1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phẫu thuật cắt liên kết bán cầu điều trị động kinh kháng thuốc: Chỉ định và kết quả điều trị bước đầu tại Bệnh viện Nhi Trung ương

8 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phẫu thuật cắt liên kết bán cầu điều trị động kinh kháng thuốc: Chỉ định và kết quả điều trị bước đầu tại Bệnh viện Nhi Trung ương
Tác giả Lê Tuấn Anh, Hồ Trung Luân, Đặng Anh Tuấn, Lê Nam Thắng
Trường học Bệnh viện Nhi Trung ương
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu y khoa
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 534,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Phẫu thuật cắt liên kết bán cầu điều trị động kinh kháng thuốc: Chỉ định và kết quả điều trị bước đầu tại Bệnh viện Nhi Trung ương trình bày đánh giá kết quả bệnh nhân động kinh kháng thuốc bằng phẫu thuật cắt liên kết bán cầu tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

Trang 1

PHẪU THUẬT CẮT LIÊN KẾT BÁN CẦU ĐIỀU TRỊ ĐỘNG KINH

KHÁNG THUỐC: CHỈ ĐỊNH VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BƯỚC ĐẦU

TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

Lê Tuấn Anh 1 , Hồ Trung Luân 1 , Đặng Anh Tuấn 1 , Lê Nam Thắng 1 TÓM TẮT 39

Tổng quan: Động kinh kháng thuốc ở trẻ em

là vấn đề lâm sàng thường gặp và chiếm khoảng

20% bệnh nhân động kinh Những bệnh nhân

động kinh kháng thuốc có các thăm dò chẩn đoán

liên quan tới tổn thương lan tỏa một bán cầu,

phẫu thuật cắt liên kết bán cầu là lựa chọn tốt cho

việc cải thiện điều trị Sự phát triển các kĩ thuật

cắt liên kết bán cầu chức năng thay cho cắt bán

cầu làm giảm các biến chứng hậu phẫu Tại Bệnh

viện Nhi Trung ương đã tiến hành phẫu thuật

động kinh kháng thuốc một cách thường qui từ

năm 2010 và phẫu thuật cắt liên kết bán cầu từ

2016, chúng tôi tiến hành nghiên cứu kết quả

điều trị ở nhóm bệnh nhân trẻ em được điều trị

cắt liên kết bán cầu tại Bệnh viện Nhi Trung

ương nhằm mục đích: Đánh giá kết quả bệnh

nhân động kinh kháng thuốc bằng phẫu thuật cắt

liên kết bán cầu tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Nhóm nghiên cứu bao gồm 12 bệnh nhân động

kinh kháng thuốc sau khi được đánh giá của

nhóm phẫu thuật động kinh có chỉ định phẫu

thuật cắt liên kết bán cầu, được phẫu thuật tại

Bệnh viện Nhi Trung ương từ 2016 – 2022

Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trên qui trình

1

Trung tâm Thần kinh, Bệnh viện Nhi Trung ương

Chịu trách nhiệm chính: Lê Tuấn Anh

Email: tuananhle.2812@gmail.com

Ngày nhận bài: 6.10.2022

Ngày phản biện khoa học: 12.10.2022

Ngày duyệt bài: 31.10.2022

quản lý bệnh nhân động kinh kháng thuốc của nhóm phẫu thuật động kinh, đánh giá lại tối thiểu sau 6 tháng

Kết quả: 12 bệnh nhân (8 bán cầu não phải,

4 bán cầu não trái) được phẫu thuật cắt liên kết bán cầu chức năng theo hai phương pháp: Cắt liên kết bán cầu đứng dọc theo Delalande: 5/12 bệnh nhân và cắt liên kết bán cầu quanh thùy đảo biến đổi: 7/12 bệnh nhân Độ tuổi phẫu thuật: 3,9±3,3 tuổi (9 tháng-10 tuổi); các bệnh căn chính của nhóm nghiên cứu gồm: dị tật phát triển của vỏ não 8/12 (66,6%), viêm não Rasmussen 2/12 (16,7%) và tổn thương não thứ phát (16,7%) Các biến chứng sau mổ với tỉ lệ thấp: chảy máu vị trí mổ (1/12), giãn não thất (1/12) Đánh giá lại bệnh nhân sau phẫu thuật ít nhất 6 tháng theo qui trình quản lý của nhóm phẫu thuật động kinh với kết quả kiếm soát động kinh đạt được Engel I: 50%, Engel II: 50%

Kết luận: Các bệnh nhân được thực hiện

phẫu thuật cắt liên kết bán cầu và quản lí theo qui trình của nhóm phẫu thuật động kinh bệnh viện Nhi Trung ương bước đầu mang lại hiệu quả khả quan trong kiểm soát động kinh kháng thuốc với

tỉ lệ biến chứng sau mổ thấp

Từ khóa: Động kinh kháng thuốc, Cắt bán

cầu chức năng, cắt liên kết bán cầu, hemispherotomy, peri-insular hemispherotomy, modified peri-insular hemispherotomy, vertical hemispherotomy

Trang 2

SUMMARY

HEMISPHEROTOMY SURGERY:

INDICATIONS AND INITIAL

OUTCOME AT VIETNAM NATIONAL

HOSPITAL OF PEDIATRICS

Overview: Intractable epilepsy is a common

clinical problem in children and accounts for

about 20% of epilepsy patients In patients with

intractable epilepsy whose diagnostic

investigations are associated with diffuse

unilateral hemispheric lesions, hemispheric

disconnection procedures are good options for

improved treatment The development of

hemispherotomy techniques instead of

anatomical hemispherectomy reduces

postoperative complications At the Vietnam

National Hospital of Pediatrics, which has

performed intractable epilepsy surgery since

2010 and hemispherotomy surgeries since 2016,

so we retrospectively evaluated the surgical

outcome in the group of children who were

performed the hemispherotomy with the aims of

evaluating the outcome of surgical treatment

Subjects and methods: A group of 12

intractable epilepsy patients, after being

evaluated by the epilepsy surgery team,

underwent hemispherotomy at the Vietnam

National Hospital of Pediatrics from 2016 - 2022

A retrospective study was conducted on the

management of intractable epilepsy patients of

the epilepsy surgery team and re-evaluated at

least after 6 months

Results: 12 patients (8 right hemispheres, 4

left hemispheres) underwent hemispherotomy by

two methods: Vertical parasagittal

hemispherotomy 5/12 patients and modified

peri-insular hemispherotomy 7/12 patients Age of

surgery: 3.9±3.3 years old (9 months-10 years

old); The main etiology of the study group

included: developmental malformations of

cerebral cortex 8/12 (66.6%), Rasmussen’s

encephalitis 2/12 (16.7%) and gliosis 2/12 (16.7%) Complications after surgery had low rate: hemorrhage (1/12), hydrocephalus (1/12) Re-evaluate patients after surgery at least 6 months according to the management process of the epilepsy surgery team with seizure control results achieved Engel I: 50%, Engel II: 50%

Conclusion: Funtional hemispherotomy surgery at Vietnam National Hospital of Pediatrics initially brought good results in seizure control and low rate complications in the treatment of intractable epilepsy

Keywords: Drug-resistant epilepsy, functional hemispherectomy, hemispherectomy, hemispherotomy, peri-insular hemipherotomy, modified peri-insular hemispherotomy, vertical hemispherotom

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Động kinh kháng thuốc ở trẻ em là vấn

đề lâm sàng thường gặp và chiếm khoảng 20% bệnh nhân động kinh Những bệnh nhân động kinh kháng thuốc có các thăm dò chẩn đoán liên quan tới tổn thương lan tỏa một bán cầu, phẫu thuật cắt liên kết bán cầu là lựa chọn tốt cho việc cải thiện điều trị Phẫu thuật cắt liên kết bán cầu là nhóm các phẫu thuật điều trị cho động kinh kháng thuốc dùng để thay thế cho phẫu thuật cắt bán cầu, chúng đều nhằm cắt bỏ liên kết từ vỏ não của một bên bán cầu sinh động kinh với bên bán cầu đối diện và với phần cấu trúc sâu ở hạch nền Phẫu thuật cắt liên kết bán cầu chức

năng (functional hemispherotomy) nói về

phẫu thuật ngắt liên kết mà phần lớn nhu mô não bán cầu không bị cắt bỏ; ngược lại, phẫu

thuật cắt bán cầu (hemispherectomy) ngắt

liên kết bằng cắt bỏ phần lớn hoặc toàn bộ vỏ não bán cầu tổn thương

Các kĩ thuật cắt bán cầu bắt đầu từ năm

1928, ca cắt bán cầu giải phẫu đầu tiên được

Trang 3

thực hiện bởi Dandy để điều trị u thần kinh

đệm bán cầu và đến năm 1950, Krynauw

thực hiện lần đầu cho bệnh nhân động kinh

kháng thuốc [1] Kĩ thuật cắt bán cầu giải

phẫu phát triển mạnh trong thập niên 1960,

1970 để điều trị động kinh kháng thuốc Tuy

nhiên có nhiều biến chứng nặng như lắng

đọng hemosiderin bề mặt não, tắc lỗ Monro

và cống não dẫn đến giãn não thất tiến

triển… hậu quả có thể dẫn tới tử vong

Nghiên cứu cắt bán cầu ở Montreal

(1952-1968, n=27), biến chứng nặng ghi nhận được

với tỉ lệ cao: 52% giãn não thất, 33% lắng

đọng hemosiderin bề mặt não trong đó có 1/3

tử vong Cắt bán cầu theo Rasmussen (thập

niên 70), cắt liên kết bán cầu theo Delalande

(thập niên 90), hoặc theo Villemure (1995)

và các biến thể ít xâm lấn hơn do dữ lại được

phần nhu mô nên tỉ lệ giãn não thất và lắng

đọng hemosiderin thấp, giảm tỉ lệ tử vong

Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, tỉ lệ tử vong

ở nhóm cắt bán cầu điều trị bệnh nhân động

kinh kháng thuốc khoảng 30%, do vậy từ

năm 2016 đã bắt đầu tiến hành phẫu thuật cắt

liên kết bán cầu chức năng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu kết quả điều trị ở nhóm bệnh nhân trẻ em được điều trị cắt liên kết

bán cầu chức năng nhằm mục đích: Đánh giá

kết quả bệnh nhân động kinh kháng thuốc bằng phẫu thuật cắt liên kết bán cầu tại Bệnh viện Nhi Trung ương

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu 12 bệnh nhân được cắt liên kết bán cầu chức năng điều trị động kinh kháng thuốc từ 2016 -2022 tại bệnh viện Nhi Trung ương theo qui trình quản lý của nhóm phẫu thuật động kinh có đủ hồ sơ lưu trữ, chấp nhận điều trị, tái khám định kỳ, đánh giá hậu phẫu đầy đủ và đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca bệnh có theo dõi với cỡ mẫu thuận tiện n= 12, được quản lý theo qui trình của nhóm phẫu thuật động kinh, đánh giá kết quả điều trị tối thiểu sau 6 tháng

Bảng 2.1: Phân độ kết quả điều trị động kinh theo Engel

Độ II Hiếm khi có cơn động kinh điển hình

Độ III Có cải thiện các cơn động kinh

Độ IV Không có cải thiện các cơn động kinh

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1: Một số đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu, n=12

Đặc điểm chung

Giới Tuổi khởi phát Tuổi phẫu thuật Bán cầu phẫu thuật Nam/nữ: 10/2

1,29 ± 1,94 tuổi min: 12 ngày max: 5 tuổi

3,92 + 3,32 tuổi min: 9 tháng max: 10

tuổi

Phải/Trái: 8/4

Nhận xét: Trong nhóm 12 bệnh nhân nghiên cứu, tuổi khởi phát cơn động kinh nhỏ nhất

là 12 ngày tuổi, bệnh nhân phẫu thuật nhỏ tuổi nhất là 9 tháng

Trang 4

Biểu đồ 3.1: Liên quan giữa bệnh nguyên và thời điểm phẫu thuật

Nhận xét: Độ tuổi phẫu thuật sớm liên quan mật thiết với bệnh nguyên, theo thứ tự: nhóm

bệnh bẩm sinh (phì đại bán cầu (HME), bao gồm cả loạn sản vỏ đa thùy); nhóm tổn thương teo não thứ phát (hậu quả của tổn thương não do nguyên nhân mạch máu); Tổn thương não tiến triển (các bệnh nhân viêm não Rasmussen)

Biểu đồ 3.2: Kết quả điều trị phẫu thuật theo bệnh nguyên

Trang 5

Nhận xét: Kết quả cải thiện tình trạng động kinh sau phẫu thuật đạt Engel I: 6/12 bệnh

nhân (50%), Engel II: 6/12 bệnh nhân (50%) Trong đó nhóm, tỉ lệ cải thiện đạt Engel I cao nhất ở nhóm viêm não Rasmussen: 2/2 ca (100%); nhóm tổn thương não thứ phát: 1/ 2 ca (50%); nhóm phì đại bán cầu: 3/8 ca (37,5%)

Bảng 3.2: Các biến chứng của phẫu thuật

Nhận xét: Trong nghiên cứu không có trường hợp nào tử vong, 1/12 bệnh nhân có giãn

não thất sau mổ phải đặt dẫn lưu não thất ổ bụng; viêm màng não là biến chứng thường gặp nhất 8/12 trường hợp được điều trị ổn định sau khoảng 2-4 tuần

IV BÀN LUẬN

4.1 Chỉ định phẫu thuật

Khi bệnh nhân được cho là phù hợp để

phẫu thuật cắt liên kết bán cầu, trước khi đưa

ra quyết định phẫu thuật, chúng tôi thu thập

các thông tin, làm các đánh giá: 1, tiền sử

bản thân và gia đình; 2, tiền sử các cơn động

kinh, gồm khởi phát, hình thái cơn, tần suất

và phân loại theo hội chống động kinh quốc

tế; 3, khám thần kinh tập trung vào các thiếu

hụt vận động và cảm giác (liệt nửa người,

giảm trương lực một bên hay các dấu hiệu

bán manh); 4, đánh giá tâm lý thần kinh (gặp

nhiều khó khăn khi đánh giá ở nhóm trẻ

nhỏ); 5, điện não đồ có ghi hình; 6, chẩn

đoán hình ảnh: thông dụng là cộng hưởng từ,

tuy nhiên trong các trường hợp cộng hưởng

từ không phát hiện tổn thương rõ ràng hoặc

không phù hợp với điện não, cần khảo sát

thêm bằng PET hoặc SPECT

Sự thành công của phẫu thuật cắt liên kết

bán cầu điều trị động kinh kháng thuốc,

tương tự như các phẫu thuật động kinh khác,

phần lớn phụ thuộc vào việc lựa chọn bệnh

nhân Chỉ định phẫu thuật cắt liên kết bán

cầu điều trị bệnh nhân động kinh kháng

thuốc được quyết định bởi nhóm phẫu thuật động kinh dựa trên sự phù hợp giữa các thông tin: 1, lâm sàng liên quan tới động kinh kèm liệt nửa người ở trẻ nhỏ (infantile hemiplegic epilepsy); 2, chẩn đoán hình ảnh: tổn thương bất thường cấu trúc ảnh hưởng tới toàn bộ bán cầu hoặc ít nhất 3 thùy; 3, điện não đồ ghi hình đều chỉ ra là tổn thương sinh động kinh là lan tỏa một bên bán cầu Nhóm bệnh liên quan chủ yếu gồm: nhóm liên quan tới sự di trú của tế bào thần kinh bẩm sinh (như: loạn sản vỏ đa thùy, tật phì đại bán cầu, hemiconvulsion-hemiplegia-epilepsy syndrome); nhóm các tổn thương phá hủy một bên bán cầu (như: hậu quả của tổn thương mạch máu, hội chứng Sturge-Weber, viêm não Rasmussen) Trong nghiên cứu của chúng tôi các tổn thương chính gặp là: Dị tật phát triển vỏ não 66,6%, viêm não Rassmussen 16,7% và tổn thương não thứ phát 16,7% Đây cũng là những tổn thương thường gặp trong các nghiên cứu về cắt liên kết bán cầu do động kinh kháng thuốc của Delalande (2007) và Villemure (2006) tuy có khác nhau về tỉ lệ của các tổn thương [2], [3]

Trang 6

Bất thường sóng động kinh 2 bán cầu

thường làm phức tạp khi đưa ra quyết định

mổ và tiên lượng bệnh nhân Các hoạt động

bệnh lý có thể ghi nhận được từ bán cầu

dường như khỏe mạnh, có thể là thứ phát

hoặc đôi khi độc lập với phóng lực của bán

cầu bị bệnh Các hoạt động điện não bất

thường này không phải chống chỉ định tuyệt

đối với phẫu thuật bởi vì chúng có thể phản

ánh vùng sịnh động kinh thứ phát và có thể

mất đi sau phẫu thuật; tuy nhiên cũng cần

được cân nhắc trong từng ca bệnh [4]

4.2 Kết quả điều trị động kinh

Trong nhóm 12 bệnh nhân được nghiên

cứu (10 nam, 2 nữ), 8 bệnh nhân (66,7%)

phẫu thuật cắt liên kết bán cầu bên phải: 4

bệnh nhân (33,3%),bán cầu bên trái; tuổi

khởi phát trung bình 1,29 ± 1,94 (sơ sinh – 5

tuổi), Thời gian mắc 2,62 ± 2,29 (0,67 -7,5

năm), độ tuổi phẫu thuật 3,92 + 3,32 (0,75 –

10 tuổi) Dựa vào bệnh nguyên của nhóm,

chúng tôi chia nhóm nghiên cứu ra thành các

dưới nhóm: Nhóm 1: 8 bệnh nhân (66,6%)

có dị tật phát triển vỏ não lan tỏa 1 bên bán

cầu (7 bệnh nhân phì đại một bên bán cầu, 1

bệnh nhân loạn sản vỏ đa thùy); Nhóm 2: 2

bệnh nhân (16,7%) viêm não Rasmussen;

Nhóm 3: 2 bệnh nhân (16,7%) tổn thương

não thứ phát sau xuất huyết hoặc nhồi máu

não quanh sơ sinh Tuổi khởi phát cơn liên

quan mật thiết tới nguyên nhân gây động

kinh kháng thuốc: Nhóm dị tật vỏ não lan tỏa

thường có tuổi khởi phát cơn sớm hơn các

nhóm khác, trong nghiên cứu này đều trước 3

tháng tuổi, chủ yếu quanh giai đoạn sơ sinh

Nhóm bệnh nhân này thường tiến triển nhanh

thành các cơn động kinh thảm họa

(catastrophic epilepsy), đòi hỏi thời điểm

phẫu thuật sớm hơn Trong nghiên cứu của

chúng tôi, ở nhóm này 7/8 bệnh nhân được

can thiệp phẫu thuật trước 2 tuổi, bệnh nhân

nhỏ tuổi nhất là 9 tháng tuổi Trong 83 bệnh nhân của Delalande nghiên cứu, tuổi phẫu thuật nhỏ nhất là 4 tháng, do đó tùy mức độ nghiêm trọng của các cơn động kinh ảnh hưởng tới trẻ mà có thể chỉ định sớm hơn [3] Tuy nhiên, liên quan tới thể tích máu ít và các bất thường bẩm sinh não đôi khi đòi hỏi

sự cắt bỏ nhu mô não nhiều hơn, nên tỉ lệ tử vong ở nhóm trẻ nhỏ thường cao hơn

Lịch sử của phẫu thuật cắt liên kết bán cầu chuyển dịch theo hướng từ cắt giải phẫu sang cắt liên kết chức năng do tỉ lệ các biến chứng giảm Nhiều kĩ thuật được các tác giả phát triển cùng với sự phát triển của vi phẫu thuật và nội soi hỗ trợ trong phẫu thuật thần kinh Chúng ta có thể chia các tiếp cận trong phẫu thuật cắt liên kết bán cầu chức năng làm 2 nhóm chính Nhóm thứ nhất, các phẫu thuật tiếp cận theo phương đứng dọc qua não thất được phát triển đầu tiên bởi Delalande (thập niên 90) tiếp cận qua nhu mô não thùy trán trên và các tác giả sau này tiếp cận qua thể chai bằng vi phẫu thuật hoặc có nội soi

hỗ trợ Nhóm thứ hai, các phẫu thuật tiếp cận

từ phía bên, đầu tiên được phát triển bởi Rasmussen(1974), và các tác giả sau này phát triển các kĩ thuật cắt liên kết bán cầu quanh thùy đảo hoặc cắt liên kết bán cầu qua khe Sylvius [2], [3], [5] Trong nhóm nghiên cứu, chúng tôi thực hiện phẫu thuật cắt liên kết bán cầu chức năng theo 2 phương pháp chính: 5 bệnh nhân (41,6%) phẫu thuật cắt liên kết bán cầu đứng dọc theo Delalande, 7 bệnh nhân (58,4%) phẫu thuật cắt liên kết bán cầu quanh thùy đảo biển đổi (dựa theo Villemure)

Kết quả của phẫu thuật cắt liên kết bán cầu tập trung vào đánh giá các vấn đề: cải thiện tình trạng động kinh theo Engel, các biến chứng liên quan tới phẫu thuật gồm các thiếu hụt vận động, tình trạng giãn não thất,

Trang 7

tử vong và khả năng sinh hoạt độc lập ở trẻ

em

Trong nghiên cứu của chúng tôi đều ghi

nhận cải thiện tình trạng động kinh sau 6

tháng, với mức Engel I: 50% (gồm 6/7 bệnh

nhân cắt theo kĩ thuật liên kết bán cầu quanh

thùy đảo cho kết quả đạt Engel I sau 6

tháng), Engel II: 50% Thứ nhất, khi đánh giá

về sự liên quan giữa bệnh nguyên và kết quả

cải thiện động kinh, phần lớn các kết quả đều

chỉ ra tỉ lệ bệnh nhân đạt Engel I ở nhóm tổn

thương mắc phải (như viêm não Rasmussen

hay tổn thương não thứ phát) từ 73-93% cao

hơn nhóm phì đại bán cầu hoặc loạn sản vỏ

đa thùy (từ 63-80%) [6] Nghiên cứu của

chúng tôi cũng chỉ ra, tỉ lệ cải thiện đạt Engel

I cao nhất ở nhóm viêm não Rasmussen: 2/2

bệnh nhân (100%); nhóm tổn thương não thứ

phát: 1/ 2 bệnh nhân (50%); nhóm phì đại

bán cầu: 3/8 bệnh nhân (37,5%) Thứ 2, khi

đánh giá kết quả cải thiện tình trạng động

kinh với kĩ thuật mổ, trong các nghiên cứu về

kết quả phẫu thuật cắt liên kết bán cầu

(hemispherotomy) thì tỉ lệ Engel I đạt được

dao động từ 43-90% So sánh với nghiên cứu

đa trung tâm của Holthausen (1997) trên 333

bệnh nhân được phẫu thuật cắt bán cầu

(hemispherectomy) thấy tỉ lệ đặt Engel I đạt

85,7% có cao hơn so với một số nghiên cứu

về phẫu thuật cắt liên kết bán cầu [7] So

sánh kết quả cải thiện động kinh đạt Engel I

giữa các kĩ thuật mổ của các tác giả tiên

phong: Delalande (2007, cắt liên kết bán cầu

đứng dọc): 74%( n=83), Villemure (2006, cắt

liên kết bán cầu quanh thùy đảo): 90%

(n=43), Schramm (2006, cắt liên kết bán cầu

qua khe sylvius): 90% (n = 49); ta có thể

thấy nhóm tiếp cận phẫu thuật từ phía bên

(cắt liên kết bán cầu quanh thùy đảo và qua

khe Sylvius) có tỉ lệ cải thiện động kinh có

phần tốt hơn [2], [3], [8] Tuy nhiên, khó có

thể khẳng định phương pháp nào có ưu điểm

và khả năng đạt hiệu quả cải thiện tốt hơn do

mô hình bệnh nhân cùng như bệnh tật khác nhau giữa các nhóm nghiên cứu [9] Trong nghiên cứu của chúng tôi, 6/7 bệnh nhân phẫu thuật cắt liên kết bán cầu quanh thùy đảo cải tiến cho kết quả cải thiện động kinh mức Engel I, 5/5 bệnh nhân phẫu thuật cắt liên kết bán cầu đứng dọc đạt Engel II (4/5 bệnh nhân phẫu thuật cắt liên kết bán cầu, có chẩn đoán là phì đại bán cầu, thuộc nhóm có tiên lượng phẫu thuật khó khăn hơn và hiệu quả điều trị thấp hơn các nhóm căn nguyên khác như đã nói ở trên) Với các phẫu thuật viên bước đầu tiếp cận với nhóm các kĩ thuật cắt liên kết bán cầu, khi tiếp cận từ phía bên theo kĩ thuật cắt liên kết bán cầu quanh thùy đảo biến đổi giúp phẫu thuật viên có khoảng không gian rộng hơn để dễ dàng đánh giá khi thực hiện cắt bỏ các liên kết chính mà không cần sự trợ giúp nhiều của định vị thần kinh Như vậy, khi so sánh với các nghiên cứu tiên phong và qua kinh nghiệm bước đầu thực hiện, chúng tôi thấy cắt liên kết bán cầu quanh thùy đảo biến đổi cho kết quả khả quan hơn cho các phẫu thuật viên ban đầu tiếp cận nhóm các kĩ thuật cắt liên kết bán cầu

Về các biến chứng của phẫu thuật, chúng tôi không ghi nhận trường hợp nào tử vong tới thời điểm hiện tại; giãn não thất phải đặt dẫn lưu não thất ổ bụng sau mổ chiếm 8,3% (1/12) là trường hợp phì đại bán cầu được phẫu thuật theo kĩ thuật cắt liên kết bán cầu đứng dọc Đánh giá các nghiên cứu về kĩ thuật cắt liên kết bán cầu, tỉ lệ tử vong từ 2 -5%; tỉ lệ giãn não thất phải đặt dẫn lưu não thất ổ bụng từ 2 -16%, trong đó nghiên cứu của Delalande (2007, n=83) về kĩ thuật cắt bán cầu đứng dọc có tỉ lệ tử vong (4%) và giãn não thất (16%) cao hơn các kĩ thuật cắt

Trang 8

liên kết quanh thùy đảo và qua khe Sylvius

Tuy vậy, đánh giá so với kết quả phẫu thuật

cắt bán cầu giải phẫu của Vinging (1997,

n=58), thì tỉ lệ tử vong (7%), giãn não thất

(28%) cao hơn hẳn các kĩ thuật cắt liên kết

bán cầu [6] Các biến chứng khác gặp sau

phẫu thuật: nhiều nhất là viêm màng não

(8/12), chảy máu vị trí mổ (1/12, không phải

mổ lại cầm máu), nhồi máu phần nhu mô não

còn lại của bán cầu sau phẫu thuật (1/12)

Như vậy, các biến chứng nặng và tỉ lệ tử

vong khi chúng tôi bước đầu thực hiện phẫu

thuật cắt liên kết bán cầu đều ở mức thấp

Liệt vận động nửa người thường biểu

hiện rõ ở tay hơn chân Tuổi hiện tại của

nhóm nghiên cứu từ 3,5-12 tuổi, chúng tôi

ghi nhận 11/12 trẻ có thể đi lại một mình

hoặc có sự trợ giúp mặc dù có liệt vận động

chi dưới không hoàn toàn Tỉ lệ này ở các

nghiên cứu khác khoảng 84% Về khả năng

vận động linh hoạt sau mổ của khuỷu, bàn

tay, đặt biệt là ngón tay khi thực hiện các

động tác thường kém kể cả nhóm bệnh nhân

viêm não Rasmussen (thường được coi là có

tiên lượng tốt hơn trong các nghiên cứu)

V KẾT LUẬN

Phẫu thuật cắt liên kết bán cầu chức năng

tại Bệnh viện Nhi Trung ương bước đầu cho

thấy khả năng cải thiện tình trạng động kinh

kháng thuốc, với tỉ lệ biến chứng nặng ở mức

thấp Phẫu thuật cắt liên kết bán cầu quanh

thùy đảo là một lựa chọn tốt cho các phẫu

thuật viên khi tiếp cận thực hiện nhóm các kĩ

thuật cắt liên kết bán cầu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Krynauw R.A (1950) Infantile hemiplegia

treated by removing one cerebral

hemisphere J Neurol Neurosurg Psychiatry,

13(4), 243–267

2 Villemure J.-G and Daniel R.T (2006)

Peri-insular hemispherotomy in paediatric

epilepsy Childs Nerv Syst, 22(8), 967–981

3 Delalande O., Bulteau C., Dellatolas G., et

al (2007) Vertical Parasagittal Hemispherotomy: Surgical Procedures and Clinical Long-Term Outcomes In A Population Of 83 Children Operative

Neurosurgery, 60 (suppl_2), 19–32

4 Saito Y., Sugai K., Nakagawa E., et al

(2009) Treatment of epilepsy in severely disabled children with bilateral brain malformations Journal of the Neurological

Sciences, 277(1), 37–49

5 Baumgartner J.E., Blount J.P., Blauwblomme T., et al (2017) Technical

descriptions of four hemispherectomy approaches: From the Pediatric Epilepsy Surgery Meeting at Gothenburg 2014

Epilepsia, 58, 46–55

6 De Ribaupierre S and Delalande O

(2008) Hemispherotomy and other disconnective techniques Neurosurgical

focus, 25, E14

7 Holthausen H., Strobl K., and Pieper T

(1997) Paediatric Epilepsy Syndromes and Their Surgical Treatment

8 Schramm J., Behrens E., and Entzian W

(1995) Hemispherical deafferentation: an alternative to functional hemispherectomy

Neurosurgery, 36(3), 509–515; discussion

515-516

9 de Palma L., Pietrafusa N., Gozzo F., et al

(2019) Outcome after hemispherotomy in patients with intractable epilepsy: Comparison of techniques in the Italian

experience Epilepsy & Behavior, 93, 22–28

Ngày đăng: 27/01/2023, 00:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w