1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm của tự kháng thể và mối liên quan với truyền khối hồng cầu ở bệnh nhân thiếu máu tan máu tự miễn tại Bệnh viện Bạch Mai

8 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm của tự kháng thể và mối liên quan với truyền khối hồng cầu ở bệnh nhân thiếu máu tan máu tự miễn tại Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả Phạm Quang Thịnh, Nguyễn Thúy Phượng, Phạm Quang Vinh
Trường học Bệnh viện Bạch Mai
Chuyên ngành Huyết học và Truyền máu
Thể loại Báo cáo nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 593,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đặc điểm của tự kháng thể và mối liên quan với truyền khối hồng cầu ở bệnh nhân thiếu máu tan máu tự miễn tại Bệnh viện Bạch Mai mô tả đặc điểm của tự kháng thể theo nhiệt độ hoạt động ở bệnh nhân AIHA; Phân tích mối liên quan giữa truyền khối hồng cầu với đặc điểm của tự kháng thể ở bệnh nhân trên.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM CỦA TỰ KHÁNG THỂ VÀ MỐI LIÊN QUAN

VỚI TRUYỀN KHỐI HỒNG CẦU Ở BỆNH NHÂN THIẾU MÁU

TAN MÁU TỰ MIỄN TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI Phạm Quang Thịnh 1,2 , Nguyễn Thúy Phượng 1 , Phạm Quang Vinh 2 TÓM TẮT 37

Tự kháng thể ở bệnh nhân thiếu máu tan máu

tự miễn (autoimmune hemolytic anemia – AIHA)

có khả năng phản ứng với kháng nguyên trên

hồng cầu của chính mình làm cho đời sống của

hồng cầu bị giảm và gây ra tình trạng thiếu máu

Kháng thể tự miễn có thể là kháng thể nóng (hoạt

động tối ưu ở 37 0 C) hoặc kháng thể lạnh (hoạt

động tối ưu ở 4 0 C) Đây cũng là nguyên nhân

dẫn tới sự khác biệt của quá trình truyền khối

hồng cầu (KHC) và điều trị ở bệnh nhân AIHA

Mục tiêu: (1) Mô tả đặc điểm của tự kháng thể

theo nhiệt độ hoạt động ở bệnh nhân AIHA và

(2) Phân tích mối liên quan giữa truyền khối

hồng cầu với đặc điểm của tự kháng thể ở bệnh

nhân trên Đối tượng nghiên cứu: 150 bệnh

nhân được chẩn đoán AIHA và điều trị tại Bệnh

viện Bạch Mai từ tháng 6 năm 2019 đến hết

tháng 6 năm 2021 Phương pháp nghiên cứu:

Mô tả cắt ngang Kết quả và kết luận: Tự kháng

thể ở bệnh nhân AIHA chủ yếu là kháng thể

nóng (78%), kháng thể lạnh và kháng thể phối

hợp nóng và lạnh ít gắp hơn với tỉ lệ lần lượt là

8,7% và 13,3%; Tỉ lệ bệnh nhân tan máu do

1

Trung tâm Huyết học và Truyền máu, Bệnh viện

Bạch Mai

2 Trường Đại học Y Hà Nội

Chịu trách nhiệm chính: Phạm Quang Thịnh

SĐT: 0349.834.204

Email: phamquangthinh.hmu@gmail.com

Ngày nhận bài: 15/8/2022

Ngày phản biện khoa học: 15/8/2022

Ngày duyệt bài: 15/9/2022

kháng thể nóng (wAIHA) phải truyền KHC là 48,7%, thấp hơn nhóm tan máu do kháng thể lạnh (cAIHA) và tan máu do phối hợp kháng thể nóng và lạnh (mAIHA); Có 279 đơn vị KHC đã truyền cho 87 bệnh nhân, trung bình mỗi bệnh nhân truyền 3,2 đơn vị, số lượng KHC phải truyền ở bệnh nhân wAIHA ít hơn ở bệnh nhân cAIHA và mAIHA; Tỉ lệ truyền KHC có phản ứng chéo dương tính ở bệnh nhân cAIHA là 36,7%, thấp hơn nhóm wAIHA (71,8%) và mAIHA (69,3%); Huyết sắc tố tăng sau truyền KHC 24 giờ trung bình là 3,6g/dl, tỉ lệ bệnh nhân AIHA truyền KHC có hiệu quả đạt 71%

Từ khóa: kháng thể tự miễn, tan máu tự

miễn, truyền khối hồng cầu

SUMMARY

CHARACTERISTICS OF AUTOANTIBODIES AND RELATIONSHIP WITH RED BLOOD CELLS TRANSFUSION IN AUTOIMMUNE HEMOLYTIC ANEMIA PATIENTS AT BACH

MAI HOSPITAL

Autoantibodies in patients with autoimmune hemolytic anemia (AIHA) can react to antigens

on their own red blood cells which reducing the life of the red blood cells and causing anemia Autoimmune antibodies can be either warm (optimal activity at 37°C) or cold (optimal activity at 4°C) It is the reason for the difference

in red blood cells transfusion and treatment in

patients with AIHA Objectives: (1) To describe

the temperature characteristics of autoantibodies

Trang 2

in AIHA patients and (2) To analyse the

relationship of red blood cells transfusion and the

characteristics of autoantibodies in AIHA

patients Subjects: 150 patients were diagnosed

with acquired autoimmune hemolytic anemia and

treated at Bach Mai Hospital from June 2019 to

June 2021 Method: Cross-sectional and

descriptive study Results and conclusions:

Autoantibodies in AIHA patients were mainly

warm antibodies (wAIHA) (78%), cold

antibodies (cAIHA) and the mix antibodies

(mAIHA) were less frequently with a ratio of

8,7% and 13,3% respectively ; The proportion of

wAIHA patients who requiring the red blood

cells transfusion was 48,7% and lower than the

ratio of cAIHA and mAIHA patients; There were

279 units of red blood cells transfused to 87

patients, an average of 3,2 units per patient, the

amount of blood transfused for wAIHA-patients

was less than cAIHA and mAIHA-patients; The

rate of positive cross-reactive blood transfusion in

cAIHA-patients was 36,7%, lower than

wAIHA-patients (71,8%) and mAIHA-wAIHA-patients (69,3%);

The increase of hemoglobin after 24 hours of red

blood cells transfusion was 3,6g/dl on average, the

rate of patients receiving the effective red blood

cells transfusion reached 71%

autoimmune hemolytic anemia, red blood cells

transfusion

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tự kháng thể ở bệnh nhân thiếu máu tan

máu tự miễn (autoimmune hemolytic anemia

– AIHA) có khả năng phản ứng với kháng

nguyên trên hồng cầu của chính mình làm

cho đời sống của hồng cầu bị giảm và gây ra

tình trạng thiếu máu[1] Phân loại dựa theo

nhiệt độ hoạt động tối ưu, kháng thể tự miễn

có thể là kháng thể nóng (hoạt động tối ưu ở

370 C) hoặc kháng thể lạnh (hoạt động tối ưu

ở 40 C) Đây cũng là nguyên nhân dẫn tới sự

khác biệt của quá trình truyền KHC và điều trị ở bệnh nhân AIHA Hơn nữa, kháng thể

tự miễn còn có khả năng phản ứng với hầu hết kháng nguyên trên hồng cầu của người cho máu làm cho việc truyền KHC ở những bệnh nhân này rất phức tạp Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm tự kháng thể theo nhiệt

độ hoạt động ở bệnh nhân AIHA

2 Phân tích mối liên quan giữa truyền khối hồng cầu với đặc điểm của tự kháng thể

ở bệnh nhân trên

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu: 150 bệnh

nhân được chẩn đoán AIHA và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 6 năm 2019 đến hết tháng 6 năm 2021 với những tiêu chuẩn như sau:

+ Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Lâm sàng: Bệnh nhân được chẩn đoán AIHA theo “hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý huyết học” của Bộ Y tế [2]

- Xét nghiệm: Bệnh nhân có thiếu máu (Hgb < 120g/L) và xét nghiệm Coombs trực tiếp dương tính

+ Tiêu chuẩn loại trừ:

- Bệnh nhân mất máu phối hợp các nguyên nhân khác không phải AIHA

- Bệnh nhân mới được truyền máu trong khoảng thời gian 1 tháng hoặc truyền các chế phẩm huyết tương, tiểu cầu trong thời gian 1 tuần

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt

ngang

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu: Thuận

tiện

2.2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: nghiên cứu thực hiện từ tháng 6 năm

2019 đến hết tháng 6 năm 2021 tại Bệnh viện Bạch Mai

2.3 Sơ đồ nghiên cứu

Trang 3

Sơ đồ 1: Sơ đồ nghiên cứu theo mục tiêu

2.4 Kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

- Kỹ thuật ngưng kết cột gel: Xét nghiệm xác định bản chất KT trên bề mặt hồng cầu, xét nghiệm hòa hợp miễn dịch trong phát máu (phản ứng chéo)

- Kỹ thuật ống nghiệm: Xét nghiệm ngưng kết trực tiếp, hiệu giá kháng thể lạnh, phát hiện kháng thể Donath-Landsteiner (thực hiện ở hai thì)

Sơ đồ 2: Xác định đặc điểm của tự kháng thể theo nhiệt độ hoạt động

Trang 4

- DAT: Coombs trực tiếp

- KT: Kháng thể

2.5 Tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên

cứu

• Phân loại mức độ thiếu máu [3]

- Thiếu máu nhẹ: nồng độ hemoglobin từ

90 – dưới 120 g/L

- Thiếu máu vừa: nồng độ hemoglobin từ

60 – dưới 90 g/L

- Thiếu máu nặng: nồng độ hemoglobin

từ 30 – dưới 60 g/L

- Thiếu máu rất nặng: nồng độ

hemoglobin dưới 30 g/L

• Hiệu quả truyền máu sau 24 giờ [4]

H (g/dL) = (Hgb sau truyền máu 24 giờ - Hgb trước truyền máu) x 100/V

Trong đó: H là hiệu quả truyền máu sau

24 giờ (g/dL)

V là thể tích máu đã truyền (mL) Đánh giá: H ≥ 2,5 g/dL: truyền máu có hiệu quả

H < 2,5 g/dL: truyền máu không có hiệu quả

2.6 Xử lý số liệu: Tính toán các tỷ lệ %,

so sánh các giá trị trung bình bằng thuật toán T-test trên phần mềm SPSS 16.0

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 1: Đặc điểm theo giới của đối tượng nghiên cứu (n= 150)

- Đặc điểm theo tuổi của đối tượng nghiên cứu:

• Tuổi trung bình (n=150): 45,1±21,1

• Tuổi trung bình của giới nam là 57,9±19,8 cao hơn giới nữ là 42,6±20,3

3.2 Đặc điểm theo nhiệt độ hoạt động của tự kháng thể ở bệnh nhân AIHA

Bảng 1: Đặc điểm theo nhiệt độ hoạt động của kháng thể tự miễn (n=150)

Nhận xét: Tự kháng thể ở bệnh nhân AIHA chủ yếu là kháng thể nóng (78%), các loại

kháng thể lạnh và kháng thể phối hợp (nóng + lạnh) ít gặp hơn, chiếm tỉ lệ lần lượt là 8,7% và 13,3%

Trang 5

3.3 Mối liên quan giữa truyền KHC và đặc điểm của tự kháng thể ở bệnh nhân AIHA

Bảng 2: Mức độ thiếu máu theo đặc điểm của tự kháng thể ở bệnh nhân AIHA

Đặc điểm KT Mức độ TM

KT nóng (n=117) (1)

KT lạnh (n=13) (2)

Phối hợp

Hgb trung bình (g/l) 79,8±19,9 58,5±22,9 50,8±10,8

p1.2<0,05

P1.3<0,05

P2.3>0,05

p1.2<0,05

P1.3<0,05

P2.3>0,05

Nhận xét: Bệnh nhân wAIHA có nồng độ huyết sắc tố trung bình là 79,8±19,9 g/l, cao

hơn bệnh nhân cAIHA và mAIHA Bệnh nhân mAIHA có tỉ lệ bệnh nhân thiếu máu mức độ nặng cao nhất (76,9%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Bảng 3: Tỉ lệ bệnh nhân phải truyền KHC theo đặc điểm của tự kháng thể (n=150)

Đặc điểm KT

KT nóng (n=117) (1)

KT lạnh (n=13) (2)

Phối hợp

Có truyền 57 48,7 11 84,6 19 95 p1.2<0,05

p1.3<0,05

p2.3>0,05

Nhận xét: Có 57/117 bệnh nhân wAIHA phải truyền KHC, chiếm tỉ lệ 48,7% Tỉ lệ này

cao hơn ở nhóm bệnh nhân cAIHA và mAIHA Sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Bảng 4: Số lượng đơn vị KHC đã truyền ở bệnh nhân AIHA theo đặc điểm tự kháng thể

(n=57) (1)

KT lạnh (n=11) (2)

Phối hợp (n=19) (3)

Tổng

Tổng số đơn vị máu

Số lượng máu đã

truyền/bệnh nhân 2,3±1,5 5,5±3,4 4,7±2,7 3,2±2,4

p1.2<0,05

p1.3<0,05

p2.3>0,05

Nhận xét: Có tổng số 279 đơn vị KHC được truyền cho 87 bệnh nhân AIHA, trung bình

mỗi bệnh nhân phải truyền 3,2 đơn vị Số đơn vị KHC phải truyền/bệnh nhân ở nhóm bệnh nhân wAIHA ít hơn so với nhóm bệnh nhân cAIHA và mAIHA Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Trang 6

Bảng 5: Tỉ lệ truyền KHC có phản ứng chéo dương tính theo đặc điểm tự kháng thể

Đặc điểm KT

KT nóng (n=131) (1)

KT lạnh (n=60) (2)

Phối hợp

Chéo dương 94 71,8 22 36,7 61 69,3 p1.2<0,05

p1.3>0,05

p2.3<0,05

Nhận xét: Có 22/60 đơn vị KHC được truyền cho bệnh nhân cAIHA có phản ứng chéo

dương tính, chiếm tỉ lệ 36,7% Tỉ lệ này thấp hơn ở nhóm bệnh nhân cAIHA(71,8%) và mAIHA (69,3%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Bảng 6: Hiệu quả truyền KHC sau 24 giờ theo đặc điểm tự kháng thể

Đặc điểm KT Chỉ số

KT nóng (n=131) (1)

KT lạnh (n=60) (2)

Phối hợp (n=88) (3)

Tổng (n=279) p

Hgb tăng sau truyền máu 24h (g/dL) 3,6±1,7 3,0±0,6 3,9±1,2 3,6±1,5

>0,05 Truyền KHC có hiệu quả (%) 76,3 63,3 68,2 71

Truyền KHC không hiệu quả (%) 25,7 36,7 31,8 29

Nhận xét: Huyết sắc tố tăng sau 24 giờ truyền KHC trung bình ở bệnh nhân AIHA là

3,6g/dl Tỉ lệ truyền KHC có hiệu quả đạt 71%, kết quả không có sự khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân AIHA với p>0,05

IV BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 1 mô tả đặc điểm theo giới của

đối tượng nghiên cứu, trong số 150 bệnh

nhân AIHA có 79,3% là nữ, tỉ lệ theo giới

nam/nữ xấp xỉ 1/4 Đây là một bệnh liên

quan đến rối loạn điều hòa miễn dịch nên

thường gặp ở nữ hơn Nghiên cứu của Chen

trên 405 bệnh nhân AIHA cũng cho kết quả

tương tự với 78,5% bệnh nhân là nữ[4]

Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên

cứu khá thấp (45,1 tuổi), tuổi trung bình ở

giới nam cao hơn giới nữ Nghiên cứu của

Raghuveer chỉ ra độ tuổi mắc trung bình là

41, gặp nhiều ở độ tuổi từ 17 đến 40[5] Tác

giả Bạch Quốc Tuyên cũng nhận định độ tuổi

mắc AIHA nhiều nhất là từ 16-30 tuổi[6]

4.2 Đặc điểm của tự kháng thể theo

nhiệt độ hoạt động

Bảng 1 mô tả đặc điểm theo nhiệt độ hoạt động của tự kháng thể ở bệnh nhân AIHA cho thấy kháng thể nóng chiếm chủ yếu với 78%, kháng thể lạnh và kháng thể phối hợp nóng và lạnh ít gặp hơn với tỉ lệ lần lượt là 8,7% và 13,3% Nhiều nghiên cứu phân loại AIHA theo nhiệt độ hoạt động của tự kháng thể cũng cho kết quả tương tự: nghiên cứu của Chen cho thấy 97,3% bệnh nhân tan wAIHA[4], nghiên cứu của tác giả Zhang và tác giả Barcellini thì tỉ lệ này lần lượt là 81,7% và 60%[7,8] Bệnh nhân wAIHA là chủ yếu, tuy nhiên sự phân loại kháng thể theo nhiệt độ hoạt động vẫn rất cần thiết và

có ý nghĩa trong quá trình điều trị

4.3 Mối liên quan giữa truyền máu và đặc điểm của tự kháng thể

Kết quả từ bảng 2 chỉ ra mức độ thiếu máu ở bệnh nhân wAIHA thường nhẹ hơn so với bệnh nhân cAIHA và mAIHA Có sự

Trang 7

khác biệt trên có thể là do cơ chế tan máu ở

bệnh nhân AIHA: bệnh nhân wAIHA chủ

yếu tan máu tại hệ liên võng nội mô trong khi

những bệnh nhân cAIHA ngoài tan máu ở

những vị trí đó còn có khả năng hoạt hóa bổ

thể mạnh, gây tan máu trực tiếp trong lòng

mạch Các nghiên cứu của Barcellini và

Raghuveer cũng cho thấy bệnh nhân wAIHA

thiếu máu nhẹ nhất và bệnh nhân mAIHA

thiếu máu nặng nhất[5,7]

Mức độ thiếu máu của bệnh nhân quyết

định đến việc bệnh nhân phải truyền KHC

hay không Kết quả nghiên cứu từ bảng 3

cũng cho thấy tỉ lệ bệnh nhân wAIHA phải

truyền KHC tương đối thấp (dưới 50%) trong

khi gần 100% bệnh nhân cAIHA và mAIHA

phải truyền Trong nghiên cứu của Chen, tỉ lệ

bệnh nhân AIHA phải truyền KHC là

59,7%[4] Tuy nhiên, bệnh nhân nghiên cứu

của tác giả chủ yếu là wAIHA (97,3%) nên

tác giả không đánh giá tỉ lệ bệnh nhân phải

truyền KHC theo đặc điểm của tự kháng thể

Có tất cả 279 đơn vị KHC đã truyền cho

87 bệnh nhân AIHA, trung bình mỗi bệnh

nhân phải truyền 3,2 đơn vị, những bệnh

nhân wAIHA phải truyền KHC ít hơn so với

những bệnh nhân cAIHA và mAIHA Nồng

độ hemoglobin là một căn cứ hữu ích để các

bác sĩ đưa ra chỉ định truyền KHC, những

bệnh nhân có Hgb dưới 80 g/L thường có chỉ

định truyền KHC Do vậy, tỉ lệ truyền cũng

như số đơn vị KHC truyền cho bệnh nhân có

liên hệ mật thiết với mức độ thiếu máu Kết

quả nghiên cứu của chúng tôi tương đối phù

hợp với nghiên cứu của Park, tác giả nhận

định mỗi bệnh nhân AIHA cần truyền từ 1

đến 5 đơn vị máu[9]

Lựa chọn đơn vị KHC truyền cho những

bệnh nhân AIHA là một vấn đề rất khó, vì tự

kháng thể ở những bệnh nhân này có khả

năng phản ứng với các kháng nguyên trên

hồng cầu của người cho máu Thực hiện phản ứng chéo trước truyền KHC ở những bệnh nhân này thường cho kết quả dương tính Kết quả nghiên cứu từ bảng 5 cũng cho thấy tỉ lệ truyền KHC có phản ứng chéo dương tính ở bệnh nhân AIHA rất cao, tỉ lệ này ở nhóm bệnh nhân wAIHA lên tới trên 71,8% Kết quả nghiên cứu của Zhang cho thấy tỉ lệ này cũng chiếm 56,7%[7] Tuy nhiên, để hạn chế nguy cơ xảy ra các phản ứng không mong muốn, chúng tôi đã tiến hành lựa chọn đơn vị KHC phù hợp nhất với bệnh nhân Ngoài ra, chúng tôi cũng phối hợp với bác sĩ điều trị để

có thể đưa ra những can thiệp cần thiết đảm bảo quá trình truyền máu an toàn

Mặc dù phải truyền các đơn vị KHC có phản ứng chéo dương tính, song khi đánh giá hiệu quả sau 24 giờ truyền KHC ở bệnh nhân AIHA vẫn cho kết quả cao Huyết sắc tố sau truyền tăng trung bình 3,6g/dl, có 71% bệnh nhân truyền KHC có hiệu quả Nghiên cứu của Zhang cũng chỉ ra truyền KHC ở bệnh nhân AIHA có hiệu quả, tỉ lệ truyền KHC có hiệu quả ở nhóm wAIHA và cAIHA lần lượt

là 71% và 75%[7] Tỉ lệ bệnh nhân truyền KHC có hiệu quả trong nghiên cứu của Chen thấp hơn, tuy nhiên cũng đạt 58,5%[4]

V KẾT LUẬN

• Đặc điểm tự kháng thể theo nhiệt độ hoạt động ở bệnh nhân thiếu máu tan máu

tự miễn:

Tự kháng thể ở bệnh nhân AIHA chủ yếu

là kháng thể nóng, kháng thể lạnh và kháng thể phối hợp nóng và lạnh ít gặp hơn

• Mối liên quan giữa truyền khối hồng cầu và đặc điểm của tự kháng thể:

- Tỉ lệ bệnh nhân wAIHA phải truyền KHC thấp hơn nhóm cAIHA và mAIHA

- Có 279 đơn vị KHC đã truyền cho 87 bệnh nhân, trung bình mỗi bệnh nhân truyền

Trang 8

3,2 đơn vị, số lượng KHC phải truyền ở bệnh

nhân wAIHA ít hơn ở bệnh nhân cAIHA và

mAIHA

- Tỉ lệ truyền KHC có phản ứng chéo

dương tính ở bệnh nhân cAIHA thấp hơn

nhóm wAIHA và mAIHA

- Huyết sắc tố tăng sau truyền máu 24 giờ

trung bình là 3,6g/dl, tỉ lệ bệnh nhân truyền

KHC có hiệu quả đạt 71%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Quang Vinh (2019) Thiếu máu tan

máu Bài giảng Huyết học – Truyền máu tập

1 Nhà xuất bản Y học, 178-203

2 Bộ Y tế (2015) Hướng dẫn chẩn đoán và

điều trị một số bệnh lý huyết học, 118-120

3 Thái Quý (2004) Phân loại thiếu máu Bài

giảng Huyết học – Truyền máu Nhà xuất bản

Y học, 158-162

4 Chen C (2020) Autoimmune hemolytic

anemia in hospitalized patients: 450 patients

and their red blood cell transfusions

Medicine, 99(2), 1873-1879

5 Raghuveer D, Renjitha B (2016) Clinical

characteristics and treatment outcomes of

primary autoimmune hemolytic anemia: a single center study from South India Blood research, 51.2, 88-94

6 Bạch Quốc Tuyên, Nguyễn Đình Lượng, Nguyễn Văn Thành (1973) Nhận xét về đặc

điểm bệnh thiếu máu tan máu do kháng thể

tự sinh gặp ở Bệnh viên Bạch Mai từ

1965-1973 Trường Đại học Y Hà Nội

7 Zhang LN (2019) Serologycal characteristics of patients with autoimmune hemolytic anemia and efficasy and safety of incompatible transfusion of red blood cells Zhonggua Shi Yan Xue Ye Xue Za Zhi, 27(3), 916-919

8 Barcellini W, Fattizzo B (2015) Clinical

applications of hemolytic markers in the differential diagnosis and management of hemolytic anemia Disease markers, 1-7

9 Park SH, Choe WH, Kwon SW (2015)

Red blood cell transfusion in patients with autoantibodies: Is it effective and safe without increasing hemolytic risk? Ann Lab Med, 35(4), 436-444

Ngày đăng: 27/01/2023, 00:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w