1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần (BAGUERA) điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ tại Bệnh viện tỉnh Phú Thọ

13 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần (BAGUERA) điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ tại Bệnh viện tỉnh Phú Thọ
Tác giả Nguyễn Văn Sơn, Hà Xuân Tài, Nguyễn Xuân Trường, Vương Quang Uyển
Trường học Bệnh viện tỉnh Phú Thọ
Chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình và phẫu thuật cột sống
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 695,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần (BAGUERA) điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ tại Bệnh viện tỉnh Phú Thọ trình bày đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần (BAGUERA) điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT THAY ĐĨA ĐỆM NHÂN TẠO CÓ KHỚP TOÀN PHẦN (BAGUERA) ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM

CỘT SỐNG CỔ TẠI BỆNH VIỆN TỈNH PHÚ THỌ

Nguyễn Văn Sơn 1 , Hà Xuân Tài 1 , Nguyễn Xuân Trường 1 , Vương Quang Uyển 1 TÓM TẮT 56

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu phẫu

thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần

(BAGUERA) điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống

cổ

Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô

tả tiến cứu không đối chứng 30 trường hợp

được phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

một tầng tại Khoa Ngoại Thần Kinh, Bệnh viện

Tỉnh Phú Thọ từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2021

Kết quả: 30 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột

sống cổ một tầng được phẫu thuật thay đĩa đệm

nhân tạo có khớp toàn phần (BAGUERA): thời

gian phẫu thuật trung bình 88,7 ± 19,37 phút, mất

máu trung bình 68,3 ± 31,57 ml chưa phải truyền

máu trong mổ, biến chứng trong mổ rách màng

tủy 3,3%, thời gian khám lại trung bình 2,8 ±

0,95 tháng VAS trung bình cải thiện đau cổ và

tay tại thời điểm khám lại: 6,7 ± 0,69 so với 3,3

± 0,16 và 4,4 ± 1,04 điểm so với 1,7 ± 0,99 điểm

So với trước phẫu thuật có ý nghĩa thống kê với p

< 0.01 Chức năng cột sống JOA trung bình thời

điểm hậu phẫu và khám lại sau mổ 3 tháng hồi

phục:13,1 ± 2,00 điểm so với 17,5 ± 1,47 điểm

So với trước phẫu thuật có ý nghĩa thống kê với p

< 0,01, NDI trung bình 64,9 ± 11.86% giảm đi

1

Khoa ngoại Thần kinh, Bệnh viện tỉnh Phú Thọ

Chịu trách nhiệm chính: Hà Xuân Tài

Email: xuantaiha@gmail.com

Ngày nhận bài: 15.10.2022

Ngày phản biện khoa học: 21.10.2022

Ngày duyệt bài: 31.10.2022

so với trước phẫu thuật 21,8 ± 13,60% Có ý nghĩa thống kê với p < 0,01, Macnab rất tốt 26,7%, tốt 70%, trung bình 3,3%

Kết luận: Phương pháp phẫu thuật thay đĩa

đệm nhân tạo một tầng có khớp toàn phần (BAGUERA) điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống

cổ cho kết quả tốt, đường mổ nhỏ, thời gian phẫu thuật ngắn, ít mất máu, cải thiện tốt triệu chứng đau cổ, tay, hồi phục chức năng cột sống tốt cũng như chức phận tủy cổ

Từ khóa: Thoát vị đĩa đệm cổ; Đĩa đệm nhân

tạo BAGUERA; Phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần (Baguera)

SUMMARY

Objective: To evaluate the initial results of a

fully articulated artificial disc replacement surgery (BAGUERA) for the treatment of cervical disc herniation

Subjects and methods: non-controlled

prospective prospective study of 30 cases of single- level cervical disc herniation surgery at the Department of Neurology, Phu Tho Provincial Hospital from January to September

2021

Results: 30 patients with single-level

cervical disc herniation had been disc replacement surgery by (BAGUERA): mean surgery time 88.7 ± 19.37 minutes, mean blood loss 68.3 ± 31.57 ml did not require blood transfusion during surgery, complications in ruptured marrow membrane 3.3%, average re-examination time 2.8 ± 0.95 months Mean VAS improved neck and hand pain at the time of

Trang 2

re-examination: 6.7 ± 0.69 compared with 3.3 ±

0.16 and 4.4 ± 1.04 points vs 1.7 ± 0.99 points

Compared with before surgery, there is statistical

significance with p<0.01 Spinal function JOA

average postoperative time and re-examination 3

months postoperative recovery: 13.1 ± 2.00

points compared with 17.5 ± 1.47 points

Compared with pre-surgery statistically

significant with p <0.01, mean NDI 64.9 ±

11.86% decreased compared to before surgery

21.8 ± 13.60% Statistically significant with p

<0,01, Macnab very good 26.7%, good 70%,

average 3.3%

Conclusion: The BAGUERA single- level

artificial disc herniation surgery method for

cervical disc herniation has good results, small

incision, short surgery time, less blood loss,

improved good symptom of neck pain, hand

pain, good spinal rehabilitation as well as neck

marrow function

Keywords: Neck disc herniation; BAGUERA

artificial cushion; Surgery to replace artificial

disc with complete joint (Baguera)

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là nguyên

nhân chính gây ra chèn ép thần kinh cổ

Người đầu tiên mô tả bệnh lý này là Gutzeit

một tác giả người Đức (1927) nhân một

trường hợp chèn ép rễ thần kinh cổ 6 do đĩa

đệm[1]

Điều trị phẫu thuật được đặt ra khi điều

trị nội khoa khoảng 6 tuần đúng phác đồ

không hiệu quả Mục đích của điều trị ngoại

khoa là giải phóng chèn ép thần kinh, đồng

thời duy trì được chức năng của cột sống

cổ[2], [4]

Về điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ,

điều trị nội khoa đã được đề cập từ lâu, bên

cạnh đó điều trị ngoại khoa với mục đích giải

phóng chèn ép tuỷ và rễ thần kinh, trả lại khả

năng hoạt động bình thường cho bệnh nhân

đã được chú trọng

Phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là lấy đĩa đệm, giải ép, hàn xương liên thân đốt đã được áp dụng rộng rãi ở các bệnh viện trung ương cũng như bệnh viện tuyến tỉnh, nhưng kết quả điều trị vẫn không đạt được lý tưởng về chức năng và sinh lý cột sống Tuy vậy các đĩa đệm nhân tạo ra đời năm 1999 CERVIDISC, 2004 CERVIDDISC EVOLUTION, 2006 DISCOCERV, 2015 DCI đã phần nào khắc phục được một số điểm trên nhưng vẫn còn hạn chế như tính năng hấp thụ các chấn động shock và rung chưa tốt, tính ổn định ngay từ ban đầu để chống bung chưa có, nhân đệm di động chưa được kiểm soát tốt để giúp chuyển động gây ảnh hưởng liên tiếp đến diện khớp

và chưa hoàn toàn có sự tương hợp về chất liệu giúp chụp MRI kiểm soát tốt sau phẫu thuật Đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần

BAGUERA ra đời khắc phục được những

nhược điểm mà các phương pháp điều trị trước đây[12] Vì vậy chúng tôi nghiên cứu

đề tài; “Kết quả bước đầu phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần BAGUERA điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ”

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

30 BN được chẩn đoán xác định TVĐĐ cột sống cổ một tầng, phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo có khớp toàn phần BAGUERA tại Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện tỉnh Phú Thọ từ tháng 1 đến 9 năm 2020

Tiêu chuẩn lựa chọn: BN được chẩn đoán xác định TVĐĐ cột sống cổ một tầng

từ C3- C7 dựa vào tiêu chuẩn lâm sàng và hình ảnh MRI:

- Bệnh nhân TVĐĐ cột sống cổ có triệu chứng không đáp ứng với điều trị bảo tồn trong 6 tuần

Trang 3

- Các triệu chứng TVĐĐ cột sống cổ tiến

triển

- Các triệu chứng tiến triển thoái hóa đốt

sống +/- mất chiều cao đĩa đệm

- MRI với tương quan bệnh lý

- Tuổi > 18 tuổi

Tiêu chuẩn loại trừ: BN mất vững cột

sống cổ, loãng xương (đo mật độ xương

chỉ số T-score ≤ -2,0), có tiền sử phẫu

thuật TVĐĐ cột sống cổ, không đầy đủ hồ

sơ nghiên cứu

Đĩa đệm BAGUERA: Hãng sản xuất:

Spineart; tiêu chuẩn: Châu Âu

Cấu trúc khác biệt và hiệu quả của đĩa đệm: Thiết kế nổi bật nhờ vào vật liệu mặt trong đĩa được làm từ Diamolith, chịu được

độ cứng chỉ sau kim cương (3000N), vật liệu láng mịn, giảm bào mòn nhân đĩa đệm Cố định tiên phát nhờ vào 6 đinh ở mặt ngoài 2 đĩa trên và đĩa dưới Tính năng hấp thụ các chấn động shock và rung tốt, tính ổn định ngay từ ban đầu để chống bung, nhân đệm di động được kiểm soát tốt giúp chuyển động không ảnh hưởng liên tiếp đến diện khớp, có

sự tương hợp về chất liệu giúp chụp MRI kiểm soát tốt sau phẫu thuật[12]

Hình 0.1: Cấu trúc và hiệu quả của đĩa đệm BAGUERA

Trang 4

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo dõi dọc,

không đối chứng

Chỉ tiêu nghiên cứu:

- Tuổi, giới

- Các hình thái TVĐĐ cột sống cổ trên

MRI

- Kết quả trong mổ, thời gian mổ, lượng

máu mất, tai biến, biến chứng: chảy máu,

tổn thương tạng vùng cổ trước, nhiễm trùng

- So sánh mức độ đau cổ, đau tay, chỉ số

giảm chức năng cột sống cổ, mức độ tổn

thương tủy sau điều trị tại thời điểm ra

viện, sau 3 tháng so với trước phẫu thuật:

Mức độ đau theo thang điểm VAS, chỉ số

giảm chức năng cột sống cổ (NDI), Mức độ tổn thương tủy dựa vào thang điểm JOA của Benzel (1991) trên BN có hội chứng chèn ép tủy cổ và hội chứng chèn ép tủy - rễ [5]

- Đánh giá mức độ phục hồi về chức năng thần kinh trước và sau 3 tháng phẫu thuật, kết quả sau 3 tháng phẫu thuật theo Macnab

- Đánh giá biên độ chức năng cột sống trước và sau mổ 3 tháng trên phim chụp XQ thẳng, nghiêng và cúi ngửa trước sau

- Chẩn đoán hình ảnh sau khám lại 3 tháng

- Phân tích số liệu dựa trên phần mềm thống kê y học SPSS 19.0

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm phân bố về tuổi và giới:

Bảng 3.1: Phân bố tuổi của bệnh nhân

Nhận xét:

- Tuổi trung bình của nhóm nghiên

cứu X ±SD = 42,1 ± 11,04 tuổi

- Tuổi nhỏ nhất 33 tuổi, tuổi lớn nhất là

79 tuổi

- Độ tuổi hay gặp nhất là 40 – 49 tuổi chiếm 43,4 %

- Ít gặp nhóm người bệnh trên 70 tuổi, nhóm này chỉ chiếm tỷ lệ 3,3 %

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ phân bố theo giới

Trang 5

Nhận xét:

- Trong nghiên cứu của chúng tôi số người bệnh nam chiếm tỷ lệ 43,3%, nữ 56,7%

- Tỷ lệ nam/nữ ≈ 1,13 Không có sự khác biệt về giới trong bệnh lý thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

3.2 Các hình thái thoát vị đĩa đệm trên MRI:

Bảng 3.2: Các hình thái TVĐĐ cổ trên MRI

Ra sau

100

Thoát vị cạnh trung tâm (P) 8 26,7 Thoát vị cạnh trung tâm (T) 9 30,0 Thoát vị vào lỗ ghép (P) 1 3,3 Thoát vị vào lỗ ghép (T) 0

Nhận xét:

- Không gặp trường hợp nào thoát vị ra trước hay thoát vị vào thân đốt sống

- 100% thoát vị ra sau chiếm tổng số người bệnh thuộc nhóm nghiên cứu Trong đó thoát

vị trung tâm chiếm 40,0%, thoát vị vào lỗ ghép chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,3%, không gặp trường hợp nào thoát vị di trú

3.3 Đánh giá mức độ đau theo VAS

Bảng 3.3: Triệu chứng đau trước mổ, hậu phẫu và khám lại 3 tháng

Trước mổ

Trước mổ

Sau 3 tháng

Sau 3 tháng

Nhận xét:Trước mổ, điểm VAS đo được ở cổ và tay lần lượt VAS trung bình X ±SD =

6,7 ± 0,69 điểm, X ±SD = 4,4 ± 1,04 điểm tại cổ và tay Tại thời điểm khám lại sau 3 tháng,

VAS cổ và tay tiếp tục giảm

Trang 6

3.4 Cải thiện mức độ NDI

Bảng 3.4: Đánh giá cải thiện chức năng cột sống cổ khi khám lại sau 3 tháng

Ảnh hưởng nhẹ (10% < NDI ≤ 30%) 0 0 16 53,3 Ảnh hưởng trung bình ( 30% < NDI ≤ 50%) 2 6,7 5 16,7 Ảnh hưởng nặng (50% < NDI ≤ 70% ) 12 40,0 1 3,3

Ảnh hưởng hoàn toàn (NDI > 80%) 16 53,3 0 0

Nhận xét:Về cải thiện chức năng cột sống cổ: trước phẫu thuật NDI trung bình trước mổ

64,9 ± 11.86 %, trong đó đa số BN ở mức độ ảnh hưởng nhẹ và trung bình (NDI nhỏ nhất 16,7%, lớn nhất 53,3%)

3.5 Hồi phục chức phận tủy theo thang điểm JOA

Bảng 3.5: Điểm JOA trước mổ, hậu phẫu và khi khám lại sau 3 tháng

Nhận xét:Trước mổ: JOA trung bình X ±SD = 8,6 ± 1,55 điểm, sau mổ: JOA trung bình

X ±SD =13,1 ± 2,00 điểm, sau 3 tháng khám lại

20,15 5,54

5,00 10,00 Trước điều trị 1 ngày 1 tuần 1 tháng 3 tháng Roland

±SD =17,5 ± 1,47 điểm

3.6 Đánh giá mức độ phục hồi về chức năng thần kinh trước và sau phẫu thuật

Bảng 3.6: Mức độ phục hồi chức năng thần kinh trước và sau phẫu thuật 3 tháng

Tổn thương thần kinh (%) trước mổ

Tổn thương

Chèn ép rễ

TK bên trái

Chèn ép rễ

TK bên phải

Chèn ép rễ

TK 2 bên

Rối loạn cảm giác

Rối loạn vận động

Chức

năng

thần

kinh

(%)

Sau 3

tháng

Cải thiện

rất tốt

(30,0%) (36,7%) (33,3%) (56,0%) (43,0%) 3/9 (33,3%) 3/11 (27,2%) 2/10 (2,5%) 3/17

(17,6%)

5/13 (38,4%) Cải thiện

tốt (76,7%) (72,8%) (4,2%) (76,5%) (46,0%)

TB hay

không

thay đổi

Trang 7

Nhận xét: Phục hồi về chức năng thần kinh trong nghiên cứu của chúng tôi sau 3 tháng

phẫu thuật Mức độ cải thiện rất tốt 26,7% trong đó chèn ép thần kinh lệch bên là chủ yếu chiếm 60,5% Mức độ cải thiện tốt 70,0% Không thay đổi 3,3%

3.7 Đánh giá bệnh nhân sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm Macnab

Bảng 3.7: Bảng Macnab đánh giá bệnh nhân sau 3 tháng phẫu thuật

Nhận xét: 8/30 (26,7%) trong nhóm nghiên cứu có kết quả phẫu thuật rất tốt, BN không

còn cảm thấy đau, hay hạn chế trong sinh hoạt hàng ngày Làm việc trở lại bình thường 21/30 (70%) BN có kết quả phẫu thuật tốt 3,3%

3.8 Đánh giá biên độ chức năng cột sống trước và sau mổ

Trong 30 BN trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi đều được chụp XQ cột sống cổ thẳng, nghiêng và cúi, ngửa theo sinh đường cong sinh lý của cột sống cổ

Hình 0.1: Chụp X quang thẳng nghiêng, cúi ngửa cho thấy đánh giá chỉ số độ cong cột sống cổ (CCI = (a1 + a2 + a3 + a4) / A), chiều cao đĩa đệm (H), ROM của cột sống cổ (a +

b) và ROM của FSU (c + d) [11]

Trên XQ trước phẫu thuật; Cúi giảm < 50

° góc Cobb trung bình(35 °± 1,3°) , ngửa

giảm < 60 ° góc Cobb trung bình( 38 °±

1,6°), nghiêng trái< 45 ° góc Cobb trung

bình (31 °± 1,2°), phải đều giảm < 45 ° góc

Cobb trung bình (33 °± 1,7°)

IV BÀN LUẬN 4.1 Đặc điểm phân bố về tuổi và giới

30 BN TVĐĐ cột sống cổ được phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo một tầng có khớp toàn phần BAGUERA, tuổi trung bình 42,1 ± 11,04, tuổi nhỏ nhất 33, tuổi lớn nhất

là 79, hay gặp 30 - 49 tuổi chiếm 63,4 %, tuổi 50- 79 chiếm 36,6% Tỷ lệ nữ 17/30

Trang 8

chiếm 56,7%, nam chiếm tỷ lệ 43,3% Theo

tác giả Nguyễn Trung Kiên và cộng sự năm

2019[3] phẫu thuật cho 46 BN tuổi trung

bình 50,70 ± 10,97; nam: 43,47%; nữ:

56,53% tỷ lệ chúng tôi tỷ lệ giớ tính tương

đồng nhưng về tuổi trung bình thấp hơn so

với tác giả

4.2 Các hình thái thoát vị đĩa đệm trên

MRI

30 BN trong nhóm nghiên cứu của chúng

tôi 100% là TVĐĐ ra sau, không gặp thoát vị

ra trước hay thoát vị vào thân đốt sống Vị trí

TVĐĐ một tầng trong nhóm nghiên cứu

chúng tôi gặp C3-C4 tỷ lệ 16,7%, C4-C5 tỷ

lệ 26,7,0%, C5-C6 tỷ lệ 43,3%,C6-C7 tỷ lệ

13,3% Hình thái TVĐĐ hay gặp nhất là

thoát vị trung tâm chiếm 40,0%, thoát vị vào

lỗ ghép chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,3%, không

gặp trường hợp nào thoát vị di trú Nguyễn

Quốc Dũng(2005)[9] nghiên cứu 52 người

bệnh thoát vị đĩa đệm thấy thoát vị trung tâm

chiếm 71,43%, cạnh trung tâm 25% và thoát

vị vào lỗ liên hợp 3,57% Vũ Văn Hòe,

Hoàng Văn Chiến[10] nghiên cứu thì tỷ lệ

thoát vị trung tâm là 45,45%, cạnh trung tâm

33,33%, thoát vị liên quan đến lỗ liên hợp

21,22% TVĐĐ cột sống cổ thể trung tâm và

cạnh trung tâm chiếm tỷ lệ cao nhất, điều đó

hoàn toàn phù hợp với đặc điểm giải phẫu

của cột sống cổ Do các sợi dây chằng dọc

sau phân bố đồng đều ở mặt trước ống sống

cổ mà không tập chung phân bố ở giữa, đồng

thời vòng sợi đĩa đệm ở phía sau yếu hơn

nửa phía trước đó là nguyên nhân chính là

tăng tỷ lệ TVĐĐ trung tâm và cạnh trung

tâm Giải thích cho điều này chúng tôi thấy

rằng chỉ TVĐĐ ra sau mới gây chèn ép vào

tủy hay rễ thần kinh gây lên các triệu chúng

lâm sàng buộc người bệnh phải đến viện

khám

4.3 Đánh giá mức độ đau theo VAS

VAS trung bình cải thiện đau cổ và tay tại thời điểm khám lại sau 3 tháng: 6,79 ± 0,69 so với 2,9 ± 0,96 và 4,4 ± 1,04 điểm so với 1,7 ± 0,99 điểm Tại thời điểm khám lại sau 3 tháng, VAS cổ và tay tiếp tục giảm

So sánh điểm VAS trước phẫu thuật và tại các thời điểm sau phẫu thuật thấy khác biệt

có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Zhao (2019) cũng cho kết quả VAS cổ, tay trước mổ (VAS trung bình = 5,1 ± 3,2,) giảm xuống lần lượt (VAS trung bình = 1,3 ± 1,7) tại thời điểm khám lại [8] Trần Trung Kiên và cộng sự(2019) trước mổ, điểm VAS đo được

ở cổ và tay lần lượt là 6,74 và 6,33; lúc ra viện thang điểm VAS đã giảm xuống còn 3,78 tại cổ và 3,20 ở tay[3] Cho thấy can thiệp giải ép hiệu quả, loại trừ kích thích lên

hệ thống rễ thần kinh đã giúp dấu hiệu đau giảm dần theo thời gian sau mổ

4.4 Cải thiện mức độ NDI

Về cải thiện chức năng cột sống cổ: trước phẫu thuật NDI trung bình trước mổ 64,9 ± 11.86 %, trong đó đa số BN ở mức độ ảnh hưởng trung bình (NDI nhỏ nhất 16,7%, lớn nhất 53,3%).) BN không còn khó chịu vì cảm giác đau cổ, bản thân đã tự mình thực hiện được công việc sinh hoạt, biểu hiện lâm sàng trước đây đã hết hoặc đỡ nhiều Tại thời điểm kiểm tra lại sau 3 tháng, NDI trung bình khám lại giảm còn 21,8 ± 13,60 % Chúng tôi thấy cải thiện về chức năng cột sống cổ sau phẫu thuật còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như mức độ thoái hóa xương thân đốt, các mỏm khớp, dây chằng .Trần Trung Kiên và cộng sự (2019) đánh giá

về cải thiện chức năng cột sống cổ: trước phẫu thuật, NDI trung bình ước tính 43,52 ± 1,57%, trong đó đa số BN ở mức độ ảnh hưởng trung bình (NDI 30 - 50%)[3] Ramanda theo dõi 17 BN sau 3 tháng, NDI

Trang 9

giảm từ 25 ± 9 trước mổ còn 11 ± 9 [7] Như

vậy, nghiên cứu của các giả đều cho thấy

hiệu quả giảm đau sau can thiệp giải ép thần

kinh đã cải thiện tốt chức năng cột sống cổ

Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên

cứu trên, thấy được sự khác biệt trước và

sau mổ có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

4.5 Hồi phục chức phận tủy theo

thang điểm JOA

Trước mổ: JOA trung bình 8,6 ± 1,55

điểm, sau mổ: JOA trung bình 13,1 ± 2,00

điểm, sau 3 tháng khám lại 17,5 ± 1,47 điểm

Như vậy khi so sánh JOA của người bệnh

trước mổ với thời điểm hậu phẫu và thời

điểm khám lại thì điểm JOA tăng lên qua

mỗi lần kiểm tra, có ý nghĩa thống kê với p

<0,01

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy cải

thiện chức phận tủy rõ rệt sau 3 tháng và thời

điểm khám lại, đa số BN hồi phục rất tốt

Cho thấy việc đánh giá vị trí thương tổn

chính xác và phẫu thuật giải ép thần kinh

hiệu quả Tuy nhiên, trong nghiên cứu, vẫn

còn 1BN ở nhóm khám lại sau 3 tháng cải

thiện chèn ép thần kinh không thấy hồi rõ

rệt, do trường hợp này rách màng tủy có

dùng các phương tiện phục hồi màng tủy nên

còn chèn ép Nhưng bệnh nhân này không

gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân

Kết quả của chúng tôi tương đồng với Lê

Trọng Sanh (2010) có kết quả hồi phục từ

12,76 ± 1,79 đến 16,04 ± 1,88 ở lần khám lại

cuối cùng [1], Du J và CS có kết quả điểm

JOA trước mổ 7,5 ± 2,3 tăng lên 15,6 ±

4,3 sau 15,3 tháng[14] Zhao (2019) cho kết

quả sau 10 năm theo dõi hồi phục chức phận

tủy từ 12,8 ± 2,1 lên 15,9 ± 1,1 [8] cho thấy

kết quả hồi phục chức phận tủy rất tốt

4.6 Đánh giá mức độ phục hồi về chức

năng thần kinh trước và sau phẫu thuật

Phục hồi về chức năng thần kinh trong

nghiên cứu của chúng tôi sau 3 tháng phẫu thuật Mức độ cải thiện rất tốt 26,7% trong

đó chèn ép thần kinh lệch bên là chủ yếu chiếm 60,5% Mức độ cải thiện tốt 70,0% Không thay đổi 3,3%

Theo Guy Matgé (2015) và các cộng sự [11] sau 3 tháng phẫu thuật khả năng phục hồi cải thiện tốt chiếm 70,8%, cải thiện trung bình 29,2%, không có trường hợp nào không cải thiện Trong nghiên cứu cửa chúng tôi có 1 trường hợp tổn thương rách màng tủy tỷ lệ can thiệp sau 3 tháng chức năng thần kinh chưa được cải thiện

4.7 Đánh giá bệnh nhân sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm Macnab

8/30 (26,7%) trong nhóm nghiên cứu có kết quả phẫu thuật rất tốt, BN không còn cảm thấy đau, hay hạn chế trong sinh hoạt hàng ngày Làm việc trở lại bình thường 21/30 (70%) BN có kết quả phẫu thuật tốt 3,3% người bệnh có kết quả phẫu thuật trung bình, tuy nhiên đã có sự cải thiện đáng kể so với trước phẫu thuật

4.8 Đánh giá biên độ chức năng cột sống trước và sau mổ

Trong 30 BN trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi đều được chụp XQ cột sống cổ thẳng, nghiêng và cúi, ngửa theo sinh đường cong sinh lý của cột sống cổ

Trên XQ trước phẫu thuật; Cúi giảm < 50

° góc Cobb trung bình(35 °± 1,3°) , ngửa giảm < 60 ° góc Cobb trung bình( 38 °± 1,6°), nghiêng trái< 45 ° góc Cobb trung bình (31 °± 1,2°), phải đều giảm < 45 ° góc Cobb trung bình (33 °± 1,7°)

Trên XQ sau phẫu thuật 3 tháng mức độ vận động tốt, góc Cobb tăng (5 ° -12 °) đạt 26,7%, mức độ vận động tăng góc Cobb tăng (2 ° -5 °) đạt 70,0% và mức độ vận động tăng, góc Cobb tăng (0-2 °) đạt 3,3% Các góc Cobb và chức năng cột sống ( FSU)

Trang 10

được cải thiện, cho thấy xu hướng rõ ràng

với lợi ích thay đĩa đệm nhân tạo có khớp

BAGUERA Vận động lớn hơn 2 ° tiến triển

so với ban đầu tại vị trí thay đĩa đệm có thể

bảo toàn diện khớp vận động đạt 96,7%,

trong khi 3,3% còn hạn chế về vận động

Mức độ vận động (ROM) trung bình ở vị trí thay đĩa đệm nhân tạo cho thấy bảo toàn biên vận động và chức năng của cột sống cổ nhất

là ổ các mức liền kề trên và dưới cho thấy duy trì chuyển động học ở mức liền kề rất thích hợp với BAGUERA[12], [13]

Hình 0.1: Mức độ hoạt động của đĩa đệm Baguera

Theo nghiên cứu Guy Matgé (2015) và

các cộng sự [11] thì kết quả lâm sàng và

chụp X quang ít nhất là 24 tháng đánh giá

chụp X quang cho thấy mức độ vận động tốt

(5 ° -12 °) chiếm 57%, giảm giảm vận động

(2 ° -5 °) chiếm 34,5% và vận động ít (0-2 °)

chiếm 8,5% Do đặc điểm nhóm nghiên cứu

trong thời gian ngắn, thời gian người bệnh

đến khám lại sau mổ 3 tháng do đó chúng tôi

chưa đánh giá đầy đủ về biên vận động, chức

năng của cột sống cổ và mức độ có tổn

thương đốt liền kề về sau

4.9 Kết quả trong mổ và các biến

chứng sớm

Thời gian mổ, lượng máu mất trong mổ:

Thời gian phẫu thuật trung bình 88,7 ± 19,47

phút (dài nhất 150 phút, ngắn nhất 85 phút)

Mất máu trung bình 68,3 ± 31,57 ml, chúng

tôi không phải truyền máu cho BN nào,

(mất ít nhất 60 ml, nhiều nhất 100 ml)

Nguyễn Trung Kiên và cộng sự (2019) phẫu

tuật cho 46 trường hợp, thời gian phẫu thuật

trung bình 65,33 ± 16,38 phút, không phải

truyền máu trong mổ (lượng máu mất trung

bình 65,87 ± 26,21 ml[3] Pimenta nghiên cứu trên 53 BN từ năm 2002 - 2003, phẫu thuật thay một tầng đĩa đệm cột sống cổ có thời gian mổ 50 phút, lượng máu mất khoảng

50 ml[6] Năm 2007, Ramadan thay đĩa đệm cổ loại Discocerv cho 17 BN, thời gian

mổ trung bình 67,1 ± 20,2 phút (ngắn nhất 35 phút, dài nhất 120 phút[7] Kết quả của chúng tôi cao hơn so với các nghiên cứu trên Bởi đây cũng là phương tiện và dụng cụ thay thế mới chúng tôi mới bắt đầu triển khai kỹ thuật do vậy mà mức độ thành thạo của phẫu thuật viên ảnh hưởng đến thời gian phẫu thuật và lượng máu mất trong mổ Trong mổ chúng tôi có sử dụng thấy kính vi phẫu giúp quan sát tổn thương trong mổ dễ dàng hơn và

sử dụng khoan mài cao tốc để giải quyết các nguyên nhân gây chèn ép rễ thần kinh và tủy sống.Trong mổ, chúng tôi gặp tai biến rách nhưng không mất đoạn màng tủy chiếm 3,3% do khối thoát vị canxi hóa, chúng tôi đặt cơ, surgisel, spongostan lớp mỏng, dùng khoan mài cao tốc không gặp chảy máu, tổn thương tạng hay phẫu thuật nhầm tầng

Ngày đăng: 27/01/2023, 00:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w