Bài viết Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan của thai phụ đến khám thai tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định năm 2021 trình bày xác định tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan của thai phụ đến khám thai tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định thành phố Hồ Chí Minh năm 2021.
Trang 1TỶ LỆ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA THAI PHỤ ĐẾN KHÁM THAI TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH NĂM 2021
Hứa Thị Lệ 1 , Nguyễn Thị Minh Trang 1 , Huỳnh Thị Quỳnh Hương 2
TÓM TẮT 48
Đặt vấn đề: Đái tháo đường thai kỳ là một
bệnh rối loạn chuyển hóa phổ biến thường gặp và
đang được quan tâm hàng đầu Bệnh có khuynh
hướng ngày càng tăng trên thế giới Nếu không
được chẩn đoán và điều trị sớm đái tháo đường
thai kỳ có thể làm tăng nguy cơ ảnh hưởng đến
sự phát triển của thai nhi và sức khỏe của người
mẹ Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu được
thực hiện chỉ mô tả một vài yếu tố riêng lẻ tác
động tới tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ đái
tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan của
thai phụ đến khám thai tại Bệnh viện Nhân dân
Gia Định thành phố Hồ Chí Minh năm 2021
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Từ
tháng 04/2021 đến tháng 05/2021, 234 thai phụ
từ 24 tuần thai đến khám tại phòng Khám Sản
Bệnh viện Nhân Dân Gia Định tham gia vào
nghiên cứu cắt ngang này Các thai phụ được
phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi soạn sẵn
Kết quả: Dựa theo tiêu chuẩn ADA 2015, tỷ
lệ đái tháo đường thai kỳ là 36,8% Những thai
phụ có tiền căn đái tháo đường thai kỳ thì tỷ lệ
mắc đái tháo đường thai kỳ ở lần sau là 1,77 lần
so với nhóm không có tiền căn (KTC 95%
(1,16-1 Khoa YTCC, Đại học Y Dược TPHCM
2
Bệnh viện Nhân dân Gia Định
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Minh Trang
Email: ntmtrangytcc@ump.edu.vn
Ngày nhận bài: 15.9.2022
Ngày phản biện khoa học: 15.10.2022
Ngày duyệt bài: 10.11.2022
2,72), p=0,009) Thai phụ tăng cân từ 8kg trở lên
có tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ cao gấp 1,46 lần so với những người tăng ít hơn 8kg (KTC 95% (1,02-2,08), p=0,035) Phụ nữ mang thai vận động thể lực đủ theo khuyến cáo có tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ bằng 0,56 lần so với nhóm vận động không đủ (KTC 95% (0,35-0,89), p=0,016)
Kết luận: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ còn
khá cao Cần tư vấn, cung cấp thêm thông tin cho phụ nữ mang thai các thông tin về nguy cơ và hậu quả của đái tháo đường thai kỳ, hướng dẫn
và xây dựng các chế độ dinh dưỡng và vận động thể lực hợp lý trong quá trình mang thai nhằm
giảm thiểu tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ
Từ khóa: Đái tháo đường thai kỳ, tỷ lệ hiện
mắc, yếu tố liên quan
SUMMARY
THE PREVALENCE OF GESTATIONAL DIABETES AND RELATED FACTORS OF PREGNANT WOMEN VISITING FOR ANTENATAL EXAMINATION AT NHAN DAN GIA
DINH HOSPITAL 2021
Introduction: Gestational diabetes mellitus
is a common metabolic disorder that is gaining worldwide attention The global prevalence of the disease is rising Gestational diabetes mellitus, if not detected and treated early, can have a negative impact on the development of the fetus and the mother's health However, many studies conducted describe only a few individual
Trang 2factors influencing the prevalence of gestational
diabetes mellitus
Objective: Determining the percentage of
gestational diabetes mellitus and related factors
in pregnant women attending the Antenatal Care
Department at Nhan dan Gia Dinh Hospital, Ho
Chi Minh City, in 2021
Subjects and Method: From April 2021 to
May 2021, 234 pregnant women from 24 weeks
of gestation who visited the Obstetrics Clinic of
Nhan dan Gia Dinh Hospital participated in this
cross-sectional study The pregnant women were
directly interviewed using a structured
questionnaire
Results: Based on the diagnostic criteria by
the American Diabetes Association (ADA) in
2015, the percentage of gestational diabetes
mellitus was 36.8% The percentage of GDM in
pregnant women with a history of gestational
diabetes mellitus was 1.77 times higher than in
the group with no history (95% CI (1.16-2.72),
p=0.009) Pregnant women who gained weight
from 8kg or more had a 1.46 times higher
percentage of gestational diabetes mellitus than
those who gained less than 8kg (95% CI
(1.02-2.08), p=0.035) Pregnant women who did
enough physical activity as recommended had a
0.56 times higher percentage of gestational
diabetes mellitus compared with the group with
insufficient exercise (95% CI (0.35-0.89),
p=0.016)
Conclusion: Gestational diabetes mellitus is
still prevalent at a high percentage In order to
reduce the prevalence of gestational diabetes
mellitus, it is necessary to strengthen health
education and communication measures to
inform pregnant women about the risks and
consequences of gestational diabetes mellitus,
provide guidance and develop reasonable
nutrition and physical activity regimens during
pregnancy for pregnant women
Keywords: diabetes mellitus, prevalence,
related factor
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một trong những bệnh lý chuyển hóa đang được quan tâm hàng đầu có khuynh hướng ngày càng tăng Theo ước tính của Hiệp hội Đái tháo đường quốc tế (International Diabetes Federation_IDF) năm
2019 thì tỷ lệ hiện mắc của ĐTĐTK tại Thái Lan (24,7%), Singapore (23,5%), Malaysia (22,5%) và Việt Nam (21,3%) Có nhiều bằng chứng chỉ ra mối liên hệ giữa ĐTĐTK với tăng tỷ lệ các biến cố ở trẻ như nguy cơ thai chết lưu và ngạt khi sinh, hạ đường huyết ở trẻ sơ sinh Đối với người mẹ thì vẫn
có các trường hợp thai phụ bị ĐTĐTK mắc đái tháo đường (ĐTĐ) tip 2 sau sinh (1) Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tuổi, trọng lượng cơ thể và tiền sử gia đình mắc ĐTĐ làm tăng đáng kể tỷ lệ mắc ĐTĐTK (2) Vận động thể lực (VĐTL) và chế độ dinh dưỡng cũng là yếu tố nguy cơ của ĐTĐTK Ngoài ra thì trình độ học vấn cũng góp phần
là yếu tố tác động đến kiến thức về phòng tránh ĐTĐTK
Phòng khám Sản của Bệnh viện Nhân Dân Gia Định là nơi đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của thai phụ không chỉ trên quận Bình Thạnh mà còn các quận và tỉnh thành lân cận Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại đây với mục tiêu xác định được tỷ lệ thai phụ bị ĐTĐTK và các yếu tố liên quan đến ĐTĐTK Từ đó có thể định hướng cho các mô hình phòng ngừa ĐTĐTK đạt hiệu quả hơn, nhất là các hoạt động truyền thông và giáo dục sức khỏe
Trang 3II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt
ngang
Đối tượng được chọn: Là các thai phụ
với tuổi thai từ 24 tuần đến khám tại phòng
Khám Sản bệnh viện Nhân Dân Gia Định
vào thời điểm tiến hành nghiên cứu và đồng
ý tham gia nghiên cứu
Cỡ mẫu: Tính theo công thức ước lượng
Theo nghiên cứu Nguyễn Thị Lệ Hằng và
Nguyễn Thị Bích Đào (3), tỷ lệ ĐTĐTK ước
tính là p=0,16, sai số biên d=0,05 Dự trù tỷ
lệ từ chối tiếp tục tham gia nghiên cứu hoặc
không làm nghiệm pháp dung nạp glucose
đường uống (OGTT) là 10% Cỡ mẫu tối
thiểu cần thu thập là 234 thai phụ
Phương pháp và công cụ thu thập số
liệu: Chọn mẫu thuận tiện Phỏng vấn mặt
đối mặt với bộ câu hỏi soạn sẵn kết hợp đối
chiếu với sổ khám thai và phiếu kết quả
OGTT của đối tượng Thai phụ từ 24 tuần đã
có làm OGTT từ tuần 24 đến 28 tuần được
tiến hành phỏng vấn bằng bộ câu hỏi soạn
sẵn kết hợp ghi nhận các chỉ số đường huyết
Đối với thai phụ từ 24-28 tuần chưa làm
OGTT, trong thời gian chờ kết quả OGTT nghiên cứu viên tiến hành phỏng vấn và cân
đo chiều cao, cân nặng, sau đó chờ ghi chép kết quả xét nghiệm
Xử lý số liệu: Các dữ liệu được nhập liệu
bằng phần mềm EpiData 4.6 và phân tích thống kê với phần mềm Stata 14.2 Biến số định tính được mô tả bằng tần số và tỉ lệ phần trăm Biến số định lượng liên tục được
mô tả bằng trung bình và độ lệch chuẩn Dùng phép kiểm Chi bình phương để kiểm định mối liên quan giữa các yếu tố và tỷ lệ ĐTĐTK Nếu trên 20% tổng số các ô có vọng trị nhỏ hơn 5, phép kiểm Fisher được
sử dụng Tỷ số hiện mắc PR với với khoảng tin cậy (KTC) 95% được dùng để lượng hóa
các mối liên quan đơn biến Mô hình hồi quy
Poisson được sử dụng để phân tích đa biến
Đạo đức nghiên cứu: Đề cương nghiên
cứu đã được chấp thuận về mặt y đức trong nghiên cứu từ Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học số 73/HĐĐĐ-ĐHYD,
ký ngày 28/01/2021 Quá trình thu thập dữ liệu được sự cho phép Bệnh viện Nhân Dân Gia Định số 27/NDGD-HĐĐĐ, ký ngày 22/3/2021
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (N=234)
Nhóm tuổi*
< 35 tuổi
35 tuổi
30,9±5,2*
179
55
18-44** 76,5 23,5
BMI trước khi mang thai
< 23
23
183
51
78,2 21,8
Tăng cân thời điểm xét nghiệm
< 8kg
8kg
146
88
62,4 37,6
Tiền căn ĐTĐTK
Trang 4Có Không
Tiền căn gia đình mắc ĐTĐ
Có Không
14
137
21
213
9,3 90,7
9,0 91,0
Tiền căn gia đình mắc ĐTĐ
Có Không
21
213
9,0 91,0
Kiến thức về ĐTĐTK
VĐTL đủ theo khuyến cáo
Có Không
73
161
31,2 68,8
Nước ngọt
5 lần/tuần
> 5 lần/tuần
223
11
95,3 4,7
Nước ép trái cây
< 1 lần/tuần 1-3 lần/tuần
> 3 lần/ tuần
34
115
85
14,5 49,2 36,3
*Số liệu được trình bày dưới dạng trung bình±độ lệch chuẩn,
giá trị nhỏ nhất-giá trị lớn nhất
Độ tuổi trung bình là 30,9±5,2 tuổi, nhỏ
nhất là 18 tuổi và lớn nhất 44 là tuổi, nhóm
tuổi trên 35 chiếm 23,5% BMI trước khi
mang thai 23 chiếm tỷ lệ 21,8% Vào thời
điểm làm nghiệm pháp OGTT có 37,61%
thai phụ tăng 8kg trong thai kỳ Tiền sử
ĐTĐTK và tiền sử gia đình mắc ĐTĐ tương
đương nhau chiếm khoảng 9% Nghiên cứu
cho kết quả tỷ lệ kiến thức đúng của thai phụ
về ĐTĐTK tại thời điểm nghiên cứu là 24,8% Khoảng 40% thai phụ không biết về nguy cơ, biến chứng của ĐTĐTK và xét
nghiệm đường huyết sau sinh Chỉ có 31,2%
các thai phụ là có thời gian VĐTL đạt theo khuyến cáo của WHO Hầu hết các thai phụ
có tần suất sử dụng nước ngọt 5 lần/tuần là 95,3% Sử dụng nước ép trái cây 1-3 lần/tuần
có tỷ lệ là 49,2% (Bảng 1)
Bảng 2: Tỷ lệ ĐTĐTK theo tiêu chuẩn ADA 2015 (N=234)
ĐTĐTK
Có Không
86
148
36,8 63,2 Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả có 86 đối tượng được chẩn đoán ĐTĐTK trên tổng
số 234 đối tượng, chiếm tỷ lệ là 36,8%
Trang 5Bảng 3: Mô hình hồi quy đa biến các yếu tố liên quan tới ĐTĐTK (N=234)
P thô PR thô (KTC 95%) P hc PR hc (KTC 95%) Tiền căn ĐTĐTK
Có
1,85(1,25-2,73)
0,009 1,77(1,16-2,72)
Tăng cân thời điểm xét nghiệm
< 8kg
8kg 0,032 1,44(1,04-2,01) 0,035 1,46(1,02-2,08)
Kiến thức về ĐTĐTK
Có Chưa đủ kiến thức
0,001
0,45(0,25-0,78) 0,089 0,61(0,35-1,08)
VĐTL theo khuyến cáo
Có Không 0,046 0,67(0,44-0,99) 0,016 0,56(0,35-0,89)
Nước ngọt
5 lần/tuần
> 5 lần/tuần 0,020 0,48(0,32-0,72) 0,088 0,55(0,28-1,09)
Nước ép trái cây
< 1 lần/tuần
1-3 lần/tuần
> 3 lần/tuần
0,054
0,025
1 0,67(0,45-1,01) 0,6(0,38-0,94)
0,273 0,211
1 0,78(0,49-1,22) 0,74(0,46-1,19)
* Hồi qui đa biến Poisson
Bảng 3 trình bày kết quả về các yếu tố có
khả năng liên quan đến ĐTĐTK Những thai
phụ có tiền căn ĐTĐTK thì tỷ lệ mắc
ĐTĐTK ở lần sau là 1,77 lần so với những
thai phụ không có tiền căn (KTC 95%
(1,16-2,72), p=0,009) Thai phụ nào tăng cân từ
8kg trở lên từ khi mang thai tới khi thực hiện
OGTT thì tỷ lệ mắc ĐTĐTK cao gấp 1,46
lần so với những người tăng ít hơn 8kg (KTC
95% (1,02-2,08), p=0,035) Đối với VĐTL
thai phụ nào vận động đủ theo khuyến cáo
của WHO thì tỷ lệ mắc ĐTĐTK sẽ bằng 0,56
lần so với nhóm vận động không đủ (KTC 95% (0,35-0,89), p=0,016)
IV BÀN LUẬN
Tỷ lệ ĐTĐTK
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả có 36,8% thai phụ bị ĐTĐKT tỷ lệ này cao hơn các nghiên cứu khác cụ thể: Nghiên cứu của Nguyễn Lê Hương (2012) là 11,4%, Phạm Kim Phượng (2011) là 3,7%, S.Bouhsain và cộng sự (2014) là 8,2%, Ana M.Ramos-Levi
và cộng sự (2012) là 9,7% Sự khác biệt này
Trang 6được giải thích bằng việc sử dụng tiêu chuẩn
chẩn đoán khác nhau, một số nghiên cứu sử
dụng chẩn đoán cũ là cần có ít nhất 2 chỉ số
đường huyết dương tính
So sánh tỷ lệ ĐTĐTK với các nghiên cứu
khác khi cùng dùng một tiêu chuẩn chẩn
đoán thì kết quả của chúng tôi có tỉ lệ
ĐTĐTK gần bằng với nghiên cứu của Lê Thị
Tường Vi (2020) là 32,8%(4), Xi Lan và cộng
sự (2020) là 32,5% (5) Kết quả nghiên cứu
cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ
Hằng (2016) là 13,5% (3), nghiên cứu tại
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định (2016) là
20,9%, nghiên cứu tại Bệnh viện Quận 2
(2017) là 18,9% (6), Singapore (2017) là
18,6%, Trung Quốc (2019) là 14,8% (2) Sự
khác nhau về tỷ lệ ĐTĐTK giữa các nghiên
cứu này là do đặc điểm dân số, mức sống
khác nhau tại các địa phương và các quốc gia
cũng như thói quen ăn uống và VĐTL khác
nhau
Các yếu tố liên quan tới tỷ lệ ĐTĐTK
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
những thai phụ có tiền căn ĐTĐTK tỷ lệ mắc
ĐTĐTK trong lần mang thai sau đó cao gấp
1,77 lần so với các thai phụ không có tiền
căn, KTC 95% (1,16-2,72), tác giả Lê Thị
Tường Vi cũng nhận thấy nhóm thai phụ có
tiền căn ĐTĐTK có nguy cơ bị ĐTĐTK gấp
2 lần (4) Kai Wei Lee và cộng sự (7) nhận
thấy yếu tố nguy cơ ĐTĐTK với tiền sử
ĐTĐTK OR=8,42, KTC 95% (5,35–13,23)
Những thai phụ có tăng 8kg tại thời
điểm xét nghiệm thì tỷ lệ mắc ĐTĐTK cao
gấp 1,46 lần, KTC 95% (1,02-2,08) so với
những thai phụ không có tăng cân Nguyễn
Thị Mai Phương nhận thấy nếu tăng trên 7kg cân nặng trong hai quý đầu sẽ làm tăng nguy
cơ mắc ĐTĐTK lên 1,61 lần so với nhóm chứng KTC 95% (1,44-1,86), p=0,005 Phạm Thị Minh Trang, nhận thấy mối liên quan giữa ĐTĐTK và tăng cân quá mức trong thai
kỳ với OR = 2,92, KTC 95% (1,52 – 5,60) Phụ nữ mang thai nào vận động đủ theo khuyến cáo của WHO thì tỷ lệ mắc ĐTĐTK bằng 0,56 lần so với nhóm vận động không
đủ, p=0,016 KTC 95% (0,35-0,89) Kết quả này tương tự nghiên cứu tại Trung Quốc thu được kết quả rằng những phụ nữ có mức độ hoạt động trung bình có tỷ lệ chênh lệch về ĐTĐTK thấp hơn OR=0,654, KTC 95% (0,436-0,980), những phụ nữ thực hiện theo hướng dẫn tập thể dục thì ít có khả năng bị ĐTĐTK hơn OR=0,518, KTC 95 %(0,287-0,934) Nghiên cứu tại Malaysia và Singapore cũng kết luận rằng phụ nữ mang thai ít vận động thì có nguy cơ ĐTĐTK cao hơn (8)
Chúng tôi không tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức và tỷ lệ ĐTĐTK, hiện tại cũng
có khá ít nghiên cứu thực hiện xác minh về vấn đề này Tuy nhiên trên thế giới có các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục kiến thức về ĐTĐTK
V KẾT LUẬN
Tỷ lệ ĐTĐTK ở các thai phụ còn khá cao Các yếu tố liên quan ĐTĐTK bao gồm tiền căn ĐTĐTK, tăng cân quá mức, hạn chế VĐTL theo khuyến cáo Phòng Khám Sản của Bệnh viện cần tăng cường các biện pháp giáo dục sức khỏe và truyền thông cho phụ
Trang 7nữ mang thai về nguy cơ và hậu quả của
ĐTĐTK, hướng dẫn và xây dựng kế hoạch
ăn uống lành mạnh, các phương pháp VĐTL
phù hợp nhằm giúp kiểm soát cân nặng tốt
trong quá trình mang thai và góp phần giảm
thiểu tỷ lệ mắc ĐTĐTK
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Metzger B E, Lowe W L Jr., Scholtens
D M et al (2018) "Association of
Gestational Diabetes with Maternal
Disorders of Glucose Metabolism and
Childhood Adiposity" JAMA, 320 (10),
1005-1016
2 Gao C., Sun X., Lu L et al (2019)
"Prevalence of gestational diabetes mellitus
in mainland China: A systematic review and
meta-analysis" J Diabetes Investig, 10 (1),
154-162
3 Nguyễn Thị Lệ Hằng, Nguyễn Thị Bích
Đào (2019) "Tỉ lệ đái tháo đường thai kỳ và
kết cục sản khoa ở thai phụ theo dõi tại Bệnh
viện An Bình" Y Học Thành phố Hồ Chí
Minh tập 23 (6), tr.67-73
4 Lê Thị Tường Vi, Võ Minh Tuấn (2021)
"Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố
liên quan ở thai phụ đến khám thai tại Bệnh
viện Quận 1" Tạp chí y học, Tập 25 (1), tr.108-113
5 Lan X., Zhang Y Q., Dong H L et al
(2020) "Excessive gestational weight gain in the first trimester is associated with risk of gestational diabetes mellitus: a prospective study from Southwest China" Public Health Nutr, 23 (3), 394-401
6 Trương Thị Ái Hòa, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (2018) "Tỷ lệ đái tháo đường
thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Quận 2" Y Học TP Hồ Chí Minh, tập 22 (1), tr.22-26
7 Natamba B K., Namara A A., Nyirenda
M J (2019) "Burden, risk factors and
maternal and offspring outcomes of gestational diabetes mellitus in sub-Saharan Africa (SSA): a systematic review and meta-analysis" BMC Pregnancy Childbirth, 19 (1), 450
8 Yong H Y., Mohd Shariff Z., Mohd Yusof
B N et al (2020) "High physical activity
and high sedentary behavior increased the risk of gestational diabetes mellitus among women with excessive gestational weight gain: a prospective study" BMC Pregnancy Childbirth, 20 (1), 597