Bài viết trình bày đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bạch cầu mạn dòng tủy giai đoạn mạn điều trị bằng Imatinib Mesylate đạt đáp ứng di truyền tế bào hoàn toàn bằng bảng câu hỏi SF-36.
Trang 1ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN
BẠCH CẦU MẠN DÒNG TỦY GIAI ĐOẠN MẠN ĐIỀU TRỊ BẰNG IMATINIB MESYLATE ĐẠT ĐÁP ỨNG DI TRUYỀN
TẾ BÀO HOÀN TOÀN BẰNG BẢNG CÂU HỎI SF-36
Cồ Nguyễn Phương Dung 2 , Nguyễn Dương Thảo Quyên 1 ,
Châu Hồng Anh 1,2 , Nguyễn Thị Mỹ Hòa 1,2 TÓM TẮT 58
Mục tiêu: Đánh giá chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân bạch cầu mạn dòng tủy giai đoạn mạn
điều trị bằng Imatinib Mesylate đạt đáp ứng di
truyền tế bào hoàn toàn bằng bảng câu hỏi SF-36
Đối tượng: Tất cả các bệnh nhân được chẩn
đoán xác định bạch cầu mạn dòng tủy giai đoạn
mạn có đột biến gen BCR-ABL1 và/hoặc nhiễm
sắc thể Philadelphia dương tính đang điều trị
Imatinib Mesylate đạt đáp ứng di truyền tế bào
hoàn toàn tại bệnh viện Truyền máu Huyết học
TP Hồ Chí Minh
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt
ngang
Kết quả: Tổng số bệnh nhân trong nghiên
cứu là 261 Tuổi trung vị tại thời điểm hiện tại
của dân số nghiên cứu: 47 tuổi (16 tuổi – 80
tuổi) Tỉ lệ nam:nữ là 1,23:1 Điểm trung bình
sức khỏe thể chất (SKTC): 74,4 ± 20,8 Điểm
trung bình sức khỏe tinh thần (SKTT): 75,5 ±
20,1 Các yếu tố ảnh hưởng SKTC và SKTT:
Tuổi càng cao, điểm SKTC càng thấp (p = 0,02);
mức độ thiếu máu càng nặng, điểm SKTC càng
1
Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học
2 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Chịu trách nhiệm chính: Cồ Nguyễn Phương Dung
SĐT: 0937.073.573
Email: phuongdung@pnt.edu.vn
Ngày nhận bài: 15/8/2022
Ngày phản biện khoa học: 15/8/2022
Ngày duyệt bài: 29/9/2022
thấp (p = 0,017); bệnh nhân có phù mi phù mặt
và buồn nôn thì điểm SKTT thấp (p = 0,004 – p
= 0,002); bệnh nhân có bệnh lý kèm theo có điểm SKTC và SKTT thấp (p = 0,003 – p = 0,023); bệnh nhân có đau nhức cơ xương có điểm SKTC
và SKTT thấp (p = 0,008 – p = 0,014)
Kết luận: Bệnh nhân Bạch cầu mạn dòng
tủy giai đoạn mạn điều trị Imatinib Mesylate đạt đáp ứng di truyền tế bào hoàn toàn có chất lượng cuộc sống ở mức trung bình khá ở khía cạnh thể chất và ở mức khá, tốt ở khía cạnh tinh thần
Từ khóa: Bạch cầu mạn dòng tủy, chất
lượng cuộc sống, Imatinib Mesylate, đáp ứng di truyền tế bào hoàn toàn, bảng câu hỏi SF-36
SUMMARY ASSESSMENT OF THE QUALITY OF LIFE BY THE SF-36 QUESTIONNAIRE
IN PATIENTS WITH CHRONIC MYELOID LEUKEMIA IN CHRONIC PHASE AFTER TREATMENT WITH
IMATINIB MESYLATE ACHIEVED COMPLETE CYTOGENETIC RESPONSE
Objectives: Assessment of the quality of life
by the SF-36 questionnaire in patients with chronic myeloid leukemia in chronic phase after treatment with Imatinib Mesylate achieved complete cytogenetic response
Subjects: Patients were diagnosed with
chronic myeloid leukemia in chronic phase with BCR-ABL1 fusion gene and/or Philadelphia
Trang 2chromosome-positive were being treated with
complete cytogenetic response in Blood
Transfusion and Hematology Hospital, Ho Chi
Minh City
Method: Cross-sectional study
Results: The total number of patients in the
study was 261 The median age of the research
population at the present time: 47 years old (16
years old – 80 years old) The male to female
ratio is about 1,23:1 The mean physical health
score: 74.4 ± 20.8 The mean mental health
score: 75.5 ± 20.1 Factors affecting the physical
and mental health: The higher the age, the lower
the physical health score (p = 0.02); the higher
the severity of anemia, the lower the physical
health score (p = 0.017); patients with eyelid and
facial edema and nausea had low mental health
score (p = 0.004 – p = 0.002); patients with
comorbidities had low physical and mental health
score (p = 0.003 – p = 0.023); patients with
musculoskeletal pain had low physical and
mental health score (p = 0.008 – p = 0.014)
Conclusion: Patients were diagnosed with
chronic myeloid leukemia in chronic phase after
treatment with imatinib mesylate achieved
complete cytogenetic response and had the
quality of life at an medium-good level in the
physical and good level in the mental aspect
quality of life, Imatinib Mesylate,
complete cytogenetic response, SF-36
questionnaire
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh bạch cầu mạn dòng tủy (BCMDT)
là một rối loạn tăng sinh tủy mạn tính do bất
thường tế bào gốc tạo máu Bệnh đặc trưng
bởi sự hiện diện của nhiễm sắc thể (NST)
Philadelphia, từ đó tạo tổ hợp gen
BCR-ABL1[1] Việc phát hiện và ứng dụng liệu
pháp điều trị trúng đích với các loại thuốc ức
chế men BCR-ABL1 Tyrosine kinase (TK) dẫn đến ức chế tăng sinh tế bào nên có thể kiểm soát bệnh trong một thời gian dài đã mở
ra nhiều hy vọng cho các bệnh nhân (BN) BCMDT Tại Việt Nam, Imatinib Mesylate (IM) đang là thuốc chủ lực để điều trị bước đầu bệnh BCMDT giai đoạn mạn Đã và đang có rất nhiều nghiên cứu về hiệu quả điều trị của thuốc, tuy nhiên, lại ít có công bố
về chất lượng cuộc sống (CLCS) cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của những người bệnh sử dụng thuốc
Những dữ liệu gần đây cho thấy thời gian sống toàn bộ ở những bệnh nhân đạt được đáp ứng di truyền tế bào hoàn toàn khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với dân số chung, tuy nhiên, CLCS thì có khác biệt rõ
Do đó, song song với đánh giá hiệu quả điều trị thì đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe là một vấn đề hết sức quan trọng, cần được quan tâm và lưu ý nhiều hơn
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu là “Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Bạch cầu mạn dòng tủy giai đoạn mạn điều trị bằng Imatinib Mesylate đạt đáp ứng di truyền tế bào hoàn toàn bằng bảng câu hỏi SF-36”
Bảng kiểm đánh giá CLCS được sử dụng trong nghiên cứu này là SF-36 với 2 tiêu chí chính là SKTC và SKTT Đây là một trong những bảng câu hỏi được sử dụng phổ biến nhất, làm thước đo đánh giá CLCS của các bệnh nhân khá tổng quát và đa chiều Đa phần các khảo sát về CLCS ở những bệnh lý mạn tính như suy thận, tăng huyết áp, đái tháo đường… hay những bệnh lý ung thư ở các cơ quan tổ chức khác nhau, trong đó có BCMDT, đều sử dụng bảng câu hỏi SF-36 là công cụ nghiên cứu chính Thang đo này đã được chuyển ngữ và chuẩn hóa, do đó phù
Trang 3hợp với phần lớn đối tượng người bệnh tại
Việt Nam, tạo thuận lợi cho việc phỏng vấn
và trả lời câu hỏi
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt
ngang
Dân số nghiên cứu: Tất cả các bệnh
nhân được chẩn đoán xác định BCMDT giai
đoạn mạn có đột biến gen BCR-ABL1
và/hoặc nhiễm sắc thể Philadelphia dương
tính đang điều trị Imatinib Mesylate đạt đáp
ứng di truyền tế bào hoàn toàn tại bệnh viện
Truyền máu Huyết học TP Hồ Chí Minh
Tiêu chuẩn chọn bệnh: phải thỏa mãn
tất cả các tiêu chuẩn sau:
- Từ 16 tuổi trở lên
- Bệnh mới được chẩn đoán xác định
BCMDT giai đoạn mạn có đột biến gen
BCR-ABL1 và/hoặc nhiễm sắc thể
Philadelphia dương tính tại bệnh viện TMHH
TP.HCM
- Được điều trị với IM (Glivec)
- Đã đạt đáp ứng hoàn toàn về di truyền
tế bào (CCyR)
- Có khả năng đọc hiểu và viết tiếng Việt
lưu loát
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: có bất kì 1 trong
các tiêu chuẩn sau:
- Không thể trả lời phỏng vấn do vấn đề
sức khỏe
- Có bệnh tâm thần kèm theo
- Có bệnh lý ung thư thứ hai kèm theo
- Bệnh nhân mất đáp ứng di truyền tế
bào
Một số tiêu chuẩn, định nghĩa được sử
dụng trong nghiên cứu
Tiêu chuẩn chẩn đoán BCMDT giai
đoạn mạn: theo tiêu chuẩn WHO 2016
- Máu ngoại vi: tăng bạch cầu (12 – 1.000 x 109/L), bạch cầu hạt đầy đủ giai đoạn Dòng bạch cầu hạt không có hình ảnh loạn sinh Tế bào non thường dưới 2% tổng
số bạch cầu Tiểu cầu bình thường hoặc tăng trên 1.000 x 109/L
- Chọc hút tủy xương: mật độ tế bào tủy tăng Không có hình ảnh loạn sinh Tỉ lệ tế bào non thường dưới 5% tế bào tủy Tỉ lệ tế bào đầu dòng hồng cầu thường giảm mạnh Dòng mẫu tiểu cầu bình thường hoặc tăng Mẫu tiểu cầu nhỏ hơn bình thường và kém phân thùy Bạch cầu ái kiềm và bạch cầu ái toan tăng
- Không có các tiêu chuẩn của giai đoạn tiến triển và chuyển cấp
Tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng điều trị
[2]
- Đáp ứng di truyền tế bào hoàn toàn (đáp ứng DTTB hoàn toàn): đánh giá dựa trên xét nghiệm FISH: 0% tế bào có NST Philadelphia (+)
- Đáp ứng sinh học phân tử (đáp ứng SHPT): đánh giá dựa trên xét nghiệm định lượng bản sao BCR-ABL1 bằng phương pháp RQ-PCR (MMR, MR4, MR4.5)
* MMR khi BCR-ABL1 (IS) ≤ 0,1%
* MR4 khi BCR-ABL1 (IS) ≤ 0,01%
* MR4.5 khi BCR-ABL1 (IS) ≤ 0,0032%
* Đáp ứng sâu sinh học phân tử (DMR – deep molecular response) là từ MR4 trở xuống
Tính điểm trung bình SKTC và SKTT theo SF-36 [3]
Tính điểm CLCS dựa vào thang đo SF-36:
- Bước 1: mã hóa các câu trả lời trong bảng câu hỏi
- Bước 2: tính điểm của từng lĩnh vực sức khỏe: điểm trung bình cộng của các câu hỏi trong cùng lĩnh vực
Trang 4- Bước 3: tính điểm SKTC, SKTT: điểm
trung bình cộng của các lĩnh vực thuộc mỗi
thành phần sức khỏe
Cách đánh giá mức độ được qui định như
sau:
* Từ 0–25 điểm: CLCS kém
* Từ 26–50 điểm: CLCS trung bình kém
* Từ 51–75 điểm: CLCS trung bình khá
* Từ 76–100 điểm: CLCS khá, tốt
Phân tích và xử lý số liệu:
- Dữ liệu được nhập vào máy tính và
phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS
18.0
- Biến số định tính được mô tả bằng bảng phân phối tần số và tỉ lệ %
- Các biến số định lượng được biểu diễn bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc trung vị với khoảng nhỏ nhất – lớn nhất
- So sánh 2 tỉ lệ bằng phép kiểm Chi bình phương, so sánh 2 số trung bình bằng phép kiểm ANOVA
- Phân tích đa biến bằng phương trình hồi qui tuyến tính cho các biến định lượng
- Kết quả được trình bày dưới hình thức bảng và biểu đồ bằng chương trình Excel
2010 và Graphpad Prism 5
Phương pháp tiến hành nghiên cứu:
Sơ đồ 1: Các bước thực hiện nghiên cứu
Hồi cứu hồ sơ bệnh án của những BN được chẩn đoán xác định bệnh BCMDT ở
giai đoạn mạn tính có NST Philadelphia và/hoặc gen BCR-ABL1 dương tính
Điều trị với IM
❖ Mục tiêu 1: Xác định các đặc điểm chung của BN (dịch tễ, lâm sàng, huyết học, các
đặc điểm liên quan đến điều trị IM)
❖ Mục tiêu 2: Xác định các độc tính của IM (tỉ lệ, mức độ)
❖ Mục tiêu 3: Xác định điểm trung bình SKTC, SKTT và các yếu tố ảnh hưởng đến
điểm SKTC và SKTT
Đạt và đang duy trì đáp ứng hoàn toàn về DTTB Không đạt đáp ứng hoàn toàn về DTTB
Xem ngày hẹn tái khám → Phỏng vấn trực tiếp Loại khỏi nghiên cứu
BN đồng ý phỏng vấn BN không đồng ý phỏng vấn
Hoàn thành bảng câu hỏi nghiên cứu
Trang 5III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Trong thời gian từ 01/04/2020 đến 30/04/2020, chúng tôi có 261 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu Tuổi trung vị tại thời điểm hiện tại của dân số nghiên cứu là 47 tuổi (16 – 80 tuổi)
Các đặc điểm của BN ở thời điểm nghiên cứu được trình ở các bảng sau:
Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ mẫu nghiên cứu
Số BN (Tỉ lệ %) Tuổi
Giới
Trình độ học vấn
• Cao đẳng, đại học, sau đại học 44 (16,9)
Nghề nghiệp
Nơi ở
Chi phí di chuyển
Thời gian mỗi lần đi tái khám
Tình trạng hôn nhân
• Kết hôn hoặc sống với vợ/chồng 204 (78,2)
Trang 6Số BN (Tỉ lệ %)
Khả năng chi trả chi phí điều trị
• Thu nhập của bản thân và hỗ trợ từ gia đình 34 (13)
Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng mẫu nghiên cứu
Số BN (Tỉ lệ %) Bệnh lý kèm theo
Nhóm nguy cơ Sokal
Bảng 3: Đặc điểm huyết học mẫu nghiên cứu
Trung vị Giá trị nhỏ nhất –
lớn nhất Giá trị bình thường Nồng độ Hemoglobin (g/dl) 11,5 7,7 – 14,8 11,9 – 15,0
Số lượng bạch cầu (x 10 9 /L) 5,29 2,42 – 10,89 4,01 – 11,42
Số lượng bạch cầu hạt (x
Số lượng tiểu cầu (x 10 9 /L) 200 70 – 381 150 – 450
Bảng 4: Đặc điểm liên quan đến điều trị IM của mẫu nghiên cứu
Số BN (Tỉ lệ %) Thời gian sử dụng IM
Thời gian đạt đáp ứng di truyền tế bào hoàn toàn
Đáp ứng sinh học phân tử
Trang 7Số BN (Tỉ lệ %) Đột biến kháng IM
Liều IM
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian trung vị sử dụng IM là 52 tháng (6 – 203 tháng) Thời gian trung vị đạt đáp ứng hoàn toàn về di truyền tế bào là 10 tháng (3 – 62 tháng) Có 18,2% BN có đột biến kháng IM Các đột biến bao gồm: W261R, Y440H, K245R, E459K, K357E, S438P, M351T, F359V
Độc tính của Imatinib Mesylate
Độc tính của IM được chia thành 2 nhóm: độc tính huyết học và không phải huyết học
Bảng 5: Độc tính của Imatinib Mesylate
✓ Độc tính không phải huyết học 139 (53,3)
Điểm trung bình SKTC và SKTT và các yếu tố ảnh hưởng đến điểm SKTC và SKTT của bệnh nhân BCMDT giai đoạn mạn đang điều trị bằng IM
Trang 8Điểm trung bình SKTC và SKTT
Bảng 6: Điểm trung bình SKTC của bệnh nhân BCMDT giai đoạn mạn điều trị bằng
IM
Các mục trong thang đo SF-36 Điểm trung bình ± Độ lệch chuẩn
Sức khỏe liên quan đến hoạt động chức năng 85 ± 16,7
Giới hạn hoạt động do khiếm khuyết chức năng 69,5 ± 43,6
Sức khỏe thể chất tổng quát 55,9 ± 24,1
Sức khỏe liên quan cảm nhận đớn đau 87,1 ± 19,9
Điểm trung bình SKTC của BN BCMDT giai đoạn mạn dùng IM ở mức cao 2 mục sức khỏe liên quan đến hoạt động chức năng và cảm nhận đớn đau đều có điểm trung bình tốt (trên 80)
Bảng 7: Điểm trung bình SKTT của bệnh nhân BCMDT giai đoạn mạn điều trị bằng
IM
Các mục trong thang đo SF-36 Điểm trung bình ± Độ lệch chuẩn
Giới hạn hoạt động do khiếm khuyết tâm lý 82,4 ± 34,9
Sức khỏe liên quan đến cảm nhận cuộc sống 67,9 ± 20
Sức khỏe tinh thần tổng quát 66,3 ± 22,9
Sức khỏe liên quan hoạt động xã hội 85,5 ± 21,3
Điểm trung bình SKTT của bệnh nhân trong nghiên cứu ở mức cao, cho thấy IM duy trì được CLCS liên quan đến sức khỏe tốt
Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm trung bình SKTC và SKTT
Bảng 8: Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm trung bình SKTC và SKTT
Bệnh lý kèm theo
Không có bệnh kèm
Có 1 bệnh kèm
Có ≥ 2 bệnh kèm
Đau nhức cơ xương
Không
Có
Phù mi, phù mặt
Không
Có
Buồn nôn
Không
Có
Trang 9Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm trung bình SKTC
Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm trung bình SKTC bao gồm tuổi, bệnh lý đi kèm và đau nhức cơ xương Cụ thể, tuổi càng cao, điểm SKTC càng thấp (p = 0,02); mức độ thiếu máu càng nặng, điểm SKTC càng thấp (p = 0,017); bệnh nhân có bệnh lý kèm theo có điểm SKTC thấp (p = 0,003); bệnh nhân không bị đau nhức cơ xương sẽ có điểm SKTC cao hơn (p = 0,008)
Biểu đồ 1: Tương quan giữa điểm SKTC và tuổi của bệnh nhân
Có tương quan nghịch giữa điểm trung bình SKTC và tuổi của bệnh nhân Tuổi càng cao thì điểm SKTC càng thấp
Biểu đồ 2: Tương quan giữa điểm SKTC và nồng độ Hemoglobin của bệnh nhân
Trang 10Có tương quan thuận giữa điểm trung
bình SKTC và nồng độ Hemoglobin Nồng
độ Hemoglobin càng cao thì điểm trung bình
SKTC càng tốt
Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm trung
bình SKTT
Các yếu tổ ảnh hưởng đến điểm trung
bình SKTT bao gồm bệnh lý đi kèm, các độc
tính ngoài huyết học như đau nhức cơ xương,
phù mi, phù mặt và buồn nôn Cụ thể, bệnh
nhân có càng nhiều bệnh lý kèm theo thì
điểm SKTT càng thấp (p = 0,023); bệnh nhân
bị đau nhức cơ xương thì có điểm SKTT
càng thấp (p = 0,014); bệnh nhân có phù mi
phù mặt và buồn nôn thì điểm SKTT thấp (p
= 0,004 – p = 0,002)
Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm trung
bình SKTC và SKTT
2 yếu tố cùng ảnh hưởng đến điểm trung
bình SKTC và SKTT là bệnh lý kèm theo và
đau nhức cơ xương Nếu bệnh nhân có nhiều
bệnh lý kèm theo thì điểm SKTC và SKTT
càng thấp (p = 0,003 – p = 0,023); bệnh nhân
có đau nhức cơ xương thì điểm SKTC và
SKTT thấp (p = 0,008 – p = 0,014)
IV BÀN LUẬN
Điểm trung bình SKTC và SKTT và
các yếu tố ảnh hưởng đến điểm SKTC và
SKTT của bệnh nhân BCMDT giai đoạn
mạn đang điều trị bằng IM
Điểm trung bình SKTC và SKTT
Điểm trung bình SKTC và SKTT của BN
trong nghiên cứu chúng tôi lần lượt là 74,4 ±
20,8 và 75,5 ± 20,1 Như vậy, các BN này có
SKTC ở mức trung bình khá và SKTT ở mức
khá, tốt Đây là kết quả rất khả quan đối với
một bệnh lý ung thư: việc điều trị BCMDT
giai đoạn mạn với IM đạt được hiệu quả tối
ưu về cả đáp ứng và CLCS
Nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt khi so sánh với các nghiên cứu khác khi cùng
sử dụng thang điểm SF-36 để đánh giá CLCS trên BN BCMDT điều trị IM Điểm trung bình trong nghiên cứu chúng tôi cao hơn của Efficace Sự khác biệt nằm ở đặc điểm mẫu nghiên cứu, đa phần BN của họ nằm trong nhóm cao tuổi, điểm ECOG cao và có mệt mỏi thường xuyên [5] Ngoài ra, khi so sánh với nghiên cứu của Katerina tại 2 mốc thời gian cho thấy điểm SKTC và SKTT ở thời điểm tháng thứ 15 của họ thấp hơn, còn điểm
ở thời điểm tháng thứ 50 thì có sự tương đồng, điều này hợp lý vì hơn 90% BN trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có thời gian dùng IM lâu dài Mặt khác, khi so với nghiên cứu của tác giả Hồ Trọng Hiếu, CLCS của
BN trong nghiên cứu của chúng tôi tốt hơn, điều này có thể là do chúng tôi chọn mẫu gồm những BN đã đạt đáp ứng DTTB hoàn toàn, còn tác giả chọn chung những BN BCMDT giai đoạn mạn có dùng IM mà chưa xác định đáp ứng đạt được ở thời điểm phỏng vấn
Vào năm 2018, tác giả Efficace đã tiến hành nghiên cứu về CLCS của BN BCMDT giai đoạn mạn dùng Nilotinib, nghiên cứu cho thấy CLCS của những BN này ở mức trung bình khá và được cải thiện dần qua thời gian Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi Ngoài ra, vào năm 2019, Efficace tiếp tục thực hiện một cuộc khảo sát cho thấy Dasatinib mang lại CLCS tốt hơn và điều này được cho là do hầu hết độc tính của Dasatinib đều có tần suất xuất hiện ít hơn so với IM