Quang Uyển 1 TÓM TẮT 56
Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu phẫu
thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần
(BAGUERA) điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống
cổ
Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô
tả tiến cứu không đối chứng 30 trường hợp
được phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ
một tầng tại Khoa Ngoại Thần Kinh, Bệnh viện
Tỉnh Phú Thọ từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2021
Kết quả: 30 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột
sống cổ một tầng được phẫu thuật thay đĩa đệm
nhân tạo có khớp toàn phần (BAGUERA): thời
gian phẫu thuật trung bình 88,7 ± 19,37 phút, mất
máu trung bình 68,3 ± 31,57 ml chưa phải truyền
máu trong mổ, biến chứng trong mổ rách màng
tủy 3,3%, thời gian khám lại trung bình 2,8 ±
0,95 tháng VAS trung bình cải thiện đau cổ và
tay tại thời điểm khám lại: 6,7 ± 0,69 so với 3,3
± 0,16 và 4,4 ± 1,04 điểm so với 1,7 ± 0,99 điểm
So với trước phẫu thuật có ý nghĩa thống kê với p
< 0.01 Chức năng cột sống JOA trung bình thời
điểm hậu phẫu và khám lại sau mổ 3 tháng hồi
phục:13,1 ± 2,00 điểm so với 17,5 ± 1,47 điểm
So với trước phẫu thuật có ý nghĩa thống kê với p
< 0,01, NDI trung bình 64,9 ± 11.86% giảm đi
1
Khoa ngoại Thần kinh, Bệnh viện tỉnh Phú Thọ
Chịu trách nhiệm chính: Hà Xuân Tài
Email: xuantaiha@gmail.com
Ngày nhận bài: 15.10.2022
Ngày phản biện khoa học: 21.10.2022
Ngày duyệt bài: 31.10.2022
so với trước phẫu thuật 21,8 ± 13,60% Có ý nghĩa thống kê với p < 0,01, Macnab rất tốt 26,7%, tốt 70%, trung bình 3,3%
Kết luận: Phương pháp phẫu thuật thay đĩa
đệm nhân tạo một tầng có khớp toàn phần (BAGUERA) điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống
cổ cho kết quả tốt, đường mổ nhỏ, thời gian phẫu thuật ngắn, ít mất máu, cải thiện tốt triệu chứng đau cổ, tay, hồi phục chức năng cột sống tốt cũng như chức phận tủy cổ
Từ khóa: Thoát vị đĩa đệm cổ; Đĩa đệm nhân
tạo BAGUERA; Phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần (Baguera)
SUMMARY
Objective: To evaluate the initial results of a
fully articulated artificial disc replacement surgery (BAGUERA) for the treatment of cervical disc herniation
Subjects and methods: non-controlled
prospective prospective study of 30 cases of single- level cervical disc herniation surgery at the Department of Neurology, Phu Tho Provincial Hospital from January to September
2021
Results: 30 patients with single-level
cervical disc herniation had been disc replacement surgery by (BAGUERA): mean surgery time 88.7 ± 19.37 minutes, mean blood loss 68.3 ± 31.57 ml did not require blood transfusion during surgery, complications in ruptured marrow membrane 3.3%, average re-examination time 2.8 ± 0.95 months Mean VAS improved neck and hand pain at the time of
Trang 2re-examination: 6.7 ± 0.69 compared with 3.3 ±
0.16 and 4.4 ± 1.04 points vs 1.7 ± 0.99 points
Compared with before surgery, there is statistical
significance with p<0.01 Spinal function JOA
average postoperative time and re-examination 3
months postoperative recovery: 13.1 ± 2.00
points compared with 17.5 ± 1.47 points
Compared with pre-surgery statistically
significant with p <0.01, mean NDI 64.9 ±
11.86% decreased compared to before surgery
21.8 ± 13.60% Statistically significant with p
<0,01, Macnab very good 26.7%, good 70%,
average 3.3%
Conclusion: The BAGUERA single- level
artificial disc herniation surgery method for
cervical disc herniation has good results, small
incision, short surgery time, less blood loss,
improved good symptom of neck pain, hand
pain, good spinal rehabilitation as well as neck
marrow function
Keywords: Neck disc herniation; BAGUERA
artificial cushion; Surgery to replace artificial
disc with complete joint (Baguera)
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là nguyên
nhân chính gây ra chèn ép thần kinh cổ
Người đầu tiên mô tả bệnh lý này là Gutzeit
một tác giả người Đức (1927) nhân một
trường hợp chèn ép rễ thần kinh cổ 6 do đĩa
đệm[1]
Điều trị phẫu thuật được đặt ra khi điều
trị nội khoa khoảng 6 tuần đúng phác đồ
không hiệu quả Mục đích của điều trị ngoại
khoa là giải phóng chèn ép thần kinh, đồng
thời duy trì được chức năng của cột sống
cổ[2], [4]
Về điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ,
điều trị nội khoa đã được đề cập từ lâu, bên
cạnh đó điều trị ngoại khoa với mục đích giải
phóng chèn ép tuỷ và rễ thần kinh, trả lại khả
năng hoạt động bình thường cho bệnh nhân
đã được chú trọng
Phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là lấy đĩa đệm, giải ép, hàn xương liên thân đốt đã được áp dụng rộng rãi ở các bệnh viện trung ương cũng như bệnh viện tuyến tỉnh, nhưng kết quả điều trị vẫn không đạt được lý tưởng về chức năng và sinh lý cột sống Tuy vậy các đĩa đệm nhân tạo ra đời năm 1999 CERVIDISC, 2004 CERVIDDISC EVOLUTION, 2006 DISCOCERV, 2015 DCI đã phần nào khắc phục được một số điểm trên nhưng vẫn còn hạn chế như tính năng hấp thụ các chấn động shock và rung chưa tốt, tính ổn định ngay từ ban đầu để chống bung chưa có, nhân đệm di động chưa được kiểm soát tốt để giúp chuyển động gây ảnh hưởng liên tiếp đến diện khớp
và chưa hoàn toàn có sự tương hợp về chất liệu giúp chụp MRI kiểm soát tốt sau phẫu thuật Đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần
BAGUERA ra đời khắc phục được những
nhược điểm mà các phương pháp điều trị trước đây[12] Vì vậy chúng tôi nghiên cứu
đề tài; “Kết quả bước đầu phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần BAGUERA điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ”
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
30 BN được chẩn đoán xác định TVĐĐ cột sống cổ một tầng, phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần BAGUERA tại Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện tỉnh Phú Thọ từ tháng 1 đến 9 năm 2020
Tiêu chuẩn lựa chọn: BN được chẩn đoán xác định TVĐĐ cột sống cổ một tầng
từ C3- C7 dựa vào tiêu chuẩn lâm sàng và hình ảnh MRI:
- Bệnh nhân TVĐĐ cột sống cổ có triệu chứng không đáp ứng với điều trị bảo tồn trong 6 tuần
Trang 3- Các triệu chứng TVĐĐ cột sống cổ tiến
triển
- Các triệu chứng tiến triển thoái hóa đốt
sống +/- mất chiều cao đĩa đệm
- MRI với tương quan bệnh lý
- Tuổi > 18 tuổi
Tiêu chuẩn loại trừ: BN mất vững cột
sống cổ, loãng xương (đo mật độ xương
chỉ số T-score ≤ -2,0), có tiền sử phẫu
thuật TVĐĐ cột sống cổ, không đầy đủ hồ
sơ nghiên cứu
Đĩa đệm BAGUERA: Hãng sản xuất:
Spineart; tiêu chuẩn: Châu Âu
Cấu trúc khác biệt và hiệu quả của đĩa đệm: Thiết kế nổi bật nhờ vào vật liệu mặt trong đĩa được làm từ Diamolith, chịu được
độ cứng chỉ sau kim cương (3000N), vật liệu láng mịn, giảm bào mòn nhân đĩa đệm Cố định tiên phát nhờ vào 6 đinh ở mặt ngoài 2 đĩa trên và đĩa dưới Tính năng hấp thụ các chấn động shock và rung tốt, tính ổn định ngay từ ban đầu để chống bung, nhân đệm di động được kiểm soát tốt giúp chuyển động không ảnh hưởng liên tiếp đến diện khớp, có
sự tương hợp về chất liệu giúp chụp MRI kiểm soát tốt sau phẫu thuật[12]
Hình 0.1: Cấu trúc và hiệu quả của đĩa đệm BAGUERA
Trang 42.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo dõi dọc,
không đối chứng
Chỉ tiêu nghiên cứu:
- Tuổi, giới
- Các hình thái TVĐĐ cột sống cổ trên
MRI
- Kết quả trong mổ, thời gian mổ, lượng
máu mất, tai biến, biến chứng: chảy máu,
tổn thương tạng vùng cổ trước, nhiễm trùng
- So sánh mức độ đau cổ, đau tay, chỉ số
giảm chức năng cột sống cổ, mức độ tổn
thương tủy sau điều trị tại thời điểm ra
viện, sau 3 tháng so với trước phẫu thuật:
Mức độ đau theo thang điểm VAS, chỉ số
giảm chức năng cột sống cổ (NDI), Mức độ tổn thương tủy dựa vào thang điểm JOA của Benzel (1991) trên BN có hội chứng chèn ép tủy cổ và hội chứng chèn ép tủy - rễ [5]
- Đánh giá mức độ phục hồi về chức năng thần kinh trước và sau 3 tháng phẫu thuật, kết quả sau 3 tháng phẫu thuật theo Macnab
- Đánh giá biên độ chức năng cột sống trước và sau mổ 3 tháng trên phim chụp XQ thẳng, nghiêng và cúi ngửa trước sau
- Chẩn đoán hình ảnh sau khám lại 3 tháng
- Phân tích số liệu dựa trên phần mềm thống kê y học SPSS 19.0
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm phân bố về tuổi và giới:
Bảng 3.1: Phân bố tuổi của bệnh nhân
Nhận xét:
- Tuổi trung bình của nhóm nghiên
cứu X ±SD = 42,1 ± 11,04 tuổi
- Tuổi nhỏ nhất 33 tuổi, tuổi lớn nhất là
79 tuổi
- Độ tuổi hay gặp nhất là 40 – 49 tuổi chiếm 43,4 %
- Ít gặp nhóm người bệnh trên 70 tuổi, nhóm này chỉ chiếm tỷ lệ 3,3 %
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ phân bố theo giới
Trang 5Nhận xét:
- Trong nghiên cứu của chúng tôi số người bệnh nam chiếm tỷ lệ 43,3%, nữ 56,7%
- Tỷ lệ nam/nữ ≈ 1,13 Không có sự khác biệt về giới trong bệnh lý thoát vị đĩa đệm cột sống cổ
3.2 Các hình thái thoát vị đĩa đệm trên MRI:
Bảng 3.2: Các hình thái TVĐĐ cổ trên MRI
Ra sau
100
Thoát vị cạnh trung tâm (P) 8 26,7 Thoát vị cạnh trung tâm (T) 9 30,0 Thoát vị vào lỗ ghép (P) 1 3,3 Thoát vị vào lỗ ghép (T) 0
Nhận xét:
- Không gặp trường hợp nào thoát vị ra trước hay thoát vị vào thân đốt sống
- 100% thoát vị ra sau chiếm tổng số người bệnh thuộc nhóm nghiên cứu Trong đó thoát
vị trung tâm chiếm 40,0%, thoát vị vào lỗ ghép chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,3%, không gặp trường hợp nào thoát vị di trú
3.3 Đánh giá mức độ đau theo VAS
Bảng 3.3: Triệu chứng đau trước mổ, hậu phẫu và khám lại 3 tháng
Trước mổ
Trước mổ
Sau 3 tháng
Sau 3 tháng
Nhận xét:Trước mổ, điểm VAS đo được ở cổ và tay lần lượt VAS trung bình X ±SD =
6,7 ± 0,69 điểm, X ±SD = 4,4 ± 1,04 điểm tại cổ và tay Tại thời điểm khám lại sau 3 tháng,
VAS cổ và tay tiếp tục giảm
Trang 63.4 Cải thiện mức độ NDI
Bảng 3.4: Đánh giá cải thiện chức năng cột sống cổ khi khám lại sau 3 tháng
Ảnh hưởng nhẹ (10% < NDI ≤ 30%) 0 0 16 53,3 Ảnh hưởng trung bình ( 30% < NDI ≤ 50%) 2 6,7 5 16,7 Ảnh hưởng nặng (50% < NDI ≤ 70% ) 12 40,0 1 3,3
Ảnh hưởng hoàn toàn (NDI > 80%) 16 53,3 0 0
Nhận xét:Về cải thiện chức năng cột sống cổ: trước phẫu thuật NDI trung bình trước mổ
64,9 ± 11.86 %, trong đó đa số BN ở mức độ ảnh hưởng nhẹ và trung bình (NDI nhỏ nhất 16,7%, lớn nhất 53,3%)
3.5 Hồi phục chức phận tủy theo thang điểm JOA
Bảng 3.5: Điểm JOA trước mổ, hậu phẫu và khi khám lại sau 3 tháng
Nhận xét:Trước mổ: JOA trung bình X ±SD = 8,6 ± 1,55 điểm, sau mổ: JOA trung bình
X ±SD =13,1 ± 2,00 điểm, sau 3 tháng khám lại
20,15 5,54
5,00 10,00 Trước điều trị 1 ngày 1 tuần 1 tháng 3 tháng Roland
±SD =17,5 ± 1,47 điểm
3.6 Đánh giá mức độ phục hồi về chức năng thần kinh trước và sau phẫu thuật
Bảng 3.6: Mức độ phục hồi chức năng thần kinh trước và sau phẫu thuật 3 tháng
Tổn thương thần kinh (%) trước mổ
Tổn thương
Chèn ép rễ
TK bên trái
Chèn ép rễ
TK bên phải
Chèn ép rễ
TK 2 bên
Rối loạn cảm giác
Rối loạn vận động
Chức
năng
thần
kinh
(%)
Sau 3
tháng
Cải thiện
rất tốt
(30,0%) (36,7%) (33,3%) (56,0%) (43,0%) 3/9 (33,3%) 3/11 (27,2%) 2/10 (2,5%) 3/17
(17,6%)
5/13 (38,4%) Cải thiện
tốt (76,7%) (72,8%) (4,2%) (76,5%) (46,0%)
TB hay
không
thay đổi
Trang 7Nhận xét: Phục hồi về chức năng thần kinh trong nghiên cứu của chúng tôi sau 3 tháng
phẫu thuật Mức độ cải thiện rất tốt 26,7% trong đó chèn ép thần kinh lệch bên là chủ yếu chiếm 60,5% Mức độ cải thiện tốt 70,0% Không thay đổi 3,3%
3.7 Đánh giá bệnh nhân sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm Macnab
Bảng 3.7: Bảng Macnab đánh giá bệnh nhân sau 3 tháng phẫu thuật
Nhận xét: 8/30 (26,7%) trong nhóm nghiên cứu có kết quả phẫu thuật rất tốt, BN không
còn cảm thấy đau, hay hạn chế trong sinh hoạt hàng ngày Làm việc trở lại bình thường 21/30 (70%) BN có kết quả phẫu thuật tốt 3,3%
3.8 Đánh giá biên độ chức năng cột sống trước và sau mổ
Trong 30 BN trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi đều được chụp XQ cột sống cổ thẳng, nghiêng và cúi, ngửa theo sinh đường cong sinh lý của cột sống cổ
Hình 0.1: Chụp X quang thẳng nghiêng, cúi ngửa cho thấy đánh giá chỉ số độ cong cột sống cổ (CCI = (a1 + a2 + a3 + a4) / A), chiều cao đĩa đệm (H), ROM của cột sống cổ (a +
b) và ROM của FSU (c + d) [11]
Trên XQ trước phẫu thuật; Cúi giảm < 50
° góc Cobb trung bình(35 °± 1,3°) , ngửa
giảm < 60 ° góc Cobb trung bình( 38 °±
1,6°), nghiêng trái< 45 ° góc Cobb trung
bình (31 °± 1,2°), phải đều giảm < 45 ° góc
Cobb trung bình (33 °± 1,7°)
IV BÀN LUẬN 4.1 Đặc điểm phân bố về tuổi và giới
30 BN TVĐĐ cột sống cổ được phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo một tầng có khớp toàn phần BAGUERA, tuổi trung bình 42,1 ± 11,04, tuổi nhỏ nhất 33, tuổi lớn nhất
là 79, hay gặp 30 - 49 tuổi chiếm 63,4 %, tuổi 50- 79 chiếm 36,6% Tỷ lệ nữ 17/30
Trang 8chiếm 56,7%, nam chiếm tỷ lệ 43,3% Theo
tác giả Nguyễn Trung Kiên và cộng sự năm
2019[3] phẫu thuật cho 46 BN tuổi trung
bình 50,70 ± 10,97; nam: 43,47%; nữ:
56,53% tỷ lệ chúng tôi tỷ lệ giớ tính tương
đồng nhưng về tuổi trung bình thấp hơn so
với tác giả
4.2 Các hình thái thoát vị đĩa đệm trên
MRI
30 BN trong nhóm nghiên cứu của chúng
tôi 100% là TVĐĐ ra sau, không gặp thoát vị
ra trước hay thoát vị vào thân đốt sống Vị trí
TVĐĐ một tầng trong nhóm nghiên cứu
chúng tôi gặp C3-C4 tỷ lệ 16,7%, C4-C5 tỷ
lệ 26,7,0%, C5-C6 tỷ lệ 43,3%,C6-C7 tỷ lệ
13,3% Hình thái TVĐĐ hay gặp nhất là
thoát vị trung tâm chiếm 40,0%, thoát vị vào
lỗ ghép chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,3%, không
gặp trường hợp nào thoát vị di trú Nguyễn
Quốc Dũng(2005)[9] nghiên cứu 52 người
bệnh thoát vị đĩa đệm thấy thoát vị trung tâm
chiếm 71,43%, cạnh trung tâm 25% và thoát
vị vào lỗ liên hợp 3,57% Vũ Văn Hòe,
Hoàng Văn Chiến[10] nghiên cứu thì tỷ lệ
thoát vị trung tâm là 45,45%, cạnh trung tâm
33,33%, thoát vị liên quan đến lỗ liên hợp
21,22% TVĐĐ cột sống cổ thể trung tâm và
cạnh trung tâm chiếm tỷ lệ cao nhất, điều đó
hoàn toàn phù hợp với đặc điểm giải phẫu
của cột sống cổ Do các sợi dây chằng dọc
sau phân bố đồng đều ở mặt trước ống sống
cổ mà không tập chung phân bố ở giữa, đồng
thời vòng sợi đĩa đệm ở phía sau yếu hơn
nửa phía trước đó là nguyên nhân chính là
tăng tỷ lệ TVĐĐ trung tâm và cạnh trung
tâm Giải thích cho điều này chúng tôi thấy
rằng chỉ TVĐĐ ra sau mới gây chèn ép vào
tủy hay rễ thần kinh gây lên các triệu chúng
lâm sàng buộc người bệnh phải đến viện
khám
4.3 Đánh giá mức độ đau theo VAS
VAS trung bình cải thiện đau cổ và tay tại thời điểm khám lại sau 3 tháng: 6,79 ± 0,69 so với 2,9 ± 0,96 và 4,4 ± 1,04 điểm so với 1,7 ± 0,99 điểm Tại thời điểm khám lại sau 3 tháng, VAS cổ và tay tiếp tục giảm
So sánh điểm VAS trước phẫu thuật và tại các thời điểm sau phẫu thuật thấy khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Zhao (2019) cũng cho kết quả VAS cổ, tay trước mổ (VAS trung bình = 5,1 ± 3,2,) giảm xuống lần lượt (VAS trung bình = 1,3 ± 1,7) tại thời điểm khám lại [8] Trần Trung Kiên và cộng sự(2019) trước mổ, điểm VAS đo được
ở cổ và tay lần lượt là 6,74 và 6,33; lúc ra viện thang điểm VAS đã giảm xuống còn 3,78 tại cổ và 3,20 ở tay[3] Cho thấy can thiệp giải ép hiệu quả, loại trừ kích thích lên
hệ thống rễ thần kinh đã giúp dấu hiệu đau giảm dần theo thời gian sau mổ
4.4 Cải thiện mức độ NDI
Về cải thiện chức năng cột sống cổ: trước phẫu thuật NDI trung bình trước mổ 64,9 ± 11.86 %, trong đó đa số BN ở mức độ ảnh hưởng trung bình (NDI nhỏ nhất 16,7%, lớn nhất 53,3%).) BN không còn khó chịu vì cảm giác đau cổ, bản thân đã tự mình thực hiện được công việc sinh hoạt, biểu hiện lâm sàng trước đây đã hết hoặc đỡ nhiều Tại thời điểm kiểm tra lại sau 3 tháng, NDI trung bình khám lại giảm còn 21,8 ± 13,60 % Chúng tôi thấy cải thiện về chức năng cột sống cổ sau phẫu thuật còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như mức độ thoái hóa xương thân đốt, các mỏm khớp, dây chằng .Trần Trung Kiên và cộng sự (2019) đánh giá
về cải thiện chức năng cột sống cổ: trước phẫu thuật, NDI trung bình ước tính 43,52 ± 1,57%, trong đó đa số BN ở mức độ ảnh hưởng trung bình (NDI 30 - 50%)[3] Ramanda theo dõi 17 BN sau 3 tháng, NDI
Trang 9giảm từ 25 ± 9 trước mổ còn 11 ± 9 [7] Như
vậy, nghiên cứu của các giả đều cho thấy
hiệu quả giảm đau sau can thiệp giải ép thần
kinh đã cải thiện tốt chức năng cột sống cổ
Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên
cứu trên, thấy được sự khác biệt trước và
sau mổ có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
4.5 Hồi phục chức phận tủy theo
thang điểm JOA
Trước mổ: JOA trung bình 8,6 ± 1,55
điểm, sau mổ: JOA trung bình 13,1 ± 2,00
điểm, sau 3 tháng khám lại 17,5 ± 1,47 điểm
Như vậy khi so sánh JOA của người bệnh
trước mổ với thời điểm hậu phẫu và thời
điểm khám lại thì điểm JOA tăng lên qua
mỗi lần kiểm tra, có ý nghĩa thống kê với p
<0,01
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy cải
thiện chức phận tủy rõ rệt sau 3 tháng và thời
điểm khám lại, đa số BN hồi phục rất tốt
Cho thấy việc đánh giá vị trí thương tổn
chính xác và phẫu thuật giải ép thần kinh
hiệu quả Tuy nhiên, trong nghiên cứu, vẫn
còn 1BN ở nhóm khám lại sau 3 tháng cải
thiện chèn ép thần kinh không thấy hồi rõ
rệt, do trường hợp này rách màng tủy có
dùng các phương tiện phục hồi màng tủy nên
còn chèn ép Nhưng bệnh nhân này không
gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân
Kết quả của chúng tôi tương đồng với Lê
Trọng Sanh (2010) có kết quả hồi phục từ
12,76 ± 1,79 đến 16,04 ± 1,88 ở lần khám lại
cuối cùng [1], Du J và CS có kết quả điểm
JOA trước mổ 7,5 ± 2,3 tăng lên 15,6 ±
4,3 sau 15,3 tháng[14] Zhao (2019) cho kết
quả sau 10 năm theo dõi hồi phục chức phận
tủy từ 12,8 ± 2,1 lên 15,9 ± 1,1 [8] cho thấy
kết quả hồi phục chức phận tủy rất tốt
4.6 Đánh giá mức độ phục hồi về chức
năng thần kinh trước và sau phẫu thuật
Phục hồi về chức năng thần kinh trong
nghiên cứu của chúng tôi sau 3 tháng phẫu thuật Mức độ cải thiện rất tốt 26,7% trong
đó chèn ép thần kinh lệch bên là chủ yếu chiếm 60,5% Mức độ cải thiện tốt 70,0% Không thay đổi 3,3%
Theo Guy Matgé (2015) và các cộng sự [11] sau 3 tháng phẫu thuật khả năng phục hồi cải thiện tốt chiếm 70,8%, cải thiện trung bình 29,2%, không có trường hợp nào không cải thiện Trong nghiên cứu cửa chúng tôi có 1 trường hợp tổn thương rách màng tủy tỷ lệ can thiệp sau 3 tháng chức năng thần kinh chưa được cải thiện
4.7 Đánh giá bệnh nhân sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm Macnab
8/30 (26,7%) trong nhóm nghiên cứu có kết quả phẫu thuật rất tốt, BN không còn cảm thấy đau, hay hạn chế trong sinh hoạt hàng ngày Làm việc trở lại bình thường 21/30 (70%) BN có kết quả phẫu thuật tốt 3,3% người bệnh có kết quả phẫu thuật trung bình, tuy nhiên đã có sự cải thiện đáng kể so với trước phẫu thuật
4.8 Đánh giá biên độ chức năng cột sống trước và sau mổ
Trong 30 BN trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi đều được chụp XQ cột sống cổ thẳng, nghiêng và cúi, ngửa theo sinh đường cong sinh lý của cột sống cổ
Trên XQ trước phẫu thuật; Cúi giảm < 50
° góc Cobb trung bình(35 °± 1,3°) , ngửa giảm < 60 ° góc Cobb trung bình( 38 °± 1,6°), nghiêng trái< 45 ° góc Cobb trung bình (31 °± 1,2°), phải đều giảm < 45 ° góc Cobb trung bình (33 °± 1,7°)
Trên XQ sau phẫu thuật 3 tháng mức độ vận động tốt, góc Cobb tăng (5 ° -12 °) đạt 26,7%, mức độ vận động tăng góc Cobb tăng (2 ° -5 °) đạt 70,0% và mức độ vận động tăng, góc Cobb tăng (0-2 °) đạt 3,3% Các góc Cobb và chức năng cột sống ( FSU)
Trang 10được cải thiện, cho thấy xu hướng rõ ràng
với lợi ích thay đĩa đệm nhân tạo có khớp
BAGUERA Vận động lớn hơn 2 ° tiến triển
so với ban đầu tại vị trí thay đĩa đệm có thể
bảo toàn diện khớp vận động đạt 96,7%,
trong khi 3,3% còn hạn chế về vận động
Mức độ vận động (ROM) trung bình ở vị trí thay đĩa đệm nhân tạo cho thấy bảo toàn biên vận động và chức năng của cột sống cổ nhất
là ổ các mức liền kề trên và dưới cho thấy duy trì chuyển động học ở mức liền kề rất thích hợp với BAGUERA[12], [13]
Hình 0.1: Mức độ hoạt động của đĩa đệm Baguera
Theo nghiên cứu Guy Matgé (2015) và
các cộng sự [11] thì kết quả lâm sàng và
chụp X quang ít nhất là 24 tháng đánh giá
chụp X quang cho thấy mức độ vận động tốt
(5 ° -12 °) chiếm 57%, giảm giảm vận động
(2 ° -5 °) chiếm 34,5% và vận động ít (0-2 °)
chiếm 8,5% Do đặc điểm nhóm nghiên cứu
trong thời gian ngắn, thời gian người bệnh
đến khám lại sau mổ 3 tháng do đó chúng tôi
chưa đánh giá đầy đủ về biên vận động, chức
năng của cột sống cổ và mức độ có tổn
thương đốt liền kề về sau
4.9 Kết quả trong mổ và các biến
chứng sớm
Thời gian mổ, lượng máu mất trong mổ:
Thời gian phẫu thuật trung bình 88,7 ± 19,47
phút (dài nhất 150 phút, ngắn nhất 85 phút)
Mất máu trung bình 68,3 ± 31,57 ml, chúng
tôi không phải truyền máu cho BN nào,
(mất ít nhất 60 ml, nhiều nhất 100 ml)
Nguyễn Trung Kiên và cộng sự (2019) phẫu
tuật cho 46 trường hợp, thời gian phẫu thuật
trung bình 65,33 ± 16,38 phút, không phải
truyền máu trong mổ (lượng máu mất trung
bình 65,87 ± 26,21 ml[3] Pimenta nghiên cứu trên 53 BN từ năm 2002 - 2003, phẫu thuật thay một tầng đĩa đệm cột sống cổ có thời gian mổ 50 phút, lượng máu mất khoảng
50 ml[6] Năm 2007, Ramadan thay đĩa đệm cổ loại Discocerv cho 17 BN, thời gian
mổ trung bình 67,1 ± 20,2 phút (ngắn nhất 35 phút, dài nhất 120 phút[7] Kết quả của chúng tôi cao hơn so với các nghiên cứu trên Bởi đây cũng là phương tiện và dụng cụ thay thế mới chúng tôi mới bắt đầu triển khai kỹ thuật do vậy mà mức độ thành thạo của phẫu thuật viên ảnh hưởng đến thời gian phẫu thuật và lượng máu mất trong mổ Trong mổ chúng tôi có sử dụng thấy kính vi phẫu giúp quan sát tổn thương trong mổ dễ dàng hơn và
sử dụng khoan mài cao tốc để giải quyết các nguyên nhân gây chèn ép rễ thần kinh và tủy sống.Trong mổ, chúng tôi gặp tai biến rách nhưng không mất đoạn màng tủy chiếm 3,3% do khối thoát vị canxi hóa, chúng tôi đặt cơ, surgisel, spongostan lớp mỏng, dùng khoan mài cao tốc không gặp chảy máu, tổn thương tạng hay phẫu thuật nhầm tầng