Nhiễm khuẩn cột sống là một bệnh lý nặng, để lại hậu quả và di chứng lâu dài cho người bệnh. Bài viết Một số dạng nhiễm khuẩn cột sống ở Bệnh viện Saint Paul năm 2020 2021: Nguyên nhân gây bệnh và kết quả điều trị mô tả đặc điểm và kết quả điều trị một số dạng nhiễm khuẩn cột sống.
Trang 1MỘT SỐ DẠNG NHIỄM KHUẨN CỘT SỐNG Ở BỆNH VIỆN SAINT PAUL NĂM 2020-2021: NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
Nguyễn Việt Đức 1 , Lương Minh Quang 1 , Trần Việt Hoàng 1 , Phạm Văn Dương 1 , Dương Trung Kiên 1 , Vũ Ngọc Anh 1
TÓM TẮT 37
Nhiểm khuẩn cột sống là một bệnh nặng rất
hay gặp, để lại tổn thương nghiêm trọng có thể
dẫn đến tàn tật nặng nề, thậm chí tử vong Những
năm gần đây bệnh có xu hướng tăng lên, để
phòng những hậu quả do nhiễm khuẩn cột sống,
chẩn đoán và điều trị sớm, chính xác là hết sức
cần thiết
Mục tiêu: mô tả đặc điểm và kết quả điều trị
một số dạng nhiễm khuẩn cột sống
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 31
bệnh nhân nhiễm khuẩn cột sống điều trị tại đơn
vị cột sống từ năm 2020 đến 2021, được chia làm
3 nhóm theo nguyên nhân bệnh: Nhóm 1 (n=16)
– nhiễm khuẩn nguyên phát, Nhóm 2 (n=10) –
nhiễm khuẩn sau các thủ thuật tiêm giảm đau,
Nhóm 3 (n=3) – nhiễm trùng vết mổ Bệnh
nguyên, vị trí, biến chứng, phương pháp điều trị
và kết quả được ghi nhận và phân tích bằng phần
mềm SPSS 16.0
Kết quả: Thông tin chung: Tỷ lệ Nam/Nữ
=2,1/1, Tuổi trung bình: 55,6 ± 15,1, Vi khuẩn
gây bệnh: Tụ cầu vàng (6) 19.4%, Tụ cầu trắng
(1) 3.2%, Lao (6) 19.4%, E Coli – (1) 3.2%,
không rõ vi khuẩn – (11) 35.5%, không tìm vi
khuẩn trong (5) 16.1% Vị trí tổn thương: Viêm
Saint Paul
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Việt Đức
Email: vducpro@gmail.com
Ngày nhận bài: 12.10.2022
Ngày phản biện khoa học: 21.10.2022
Ngày duyệt bài: 27.10.2022
thân sống đĩa đệm (21)– 67.7%, Cơ cạnh sống (6)- 19.4%, Abscess ngoài màng cứng (3) 9.7%,
viêm khớp cùng chậu (1) 3.2% Nhóm 1 – Nhiễm khuẩn cột sống nguyên phát (n=18): vi
khuẩn gây bệnh: Lao – 6, S aureus – 2, 6 trường hợp âm tính, 4 bệnh nhân không đi tìm vi khuẩn Biến chứng nặng: nhiễm khuẩn huyết – 15.8% Điều trị: Phẫu thuật – 13, Sinh thiết 2, điều trị nội
từ đầu 3 Kết quả: Tốt – 83.3%, trung bình –
5.6%, Xấu – 11.1% (trong đó chết 1) Nhóm 2 (n=10) – Nhiễm khuẩn cột sống sau các thủ thuật tiêm giảm đau: yếu tố nguy cơ – 60%
Loại hình tiêm giảm đau cột sống: Châm cứu – 2, Bơm cement – 4, Tiêm trigger point hoặc ngoài màng cứng – 4 Vi khuẩn gây bệnh: E Coli – 1,
S aureus – 4, S coagulase negative 1, K pneumoniae 1, âm tính 2, không đi tìm vi khuẩn
1 Biến chứng nặng: nhiễm khuẩn huyết – 2 Điều trị: phẫu thuật CĐCS 2, sinh thiết 1, PT làm sạch 2, chọc hút hoặc dẫn lưu 4, điều trị nội 1 Kết quả: Tốt – 50%, Trung bình – 30%, Xấu –
20%( trong đó chết 1) Nhóm 3 – Nhiễm khuẩn vết mổ cột sống (n=3): Yếu tố nguy cơ: Đái tháo
đường 2 Vi khuẩn gây bệnh: Không rõ vi khuẩn 100% Điều trị cố định cột sống 2 (1 viêm đĩa đệm L1-2 do kéo đâm, 1 sau sinh thiết và bơm cement thất bại, cắt thân CĐCS), tháo bỏ dụng cụ
1 (L1: sau mổ CĐCS tại bệnh viện khác, L2: chảy mủ vết mổ mổ làm sạch, L3: mổ thay vít, L4: tháo dụng cụ)
Kết luận: Nhiễm khuẩn cột sống thường gặp
do tụ cầu vàng, nguy cơ cao ở bệnh nhân mắc đái tháo đường Biến chứng nặng hơn và kết quả điều trị kém hơn ở nhóm bệnh nhân nhiễm khuẩn
Trang 2cột sống sau mổ hoặc sau tiêm giảm đau cột
sống Kết quả điều trị phụ thuộc vào chẩn đoán
sớm, chính xác nguyên nhân gây bệnh và lựa
chọn phương pháp điều trị phù hợp
SUMMARY
SPINAL INFECTIONS IN SAINT PAUL
HOSPITAL IN 2020-2021 CAUSES AND
TREATMENT OUTCOME
Background: Spinal infection (SI) is a
common serious disease can cause severe
damage and disability Recent literatures trends
suggests an increasing prevalence of spinal
infection To avoid SI’s sequelae, determining an
early diagnosis and treatment is essential
Objectives: To describe pathogens and
outcome of treatment of some SI’s types
Materials and methods: 31 patients with
spinal infection admitted in spine unit of Saint
Paul general hospital from 2020 to 2021, were
classified in 3 groups based on its causes:
Spontaneous (n = 18), Post – spinal injection (n =
10), post-operation (n = 3) Pathogens, locations,
complications, treatment approaches and
outcome was analysed
Results: General Information:
Male/Female ratio – 2.1, mean age: 55.6 ± 15.1
y.o, Pathogens: S Aureus – 19.4%, Tuberculosis
– 19.4%, E Coli – 3.2%, negative culture 35.5%,
Unknown - 8.2% Location: Spondylodiscitis –
67.7%, Para-spinal Muscular – 19.4%, Epidural
Abscess – 9.7%, Sacro-Iliac joint – 3.2% Group
1 – Spontaneous SI (n=18): Pathogens:
Tuberculosis - 6, S Aureus – 2 Complications:
Sepsis (3/18) – 16.7% Treatment: Conservative
3, biopsy 2, Surgery – 13 Outcome: Good –
83.3%, Fair – 5.6%, Bad – 11.1% Group 2 –
Post Spinal-injection SI (n=10): Risk factors -
60% Type of spinal injection: Acupuncture – 2,
Vertebroplasty – 4, Trigger point and epidural
injection – 4 Pathogens: E.Coli – 1, S Aureus -
4 Complication: Sepsis – 2 Treatment: Surgery – 3, biopsy - 1, surgical debridement - 2, drainage - 4, conservative – 1 Outcome: Good –
50%, Fair – 30%, Bad – 20% Group 3 – Post operative SI (n=3): Risk factors: Diabetes
mellitus – 2 Negative culture 100% Treatment
of spinal fixation 2 (1 discitis L1-2 due to traction, 1 after biopsy and failed vertebroplasty, excision of the vertebral column), removal of instruments 1 (1 st : after TLIF at another hospital,
2 nd : surgical debridement, 3 th : screw replacement surgery, 4 th : removal of instruments)
Conclusion: Spinal infection is commonly
caused by Staphylococcus Aureus, high risk in diabetic patients who undergone spinal injection
or surgery with blood transfusion Complication
of SI is more severe and treatment outcome is worse in post-operative and post-injection spinal infection groups
I TỔNG QUAN
Nhiễm khuẩn cột sống là một bệnh lý nặng, để lại hậu quả và di chứng lâu dài cho người bệnh Tỷ lệ mới mắc nhiễm khuẩn cột sống hàng năm là 1/100000 – 1/250000, với
tỷ lệ tử vong là 2% – 4% Người bệnh nhiễm khuẩn cột sống thường phải nằm viện kéo dài, phẫu thuật nhiều lần, chi phí tốn kém với
tỷ lệ tử vong cao hơn [2] Theo báo cáo về
gánh nặng bệnh tật của Hoa Kỳ hàng năm, sô liệu năm 2010 cho thấy, nhiễm khuẩn cột sống là một trong những lý do hàng đầu khiến người bệnh tìm đến các cơ sở khám chữa bệnh Độ tuổi có tỷ lệ nhiễm khuẩn cao nhất lại nằm trong nhóm từ 18 – 64 tuổi,
chiếm 63% [3] Năm 2014, Nguyễn Mai
Hồng công bố 45 trường hợp nhiễm khuẩn đĩa điệm thân sống điều trị tại bệnh viện Bạch Mai có độ tuổi trung bình 46.2 năm, vi
Trang 3khuẩn gây bệnh chủ yếu là Tụ cầu vàng [1]
Ngoài ra các nghiên cứu tổng hợp hoặc cụ
thể về vấn đề này ở Việt Nam cũng không
nhiều, mặc dù nhiễm khuẩn cột sống thực sự
là một vấn đề thách thức cho các bác sỹ lâm
sàng, đồng thời gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến sức khỏe của người bệnh kèm theo chi
phí điều trị tốn kém Do đó, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu này với mục tiêu: thống kê
mô tả các nhóm vi khuẩn gây bệnh, hình thái
biểu hiện và kết quả của các phương pháp
điều trị nhiễm khuẩn cột sống tại bệnh viện
đa khoa Saint Paul từ năm 2020 đến 2021
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu hồi cứu
tất cả những bệnh nhân được điều trị tại Đơn
vị cột sống Khoa phẫu thuật thần kinh Bệnh
viện Xanh Pôn với chẩn đoán nhiễm khuẩn
cột sống từ năm 2020 đến hết năm 2021
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: mô tả hồi cứu,
được thực hiện thống nhất theo mẫu bệnh án
nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Bệnh nhân được chẩn đoán là nhiễm
khuẩn cột sống, nhiễm khuẩn cạnh cột sống,
hoặc sau phẫu thuật cột sống có tình trạng
nhiễm trùng vùng mổ
Bệnh nhân có đầy đủ dữ liệu và theo dõi
được
Bệnh nhân và gia đình đồng ý tham gia
nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
Tổn thương cột sống không do nhiễm trùng
Không đủ thông tin để theo dõi
Bệnh nhân hoặc gia đình xin rút khỏi nghiên cứu trong quá trình theo dõi
Cỡ mẫu: thuận tiện, dựa trên số bệnh
nhân thực tế trong thời gian nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu:
- Bệnh nhân được gợi ý đến nhiễm khuẩn cột sống ( tiền sử can thiệp vùng cột sống, tiêm, châm cứu, đau cột sống, sưng tấy vùng cột sống)
- Chụp MRI cột sống có tiêm thuốc để đánh giá
- Cấy máu 2 vị trí, cấy nước tiểu
- Xét nghiệm công thức máu đánh giá bạch cầu, CRP, sinh hóa cơ bản, đông máu, miễn dịch
- Chụp Xquang ngực, Xquang vùng cột sống, Chụp CLVT cột sống đánh giá hủy xương
- Hội chẩn đánh giá tổn thương, quyết định phương án điều trị (nội khoa, sinh thiết tìm nguyên nhân, phẫu thuật)
- Theo dõi sau điều trị Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: tuổi, giới, yếu tố nguy cơ, tiền sử, đặc điểm tổn thương (vị trí tổn thương, căn nguyên), phương pháp điều trị, kết quả
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Thông tin chung: Trong hai năm
2020-2021 có 36 bệnh nhân với chẩn đoán nhiễm khuẩn cột sống, với 31 bệnh nhân có đầy đủ
dữ liệu nghiên cứu , tỷ lệ Nam/Nữ =2,1/1; Tuổi trung bình: 55,6 ± 15,1
Trang 4Vi khuẩn gây bệnh Chung Tự phát Sau thủ thuật cột sống Sau phẫu thuật
Vi khuẩn gây bệnh: S aureus (6) 19.4%, S coagulase negative (1) 3.2%, Tuberculosis (6) 19.4%, E Coli – (1) 3.2%, không rõ vi khuẩn – (11) 35.5%, không tìm vi khuẩn trong (5) 16.1% Vị trí tổn thương: Viêm thân sống đĩa đệm (21)– 67.7%, Cơ cạnh sống (6)- 19.4%, Abscess ngoài màng cứng (3) 9.7%, viêm khớp cùng chậu (1) 3.2%
Trong nghiên cứu này tỷ lệ bệnh nhân có các bệnh lý mạn tính (đơn độc hoặc đồng mắc nhiều bệnh) là 9 bệnh nhân 50%, 7 bệnh nhân có tiêm vùng cột sống, 4 bệnh nhân có tiền sử bơm xi măng, có 2/11 bệnh nhân năm 2020 có viêm gan C
Trang 5Phương pháp điều trị được áp dụng nhiều
nhất là cố định cột sống với 17 bệnh nhân;
sinh thiết, dẫn lưu hoặc chọc hút, điều trị nội
với 4 bệnh nhân; 2 bệnh nhân được phẫu
thuật làm sạch ổ nhiễm trùng
Nhóm 1 – Nhiễm khuẩn cột sống
nguyên phát (n=18): vi khuẩn gây bệnh:
Lao – 33.3%, tụ cầu vàng – 11.1%, cấy âm
tính 38.9%, không đi tìm vi khuẩn 16.7%
Biến chứng nặng: nhiễm khuẩn huyết –
16.7% Điều trị: Phẫu thuật – 13, Sinh thiết
2, điều trị nội từ đầu 3 Kết quả: Tốt –
83.3%, trung bình – 5.6%, Xấu – 11.1%
(trong đó chết 1)
Nhóm 2 - Nhiễm khuẩn cột sống sau
các thủ thuật tiêm giảm đau, can thiệp cột
sống (n=10): yếu tố nguy cơ – 60% Loại
hình tiêm giảm đau cột sống: Châm cứu 2,
Bơm cement – 4, Tiêm trigger point hoặc
ngoài màng cứng – 5 Vi khuẩn gây bệnh: E
Coli – 1, S aureus – 4, S coagulase negative
1, K pneumoniae 1, âm tính 2, không tìm vi
khuẩn 1 Biến chứng nặng: nhiễm khuẩn
huyết – 20% Điều trị: phẫu thuật CĐCS 2,
sinh thiết 1, PT làm sạch 2, chọc hút hoặc
dẫn lưu 4, điều trị nội 1 Kết quả: Tốt – 50%,
Trung bình – 30%, Xấu – 20% (chết 1)
Nhóm 3 – Nhiễm khuẩn vết mổ cột
sống (n=3): Yếu tố nguy cơ: Đái tháo đường
– 2 Vi khuẩn gây bệnh: Không rõ vi khuẩn –
100% Biến chứng nặng 0 Điều trị cố định
cột sống 2 (1 viêm đĩa đệm L1-2 do kéo đâm,
1 sau sinh thiết và bơm cement thất bại, cắt
thân CĐCS), tháo bỏ dụng cụ 1(L1: sau mổ
CĐCS tại bệnh viện khác, L2: chảy mủ vết
mổ mổ làm sạch, L3: mổ thay vít, L4: tháo
dụng cụ)
IV BÀN LUẬN
Nhiễm khuẩn cột sống được hiểu là bệnh
lý nhiễm trùng làm tổn thương thân sống, đĩa
đệm và/hoặc phần mềm cạnh sống xung quanh, với tỷ lệ khoảng 2 – 7% tổng số các dạng nhiễm khuẩn cơ xương khớp Có nhiều yếu tố nguy cơ khiến cho người bệnh dễ mắc nhiễm khuẩn cột sống hơn: tuổi cao, nhiều bệnh kèm theo và có tiền sử phẫu thuật cột sống Dù là một bệnh nặng, có tỷ lệ tàn tật và
tử vong cao nếu không điều trị kịp thời, nhưng cho đến nay, xung quanh vấn đề này vẫn có rất nhiều luận điểm còn phải bàn cãi
từ khâu chẩn đoán đến điều trị [4] Với
những bệnh nhân nghi ngờ nhiễm khuẩn cột sống, vi sinh học và mô bệnh học đóng vai trò thiết yếu trong xác định liệu pháp điều trị
trong từng trường hợp [2] Chúng tôi thực
hiện chẩn đoán cho những trường hợp nghi ngờ nhiễm khuẩn cột sống nhằm xác định bệnh nguyên ở người bệnh bằng cách phối hợp giữa cấy máu, cấy nước tiểu, cấy dịch –
tổ chức nhiễm khuẩn bằng sinh thiết, sau đó kết hợp với kết quả soi tươi và mô bệnh học của mẫu bệnh phẩm để tìm kháng sinh điều trị cho người bệnh Những kết quả thu được rất khác nhau, và có những trường hợp không thể tìm được kháng sinh phù hợp đòi hỏi chúng tôi phải phối hợp với Dược lâm sàng trong lựa chọn kháng sinh điều trị Nếu
2 trong các phương pháp đều trả lời cùng kết quả vi sinh, chúng tôi điều trị theo kháng sinh đồ Một số trường hợp cả 3 mẫu cấy máu, nước tiểu và dịch tổ chức nhiễm trùng đều không thấy vi khuẩn hoặc không tương đồng nhau thì gây khó khăn không ít cho nhóm điều trị Theo Mahamadou Doutchi, tại Marseilles – Pháp, nhóm nghiên cứu của tác giả công bố kết quả phát hiện được vi khuẩn với tỷ lệ cao và chính xác hơn so với chúng tôi là nhờ thực hiện 3 mẫu cấy máu, 3 mẫu cấy bệnh phẩm lấy bằng phương pháp qua da
và 5 mẫu bệnh phẩm sâu lấy khi phẫu thuật
Trang 6[5], trong khi đó, chúng tôi lấy mẫu tại mỗi
vị trí chỉ 1 lần
Về nguyên nhân gây bệnh, khác với các
nghiên cứu báo cáo đã công bố của nhiều tác
giả, hầu hết các bệnh nhân mắc nhiễm khuẩn
cột sống đều có các bệnh lý nền như đái tháo
đường, lạm dụng rượu, bệnh lý ác tính, lạm
dụng thuốc tiêm truyền tĩnh mạch hoặc
những người có bệnh suy giảm miễn dịch [2,
3, 5] Báo cáo của chúng tôi thu thập được,
nhận thấy một phần không nhỏ các bệnh
nhân nhiễm khuẩn cột sống là sau thủ thuật
tiêm giảm đau cột sống như: tiêm ngoài
màng cứng, tiêm chọn lọc rễ thần kinh, tiêm
giảm đau trigger-point, châm cứu, cấy chỉ
hoặc thậm chí sau bơm cement tạo hình thân
đốt sống Vấn đề ở chỗ, tại Việt Nam những
thủ thuật tiêm này được thực hiện rất phổ
biến tại các phòng khám tư nhân hoặc bệnh
viện, thậm chí tại nhà người bệnh hoặc người
cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh, trong khi
điều kiện đảm bảo vô trùng không tốt Chính
vì vậy nhóm nhiễm khuẩn sau tiêm giảm đau
chiếm đến 32.3% số trường hợp trong lô
nghiên cứu của chúng tôi Điều đó đặt vấn đề
kiểm soát nhiễm khuẩn trong khâu khám
chữa bệnh đau cột sống lên mức độ đáng
cảnh báo
Theo những số liệu thu được từ nghiên
cứu, tụ cầu vàng và lao là 2 nguyên nhân gây
bệnh chính, ngoài ra 1 số trường hợp mắc
phải một số vi khuẩn ít gặp hơn như E coli,
K pneumoniae, khó khăn nhất chiếm 100%
trong nhóm nhiễm khuẩn sau mổ là không
xác định được vi khuẩn lý do là những
trường hợp này thường đến muộn sau một
thời gian dài sử dụng kháng sinh phổ rộng
đường uống hoặc tiêm dưới sự theo dõi của
phẫu thuật viên đã mổ từ trước Đó cũng là lý
do một phần làm chậm quá trình chẩn đoán
của chúng tôi khiến cho thời gian trễ từ khi
khởi bệnh đến khi được chẩn đoán trung bình lên đến 51 ngày, quá dài hơn so với nghiên
cứu của Mahamadou [5] Với nhóm bệnh
nhân nhiễm khuẩn sau mổ hoặc phẫu thuật lớn có nguy cơ cao hoặc truyền máu nhiều, chúng tôi thường sử dụng bột Vancomycin tại vết mổ để đề phòng nhiễm khuẩn sau mổ Trước đây, việc sử dụng Vancomycin tại vết
mổ chưa đươc chấp thuận rộng rãi nhưng đến nay qua nghiên cứu của Pavlos Texakalidis tại Mayo Clinic đã cho nhận định khả quan
về xu hướng này [6] Riêng với bệnh nhân có
tiền sử phẫu thuật cột sống từ trước, kể cả những trường hợp không tìm được vi khuẩn đặc hiệu, nhưng chúng tôi vẫn áp dụng cả Vancomycin tại chỗ, đường tiêm tĩnh mạch trong 2 tuần sau mổ và 10 tuần tiếp tới bằng Linezolide đường uống cho đến khi CRP trở
về bình thường
Không những khó khăn trong xác định tác nhân gây bệnh, hướng dẫn điều trị và chẩn đoán cũng còn nhiều tranh cãi chưa thống nhất, tuy nhiên chúng tôi lựa chọn điều trị nội khoa cho những trường hợp không có tổn thương thần kinh và phẫu thuật với những bệnh nhân có triệu chứng chèn ép thần kinh hoặc điều trị nội khoa thất bại Theo Spogmai Zadran và Peter Heide Pedersen, phẫu thuật và điều trị nội khoa bảo tồn có kết quả tương đương nhau về tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân viêm thân sống đĩa đệm
[7] Mặt khác, chỉ xét riêng ở nhóm được chỉ
định phẫu thuật, cũng có 2 luồng tranh cái với 2 xu hướng điều trị khác nhau – phẫu thuật giải ép đơn thuần hay kèm theo phẫu thuật cố định cột sống có hàn xương sau khi nạo bỏ tổ chức viêm Trong thời gian từ năm
2001 đến năm 2015, xu hướng điều trị phẫu thuật giải ép đơn thuần tăng lên và chiếm ưu thế hơn so với phẫu thuật giải ép kèm theo cố định cột sống và hàn xương Tuy nhiên, tỷ lệ
Trang 7nhiễm khuẩn tái phát, phẫu thuật lại và biến
chứng của nhóm phẫu thuật giải ép đơn
thuần thì cao hơn hẳn so với nhóm phẫu
thuật có cố định hàn xương cột sống [8] Sở
dĩ có đến 2 xu hướng điều trị phẫu thuật như
vậy cũng là vì đến nay, chưa có tiêu chuẩn
chẩn đoán mất vững cột sống trên bệnh nhân
nhiễm khuẩn cột sống, khác hẳn với tiêu
chuẩn chẩn đoán mất vững cột sống do các
bệnh lý chấn thương, ung thư hoặc thoái hóa
cột sống [4]
Bên cạnh lựa chọn phẫu thuật, điều trị
thuốc kháng sinh hợp lý là không thể thiếu
Với những bệnh nhân có kết quả cấy rõ ràng
không phải vi khuẩn lao, kháng sinh sẽ được
sử dụng 2 tuần đầu trong viện qua đường tĩnh
mạch, sau đó dùng thuốc tiếp tục 10 tuần
đường miệng tại nhà Đối với những trường
hợp lao cột sống, bệnh nhân được điều trị
theo phác đồ kháng lao quốc gia trong 9
tháng tại bệnh viện lao và bệnh phổi quốc
gia Tuy vậy, khó khăn nằm ở những trường
hợp không điển hình hoặc không tìm thấy vi
khuẩn
Một khó khăn không nhỏ khác trong vấn
đề điều trị dạng bệnh lý này là nhiễm khuẩn
tái phát, chúng tôi gặp phải 2/31 (6.5%) số
trường hợp phải phẫu thuật lại nhiều lần
Trong đó 1 trường hợp viêm đốt sống đĩa
đệm do lao, sau phẫu thuật nhiễm trùng vẫn
tiến triển, chảy dịch vết mổ phải mổ lại 2 lần,
1 bệnh nhân sau phẫu thuật cột sống có
nhiễm khuẩn vết mổ, mổ 1 lần làm sạch, 1
lần thay dụng cụ đều thất bại, cuối cùng phải
phẫu thuật tháo dụng cụ bệnh nhân ổn định
Theo Dietz, tỷ lệ tái nhập viện do nhiễm
khuẩn không ổn định là 11.25% ở nhóm
phẫu thuật giải ép đơn thuần, 3.99% ở nhóm
phẫu thuật giải ép có cố định và hàn xương
Tỷ lệ chung ở cả 2 nhóm giải ép đơn thuần
và giải ép kèm theo cố định cột sống hàn
xương, dao động từ 0.7% - 6% Rõ ràng có thể thấy được, nếu phải tái nhập việc sau điều trị ngoại khoa nhiễm khuẩn cột sống thường đem lại những kết quả không tốt như: đau mạn tính, nhiễm khuẩn huyết, biến dạng cột sống, khớp giả hoặc thậm chí tổn thương thần kinh, thời gian điều trị kéo dài và chi
phí tốn kém [8] Nhiều phẫu thuật viên cho
rằng, việc sử dụng dụng cụ kết xương trong bệnh cảnh nhiễm khuẩn cột sống làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn không đáp ứng với điều trị Tuy vậy, thực tế nghiên cứu lại cho thấy tỷ lệ biến chứng sau mổ cao hơn ở nhóm phẫu thuật giải tỏa nạo viêm đơn thuần Khuyến cáo của nhóm tác giả là sử dụng vật liệu cố định và hàn xương bằng Titanium hoặc xương mào chậu thay cho vật liệt Polyetherehterketone (PEEK) do làm giảm rõ rệt tỷ lệ hình thành Glycocalex tại chỗ giúp làm giảm tỷ lệ tái nhiễm khuẩn và
tái nhập viện [8]
Điểm hạn chế của nghiên cứu
Điểm hạn chế nghiên cứu của chúng tôi
là số lượng bệnh nhân theo dõi chỉ là nhóm nhỏ thực hiện tại 1 đơn vị, số lượng rất ít, lại chia thành nhiều nhóm nhỏ với các đặc điểm
và vị trí khác nhau: viêm thân sống đĩa đệm, nhiễm khuẩn mô mềm cạnh sống, abces trong và ngoài màng cứng Ngoài ra, đặc điểm sinh lý, giải phẫu của các vùng cột sống
cổ, ngực và thắt lưng và khớp cùng chậu cũng khác nhau Dấu hiệu tổn thương thần kinh trong nhóm bệnh lý nhiễm khuẩn của chúng tôi cũng không được ghi nhận một cách cụ thể và thống nhất theo 1 bảng điểm Bản thân các kết quả nhận được chỉ là các thông số có tính chất mô tả, chưa có tác dụng khuyến cáo trong quá trình điều trị Do đó,
để có được những kết quả đáng tin cậy hơn, cần phải thực hiện những nghiên cứu thuần tập, quy mô lớn hơn trong tương lai
Trang 8V KẾT LUẬN
Nhiễm khuẩn cột sống là một bệnh nặng,
thường gặp trong thực hành lâm sàng, nếu
không phát hiện và điều trị sớm nguy cơ để
lại di chứng nặng hoặc thậm chí tử vong cho
người bệnh Bệnh hay gặp ở người lớn tuổi
có đái tháo đường, sau phẫu thuật cột sống
lớn phải truyền máu hoặc sau những can
thiệp giảm đau không đảm bảo vô khuẩn
Biến chứng nặng và kết quả tệ hơn ở những
bệnh nhân có can thiệp tàn phá cột sống
nhiều hơn Kết quả điều trị tốt cần phải đươc
hỗ trợ bằng khâu chẩn đoán sớm và chính
xác nguyên nhân gây bệnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Mai Hồng - (2014) -"Đặc điểm
viêm đĩa đệm đốt sống do vi khuẩn tại bệnh
viện Bạch Mai trong giai đoạn 2011 2013"
-Tạp Chí Y Học Dự Phòng (24); 154;
2 Abdulaziz Al-Mutair Abdulrazzaq
Alobaid - (2018) -"Epidemiology,
Microbiology and pathology of spinal
infections" -AO spine masters series
(Volumn 10); 1; 7
3 Sylvia I Watkins-Castillo Michael D
Daubs - (2012) -"Spine Disorders" -The
Burden of musculoskeletal diseases in the
United States
4 Sara Lener, Sebastian Hartmann,
Giuseppe M V Barbagallo, Francesco
Certo, Claudius Thomé&Anja Tschugg - (2018) -"Management of spinal infection: a
review of the literature" -Acta Neurochirurgica (480); 487
5 Mahamadou Doutchi, Piseth Seng, Amélie Menard, Line Meddeb, Tarek Adetchessi,
Dufour&Andreas Stein - (2015)
-"Changing trends in the epidemiology of vertebral osteomyelitis in Marseille, France" -New Microbes and New Infections (7); c; 7
6 Pavlos Texakalidis, Victor M Lu, Yagiz Yolcu, Panagiotis Kerezoudis, MohammedAli Alvi, Ian F Parney, Jeremy L Fogelson&Mohamad Bydon - (2019) -"Impact of Powdered Vancomycin
on Preventing Surgical Site Infections in Neurosurgery: A Systematic Review andMeta-analysis" -www.neurosurgery-online.com (0); 0; 12
7 Spogmai Zadran, Peter Heide Pedersen&Søren Eiskjær (2019)
-"Vertebral Osteomyelitis: A Mortality Analysis Comparing Surgical and Conservative Management" -Global spine journal (1); 8
8 Nicholas Dietz, Mayur Sharma, Maxwell Boakye&Ahmad Alhourani (2019)
-"Outcomes of decompression and fusion for treatment of spinal infection" -Neurosurgical