Bài viết Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị bệnh lý thoái hóa tầng kế cận sau phẫu thuật làm cứng cột sống thắt lưng trình bày đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật mất vững cột sống tầng kế cận sau phẫu thuật làm cứng cột sống thắt lưng và các yếu tố liên quan.
Trang 1ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ
HOÁI HÓA TẦNG KẾ CẬN SAU PHẪU THUẬT LÀM CỨNG CỘT SỐNG THẮT LƯNG
Phạm Anh Tuấn 1,2 , Nguyễn Ngọc Khang 3 , Võ Thành Nghĩa 1,2 ,
Nguyễn Duy Phương 1,4 , Lê Anh Khoa 1
TÓM TẮT 1
Đặt vấn đề: Phẫu thuật điều trị bệnh lý thoái
hóa tầng kế cận sau phẫu thuật làm cứng cột sống
thắt lưng đã được tiến hành rộng rãi Tuy nhiên,
hiện nay trong nước vẫn chưa có nhiều nghiên
cứu về phương pháp phẫu thuật điều trị về bệnh
lí này
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị phẫu
thuật mất vững cột sống tầng kế cận sau phẫu
thuật làm cứng cột sống thắt lưng và các yếu tố
liên quan
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
nghiên cứu mô tả hàng loạt ca Các bệnh nhân
được chẩn đoán bệnh lí thoái hóa cột sống tầng
kế cận sau phẫu thuật làm cứng cột sống thắt
lưng và được phẫu thuật tại khoa Ngoại Thần
Kinh, bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng
9/2017 đến tháng 3/2019
Kết quả: Có 34 trường hợp được phẫu thuật,
tuổi trung bình là 58,71 ± 8,29 tuổi Đau lưng là
triệu chứng thường gặp nhất Thời gian phẫu
thuật trung bình là 172,65 ± 47,21 phút Không
ghi nhận các biến chứng lớn trong phẫu thuật
1
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
2 Đại học Y Dược TP HCM
3
Bệnh viện Chợ Rẫy
4 Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Anh Tuấn
Email: tuandoctor2000@gmail.com
Ngày nhận bài: 9.10.2022
Ngày phản biện khoa học: 16.10.2022
Ngày duyệt bài: 31.10.2022
Kết quả hồi phục sau mổ được đánh giá theo công thức của Hirabayashi: các bệnh nhân hồi phục sau mổ rất tốt, tốt, trung bình lần lượt là 8,8%, 55,9%, 35,3% Không có trường hợp nào
có kết quả kém trong mẫu nghiên cứu này Các yếu tố như: tuổi trẻ, giới tính nam, thể trạng gầy, trung bình có liên quan đến kết quả hồi phục và
có tỉ lệ hồi phục tốt hơn
Kết luận: Tỉ lệ phục hồi sau phẫu thuật đa số
mức trung bình tới tốt Các yếu tố như: tuổi trẻ, giới tính nam, thể trạng gầy, trung bình có liên quan đến kết quả hồi phục và có tỉ lệ hồi phục tốt hơn
SUMMARY
RESULTS OF SURGICAL TREATMENT OF ADJACENT SEGMENT DISEASE IN LUMBAR
SPINE
Objective: To evaluate efficacy, safety, and
impact factors of surgical treatment of adjacent segment disease in lumbar spine
Subjects and methods: This were a case
series study of patients who had surgical treatment of adjacent segment disease in lumbar spine from 9/2017 to 3/2019 at Nguyen Tri Phuong hospital
Results: There were 34 cases of surger The
mean age was 58.71 ± 8.29 years old Back pain
is the most common symptom The mean surgery time was 172.65 ± 47.21 minutes No major intraoperative complications were noted Postoperative recovery results were evaluated
Trang 2according to Hirabayashi's formula: the patients
recovered very well, good, with an average of
8.8%, 55.9%, and 35.3%, respectively There
were no cases of poor outcomes in this study
sample Factors such as: young age, male gender,
thin body, average are associated with recovery
outcomes and have better recovery rates
Conclusions: The postoperative recovery
rate of most cases was moderate to good Factors
such as: young age, male gender, thin body,
average are associated with recovery outcomes
and have better recovery rate
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Phẫu thuật ghép xương kết hợp làm cứng
vùng cột sống thắt lưng hiện nay được xem
như là tiêu chuẩn vàng trong điều trị phẫu
thuật các bệnh lí mất vững ở vùng cột sống
Tuy nhiên sau phẫu thuật ghép xương kết
hợp làm cứng cột sống được vài năm, thì có
thể xuất hiện tình trạng thoái hóa tầng kế
cận Sự thoái hóa này gây ra chèn ép rễ thần
kinh, hẹp ống sống và gây ra các triệu chứng
lâm sàng mới, đặc biệt là đau cho bệnh nhân
Nhiều trường hợp phải đòi hỏi phẫu thuật
giải ép lần nữa sau khi điều trị nội khoa thất
bại[1],[1],[3],[2] Những năm gần đây trên
thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về sự
tiến triển gây ra bệnh lí tầng kế cận sau phẫu
thuật ghép xương làm cứng cột sống thắt
lưng, các nghiên cứu nhằm xác định cơ chế,
tỉ lệ, các yếu tố nguy cơ của bệnh từ đó đưa
ra các khuyến cáo thích hợp Tuy nhiên tình
hình trong nước hiện nay vẫn chưa có nhiều
nghiên cứu, hay báo cáo nào về bệnh lí này
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu hồi
cứu mô tả hàng loạt ca
Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhân
cột sống tầng kế cận sau phẫu thuật làm cứng cột sống thắt lưng và được phẫu thuật tại khoa Ngoại Thần Kinh, bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 9/2017 đến tháng
3/2019
Tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu:
Các bệnh nhân được chẩn đoán là thoái hóa mất vững cột sống tầng kế cận sau phẫu thuật làm cứng cột sống thắt lưng có chỉ định phẫu thuật
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Các bệnh nhân mất vững do chấn thương hay do các bệnh lí ung thư, viêm nhiễm
- Các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nhưng không thể phẫu thuật được hay không đồng
ý tham gia nghiên cứu
Biến số nghiên cứu: các bệnh nhân được
đánh giá:
- Tình trạng lâm sàng trước phẫu thuật: đặc điểm đau, điểm VAS, điểm JOA
- Hình ảnh học trước phẫu thuật: mức độ thoái hóa đĩa đệm, tầng thoái hóa
- Thời gian phẫu thuật, các biến chứng trong phẫu thuật
- Tình trạng lâm sàng sau phẫu thuật: điểm VAS, đánh giá theo thang điểm Modified Macnab
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ tháng 9/2017 đến tháng 3/2019, chúng tôi đã tiến hành phẫu thuật 34 trường hợp bệnh lí thoái hóa mất vững cột sống tầng
kế cận sau phẫu thuật làm cứng cột sống thắt lưng Trong đó, có 12 trường hợp bệnh nhân nam, chiếm 35,3% và 22 bệnh nhân nữ, chiếm tỷ lệ 64,7% Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 58,71 ± 8,29 tuổi, lớn
Trang 3Đặc điểm lâm sàng trước phẫu thuật
Thời gian trung bình phải phẫu thuật lại
lần 2 là 47,26 ± 33,07 tháng; sớm nhất là 12
tháng và lâu nhất là 144 tháng Tất cả bệnh
nhân đều có triệu chứng đau lưng, kế đến là triệu chứng đau cách hồi thần kinh (88,2%)
và đau theo rễ thần kinh (73,5%)
Bảng 1 Các triệu chứng lâm sàng lúc vào viện
Đánh giá tình trạng lâm sàng trước mổ
theo thang điểm JOA, chúng tôi ghi nhận:
thấp nhất là 4 điểm, cao nhất là 9 điểm, trung
bình là 6,82 ± 1,22 Trong mẫu nghiên cứu
này, đa số bệnh nhân nhập viện có điểm JOA
từ 6 – 8 điểm chiếm tỉ lệ 73%
Đặc điểm hình ảnh học trước phẫu
thuật
Có 15 (44,1%) trường hợp đã phẫu thuật
làm vững cột sống 1 tầng, 19 (55,9%) trường
hợp đã phẫu thuật làm vững cột sống nhiều
tầng Đa số bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
có tình trạng thoái hóa tầng kế cận xảy ra phía trên vị trí đã phẫu thuật, chiếm 28 (82,4%) trường hợp 27 (79,4%) bệnh nhân trượt đốt sống độ I và 7 (20,6%) bệnh nhân trượt độ II số trường hợp bị hẹp ống sống là
30 trường hợp, chiếm tỉ lệ 88,2% Số trường hợp bị phì đại mặt khớp là 26 trường hợp, chiếm tỉ lệ 76,5%
Đánh giá mức độ thoái hóa đĩa đệm theo phân độ Pfirrmann trên T2W, chúng tôi ghi nhận kết quả được trình bày trong bảng 2
Bảng 2 Đánh giá mức độ thoái hóa đĩa đệm
Mức độ thoái hóa đĩa đệm Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Điều trị phẫu thuật
Tất cả bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
đều được phẫu thuật giải ép lấy nhân đệm
ghép xương liên thân đốt qua lỗ liên hợp
Thời gian trung bình một ca mổ 172,65 ±
47,21 phút, ngắn nhất là 90 phút, dài nhất là
350 phút Trường hợp mổ kéo dài nhất là do thoái hóa 2 tầng kế cận và phải thay các vít
cũ do lỏng vít Các biến chứng trong và sau
mổ được trình bày trong bảng 3
Trang 4Bảng 3 Đánh giá các biến chứng trong và sau mổ
Kết quả điều trị sau phẫu thuật
Điểm VAS đau lưng sau mổ 1 tuần thấp
nhất là 0, cao nhất là 4 Điểm VAS đau lưng
trung bình sau mổ là 1,91 ± 1,44, thấp nhất
là 0 điểm, cao nhất là 4 điểm Sau mổ 6
tháng, điểm VAS đau lưng thấp nhất là 1
điểm, cao nhất là 4 điểm, trung bình là 2,03 ± 0,87 Điểm VAS lưng sau mổ 1 tuần và sau
mổ 6 tháng có giảm so với điểm VAS lưng trước mổ, sự thay đổi này có ý nghĩa thống
kê qua áp dụng phép kiểm Paired sample T test (p = 0,001 < 0,05)
Bảng 4 Đánh giá hiệu quả điều trị sau mổ và sau mổ 6 tháng qua thang điểm VAS đau lưng
Điểm VAS Thấp nhất Cao nhất Trung bình &độ
lệch chuẩn Giá trị p
(t = 18,
df = 33)
Phép kiểm Paired sample T test (so sánh bắt cặp hai trung bình)
Điểm VAS đau chân trung bình sau mổ 1
tuần là 1,96 ± 0,74, thấp nhất là 1, cao nhất
là 3 Điểm VAS chân sau mổ 6 tháng thấp
nhất là 1, cao nhất là 2 Điểm VAS đau chân
trung bình sau mổ 6 tháng là 1,64 ± 0,49
Điểm VAS đau chân sau mổ 1 tuần và sau
mổ 6 tháng có sự thay đổi và giảm so với
trước mổ, sự thay đổi này có ý nghĩa thống
kê qua áp dụng phép kiểm Paired sample T test (p = 0,001 < 0,05) Điểm VAS chân trung bình sau mổ 1 tuần so với điểm VAS chân trung bình sau mổ 6 tháng, không có sự thay đổi nhiều và sự thay đổi này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,422 > 0,05)
Bảng 5 Đánh giá hiệu quả điều trị sau mổ 1 tuần và sau mổ 6 tháng qua thang điểm VAS đau chân
Điểm VAS Thấp nhất Cao nhất Trung bình & độ
lệch chuẩn Giá trị p
(t = 18,
df = 24)
Trang 5Kết quả hồi phục sau mổ được đánh giá
theo công thức của Hirabayashi: các bệnh
nhân hồi phục sau mổ rất tốt, tốt, trung bình
lần lượt là 8,8%, 55,9%, 35,3% Không có
trường hợp nào có kết quả kém trong mẫu
nghiên cứu này Tỉ lệ hồi phục sau mổ đa số
ở mức độ trung bình tới tốt trên 91% các trường hợp
Đánh giá theo thanh điểm Modified Macnab tại thời điểm sau phẫu thuật 6 tháng được trình bày trong bảng 6
Bảng 6 Hiệu quả điều trị sau mổ 6 tháng qua tiêu chuẩn Modified Macnab
Đánh giá các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị
Kết quả điều trị phẫu thuật sau mổ có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, ở các nhóm tuổi trẻ hơn có tỉ lệ hồi phục tốt hơn (p = 0,014)
Bảng 7 Sự liên quan giữa nhóm tuổi và kết quả phẫu thuật
Tỉ lệ hồi phục
Nhóm tuổi
Giá trị p
< 40 (n = 1)
40-50 (n = 4)
50-60 (n = 14)
> 60 (n = 15) Rất tốt 1 (100%) 1 (25%) 1 (7,1%) 0 0,014
(χ2 = 16,01,
df = 6)
Tốt 0 2 (50%) 10 (71,4%) 7 (46,7%)
Trung bình 0 1 (25%) 3 (21,5%) 8 (53,3%)
Tỉ lệ hồi phục ở 2 nhóm có sự khác biệt, nhóm bệnh nhân nam có tỉ lệ hồi phục tốt hơn ở nhóm bệnh nhân nữ và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,038 < 0,05)
Bảng 8 Sự liên quan giữa giới tính và kết quả phẫu thuật
Nam (n = 12) Nữ (n = 22)
( χ2 = 6,56,
df = 2)
Kết quả hồi phục có sự khác nhau giữa các nhóm thể trạng Nhóm bệnh nhân có thể trạng gầy và trung bình, có tỉ lệ hồi phục tốt hơn ở nhóm bệnh nhân thừa cân và béo phì và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê qua ứng dụng phép kiểm chi bình phương (p = 0,006)
Trang 6Bảng 9 Đánh giá sự liên quan giữa thể trạng (BMI) và kết quả phẫu thuật
Tỉ lệ hồi
phục
Thể trạng (BMI)
Giá trị p
Gầy (n = 1) TB (n = 13)
Thừa cân (n = 13)
Béo phì (n = 7)
(χ2 = 17,89,
df = 6)
Tốt 0 10 (76,9%) 8 (61,5%) 3 (42,8%)
Trung bình 0 1 (7,7%) 5 (38,5%) 4 (57,2%)
IV BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Tuổi trung bình trong nghiên cứu này là
58,71 ± 8,29 Đa số bệnh nhân thuộc nhóm
trên 50 tuổi, chiếm tỉ lệ 88% Nhìn chung
ASD là bệnh lí thoái hóa kéo dài âm ĩ trong
nhiều năm sau phẫu thuật ghép xương cột
sống, vì vậy mà trong hầu hết các nghiên cứu
bệnh nhân nhập viện có đặc điểm thuộc
nhóm tuổi cao thường trên 55
tuổi[1],[3],[6],[6],[8]
Đa số bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
này là nữ chiếm tỉ lệ 64,7% Các nghiên cứu
đều ghi nhận tỉ lệ mắc ASD ở nữ cao hơn ở
nam Nghiên cứu của các tác giả
Toshitada[8] và Du[2] có tỉ lệ nữ lần lượt là
66,7% và 60%, còn theo nghiên cứu của tác
giả Masayuki[6] thì tì lệ nam cao hơn nữ,
trong đó tỉ lệ bệnh nam chiến 52% Tỉ lệ về
giới trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi
cũng tương tự như các tác giả Toshitada và
Du, nữ giới chiếm tỉ lệ cao hơn nam giới
Chưa có báo cáo nào phân tích vì sao tỉ lệ nữ
cao hơn, có thể đây là bệnh thường xảy ra ở
nhóm bệnh nhân lớn tuổi và phụ nữ sau tuổi
mãn kinh có tỉ lệ loãng xương cao hơn nam
giới, do vậy mà khả năng gặp các vấn đề về
bệnh lí cột sống nhiều hơn
Đặc điểm lâm sàng trước phẫu thuật
Đau là triệu chứng lâm sàng thường gặp
thúc đẩy bệnh nhân nhập viện Trong mẫu
nghiên cứu này tỉ lệ đau lưng của chúng tôi
trường hợp của Hazem và cộng sự báo cáo vào năm 2016 thì triệu chứng đau lưng thường gặp nhất chiếm tỉ lệ 96,4% [6] Theo nghiên cứu của Hazem và cộng sự báo cáo thì triệu chứng đau cách hồi thần kinh lúc nhập viện chiếm 86%, trong mẫu nghiên cứu này của chúng tôi triệu chứng đau cách hồi thần kinh chiếm tỉ lệ 88,2% Triệu chứng đau theo rễ thần kinh cũng thường gặp, thường
do quá trình thoái hóa phì đại mặt khớp, ngách bên chèn ép vào rễ thần kinh gây ra Đau với đặc điểm là: đau từ lưng, mông lan xuống mặt sau đùi, cẳng chân, bàn chân, có thể đau một bên hoặc hai bên, đau ở giai đoạn sau nặng hơn trước Tỉ lệ đau theo rễ thần kinh trong nghiên cứu này là 75,3%, thấp hơn so với tác giả Hazem Mashaly 89%[6]
Rối loạn cơ vòng thường do chèn ép chùm đuôi ngựa, biểu hiện lâm sàng yếu hai chi dưới, rối loạn cương dương, rối loạn tiêu tiểu Trong nghiên cứu này có 1 trường hợp
có triệu chứng rối loạn cơ vòng là tiểu không
tự chủ chiếm tỉ lệ 2,9% Trong hầu hết các nghiên cứu[1],[1,[3],[2] thì triệu chứng rối loạn cơ vòng chiếm tỉ lệ rất thấp, hầu hết bệnh nhân nhập viện vì các triệu chứng đau lưng và đau cách hồi thần kinh
Mức độ đau trung bình đánh giá theo thang điểm VAS trong nghiên cứu cũng tương đương với các nghiên cứu của các tác giả khác như: nghiên cứu của tác giả Hazem
Trang 7bình trước phẫu thuật là 7,2 ± 1,4, nghiên
cứu của tác giả Jerry Y Du có điểm đau
VAS trung bình trước phẫu thuật là 7,7 ± 1,8
Nhận thấy rằng trong các nghiên cứu bệnh
nhân nhập viện vì đau nặng đến rất nặng
chiếm đa số [6],[2]
Trong số các đối tượng trong nghiên cứu, trường hợp quay lại mổ lần hai sớm nhất là
12 tháng Trường hợp mổ lại lần thứ hai lâu nhất là 144 tháng Thời gian trung bình mổ lại lần hai là 47,26 ± 33,07 tháng
Bảng 10 So sánh khoảng cách thời gian mổ lại của các nghiên cứu
Tác giả Khoảng cách thời gian mổ (tháng) Trung bình và độ
lệch chuẩn Gần nhất Xa nhất
Theo ghi nhận của các nghiên cứu trên
thì thời gian mổ lại trung bình lần hai vì ASD
từ khoảng 3,5-4,5 năm Kết quả của chúng
tôi cũng gần tương đương với các tác giả
Choo Sung Lee và Hazem Mashaly Nhìn
chung các bệnh nhân sau mổ giải ép làm
cứng cột sống lần đầu đa số cho kết quả tốt,
nhưng sau mổ khoảng 4-5 năm xuất hiện các
triệu chứng của ASD[3],[6]
Kết quả phẫu thuật
Điểm VAS lưng trung bình sau mổ là
2,03 ± 0,87 Điểm VAS lưng sau mổ và sau
mổ 6 tháng có sự thay đổi và giảm so với
trước mổ, sự thay đổi này có ý nghĩa thống
kê qua áp dụng phép kiểm Paired sample T
test (p = 0,001 < 0,05) và kết quả điều trị là
điểm đau VAS lưng giảm rõ sau mổ
Điểm VAS lưng sau mổ 6 tháng có sự
tăng nhẹ so với điểm VAS lưng sau mổ, tuy
nhiên sự thay đổi này không có ý nghĩa
thống kê ( p = 0,422 > 0,05 ) Điều này nói
lên tình trạng lâm sàng của bệnh nhân ổn
định từ sau mổ đến sau mổ 6 tháng
Kết quả hồi phục sau mổ được đánh giá theo công thức tiêu chuẩn Modified Macnab: các bệnh nhân hồi phục sau mổ rất tốt có 3 trường hợp, chiếm tỉ lệ 8,8% Các bệnh nhân hồi phục tốt sau mổ có 19 trường hợp, chiếm
tỉ lệ 55,9% Các bệnh nhân hồi phục trung bình sau mổ 12 có trường hợp, chiếm tỉ lệ 35,3% Không có trường hợp nào có kết quả kém trong mẫu nghiên cứu này Tỉ lệ hồi phục sau mổ đa số ở mức độ trung bình tới tốt
Chúng tôi nhận thấy trong nhóm gầy có 1 trường hợp cho kết quả rất tốt Nhóm BMI trung bình có 13 trường hợp cho kết quả tốt đến rất tốt là 12, chiếm tỉ lệ 92,3% Nhóm thừa cân có 13 trường hợp cho kết quả tốt 8 trường hợp chiếm tỉ lệ 61,5% Nhóm béo phì
7 trường hợp có kết quả tốt 3, chiếm tỉ lệ 42,8% Ta nhận thấy kết quả hồi phục có sự khác nhau giữa các nhóm thể trạng, nhóm bệnh nhân có thể trạng gầy và trung bình, có
tỉ lệ hồi phục tốt hơn ở nhóm bệnh nhân thừa cân và béo phì và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê qua ứng dụng phép kiểm chi bình phương (p = 0,006 < 0,05)
Trang 8V KẾT LUẬN
Phẫu thuật mất vững cột sống tầng kế cận
sau phẫu thuật làm cứng cột sống thắt lưng
giúp cải thiện triệu chứng đau ở bệnh nhân
Tỉ lệ phục hồi sau mổ của các trường hợp ở
đa số mức trung bình tới tốt Các yếu tố như:
tuổi trẻ, giới tính nam, thể trạng gầy, trung
bình có liên quan đến kết quả hồi phục và có
tỉ lệ hồi phục tốt hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ahn DK, Park HS, Choi DJ, Kim KS,
Yang SJ (2010), Survival and Prognostic
Analysis of Adjacent Segments after Spinal
Fusion, Clinics in Orthopedic Surgery J,
Volume 2, pp 140-147
2 Du J, Kiely PD, Maaieh MA, Aichmair A,
Huang RC (2017) Lateral lumbar interbody
fusion with unilateral pedicle screw fixation
for the treatment of adjacent segment
disease: a preliminary report, J Spine Surg,
Volume 3, Issue 3, pp 330-337
3 Ibarz E, Mas Y, Mateo J, Escolar AL,
Herrera A, Gracia L (2013), Instability of
the lumbar spine due to disc degeneration a
finite element simulation, advances in
bioscience and biotechnology, Volume 4, pp 548-556
4 Lee CS, Hwang CJ, Lee SW, Ahn J, Kim
YT, Lee DH, Lee MY (2009) Risk factors
for adjacent segment disease after lumbar fusion, Eur Spine J, Volume 18, pp 1637–
1643
5 Liu C, Xia T, Tian J (2010) New progress
in adjacent segment degeneration disease, Orthepeadic Surgery, Volume 2, Issue 3, pp 182-186
6 Masayuki M, et al (2013), Additional
decompression at adjacent segments leads to adjacent segment degeneration after PLIF, Eur Spine J, Volume 22, pp 1877–1883
7 Mashaly H, Paschel E, Nicolas K (2016)
Posterior lumbar dynamic stabilization instead of arthrodesis for symptomatic adjacent segment degenerative stenosis: description of a novel technique, Neurosurg Focus, Volume 40, Issue 1, pp 167-172
8 Miwa T, Sakaura H, Yamashita T, Suzuki
S, Ohwada T (2013), Surgical outcomes of
additional posterior lumbar interbody fusion for adjacent segment disease after single level posterior lumbar interbody fusion, Eur Spine J, Volume 22, pp 2864-2868