Tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen về tính tất yếu và quy luật ra đời của các chính đảng vô sản qua các tác phẩm đã giới thiệu nghiên cứu MỞ ĐẦU Tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen về tính tất yếu khách qu[.]
Trang 1Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về tính tất yếu và quy luật ra đời của các chính đảng vô sản qua các tác phẩm đã giới thiệu nghiên cứu
MỞ ĐẦU
Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về tính tất yếu khách quan vàquy luật ra đời của các chính Đảng vô sản là bộ phận quan trọng của chủnghĩa Mác Những tư tưởng đó đã được Lênin kế thừa và phát triển thànhhọc thuyết về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, lập ra ĐảngCộng sản Liên Xô lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động Ngalàm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, xây dựng Nhà nước công nông đầu tiêntrên thế giới, biến nước Nga Sa Hoàng nghèo nàn và lạc hậu thành cườngquốc hùng mạnh, đánh dấu bước ngoặt của tiến trình lịch sử loài người.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác -Lênin, đặc biệt là tư tưởng về tính tất yếu khách quan phải thành lập Đảng
và quy luật ra đời của Đảng vô sản vào điều kiện lịch sử cụ thể của ViệtNam, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã vàđang làm nên nhiều kì tích trong lịch sử Tuy vậy, ngay từ khi ra đời chủnghĩa Mác, đặc biệt là các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về tính tấtyếu khách quan phải thành lập Đảng và quy luật ra đời của Đảng vô sảnluôn không ngừng bị các thế lực thù địch tiến công quyết liệt, nhất là trongđiều kiện hiện nay Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen
về tính tất yếu khách quan phải thành lập Đảng và quy luật ra đời của Đảng
vô sản là một yêu cầu cần thiết đối với chúng ta khi nghiên cứu chủ nghĩaMác - Lênin
1 Tư tưởng của Mác - Ăngghen về tính tất yếu PHảI THàNH LậP chính đảng vô sản.
Việc thành lập chính Đảng vô sản là đòi hỏi khách quan của cuộcđấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản Vấn đề này được C.Mác vàPh.Ăngghen trình bày trong các tác phẩm: “Tuyên ngôn của Đảng Cộngsản”, “Điều lệ Liên đoàn những người Cộng sản” và “Phê phán cương lĩnh
Gô ta”
Trang 2Bằng quan điểm duy vật về lịch sử, Mác và Ăngghen - nhà sáng lậpchủ nghĩa cộng sản khoa học đã khẳng định: “lịch sử xã hội loài người kể
từ khi chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã cho đến nay là lịch sử của đấutranh giai cấp” (Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản) Trong cuộc đấu tranhgiai cấp của xã hội có giai cấp, tất yếu các chính đảng đại diện cho lợi íchcủa các giai cấp, các tầng lớp xã hội ra đời Mác đã nói “Phương pháp duyvật rất thường khi chỉ nên đóng khung ở chỗ đem quy những xung độtchính chị vào những cuộc đấu tranh vì lợi ích giữa các giai cấp xã hội vàgiữa các tầng lớp xã hội hiện có đã được tạo nên bởi sự phát triển kinh tế
và chỉ nên đóng khung ở chỗ vạch ra rằng các chính đảng đều là nhữngbiểu hiện chính trị ít nhiều đầy đủ của chính những giai cấp và tầng lớpấy” (Mác - Ăngghen tuyển tập, tập 1, 1962, tr 155) Xét vào phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa ta thấy giai cấp tư sản sẽ không tồn tại được nếu
nó không thường xuyên cải tiến công cụ sản xuất và mặt khác do cải tiếncông cụ sản xuất đã làm cho lực lượng sản xuất của xã hội không ngừngphát triển và ngày càng xã hội hoá Nói xã hội hoá của lực lượng sản xuất
có nghĩa là đòi hỏi toàn xã hội phải được sở hữu những tư liệu sản xuất của
xã hội để tiến hành sản xuất một cách có kế hoạch theo yêu cầu của toàn xãhội Nhưng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa là quan hệ chiếm hữu tưnhân tư bản về tư liệu sản xuất, cho nên tư liệu sản xuất trong xã hội tư bảnđều biến thành tư bản, tức là thành công cụ bóc lột vì “sự tất yếu của tư liệusản xuất và tư liệu sinh hoạt biến thành tư bản đứng xừng xững giữa nhữngngười công nhân và những tư liệu ấy như một bóng ma” (Mác - Ăngghentuyển tập, tập 2, 1962, tr 230) Vì vậy, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất
đã xã hội hoá với quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa làtất yếu không tránh khỏi và ngày càng gay gắt đưa đến sự diệt vong củachủ nghĩa tư bản Về mặt xã hội mâu thuẫn ấy biểu hiện thành mâu thuẫngiữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, vì rằng xã hội tư bản “đã làm đơngiản hoá những đối kháng giai cấp, xã hội ngày càng chia thành hai phe lớnthù địch nhau, hai giai cấp lớn hoàn toàn đối lập nhau, giai cấp tư sản vàgiai cấp vô sản” (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản) Do đó, ngay từ đầu giai cấp
Trang 3tư sản đã phải tồn tại trong sự đối lập với giai cấp vô sản Cuộc đấu tranhcủa giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ngay từ lúc mới ra đời, cáccuộc đấu tranh ấy thoạt đầu còn tự phát, riêng lẻ dần dần tiến đến tổ chức racông đoàn để lãnh đạo đấu tranh (Công đoàn đầu tiên xuất hiện ở Anh vàonhững năm 20 - 30 của thế kỷ XIX) Đến những năm 30 - 40 phong trào đã
có những bước phát triển mới, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của công nhânLyông (Pháp) năm 1831 và 1834, phong trào Hiến chương (Anh) năm 1835
- 1848 và cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xilêdi (Đức) năm 1848,
như-ng vẫn còn tronhư-ng giai đoạn tự phát, giai đoạn mà giai cấp vô sản vùnhư-ng dậyđấu tranh để sống còn, để mong giảm nhẹ sự nghèo đói Nhưng giai cấp vôsản chưa nhận thức đầy đủ lực lượng của mình và con đường giải phóngcủa giai cấp, chưa nhận thức được sứ mệnh lịch sử, chưa có cương lĩnh vàđường lối rõ ràng Phong trào công nhân quốc tế từ tự phát chuyển lên giaiđoạn tự giác là từ khi có chủ nghĩa Mác ra đời với cương lĩnh là bản
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” và tổ chức là “Đồng minh những ngườiCộng sản” do Mác - Ăngghen sáng lập Từ đây, giai cấp vô sản đã ý thức đ-ược sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của mình, tìm thấy con đường giải phónggiai cấp mình và giải phóng toàn xã hội Theo Lênin: Việc phát hiện sứmệnh lịch sử của giai cấp là một thành tựu then chốt của học thuyết Mác,làm cơ sở xuất phát cho toàn bộ lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học, nólàm cho giai cấp vô sản tự hiểu mình và có ý thức về mình và đem khoahọc thay thế cho mộng tưởng
Quá trình đi đến phát hiện ra vai trò sứ mệnh của giai cấp vô sản làquá trình nghiên cứu lịch sử rất cơ bản ngay từ mùa hạ năm 1843 của Mác(tiểu sử Các Mác tập 1 trang 87) Lênin đã nói “ Lần đầu tiên Mác đề rahọc thuyết của mình là năm 1844 Đến năm 1848 bản Tuyên ngôn ĐảngCộng sản của Mác và Angghen ra đời đã trình bày học thuyết đó một cáchhoàn chỉnh và có hệ thống” ( Lênin – tuyển tập, nhà xuất bản Tiến bộMatxcơva trang 13)
- Thật vậy: Bài báo “ Phê phán Triết học pháp quyền Hêghen” Mácviết từ năm 1842 đăng trên Tạp chí Niên giám Pháp - Đức đã đánh dấu sựchuyển hướng của ông từ chủ nghĩa Dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa
Trang 4cộng sản Trong đó Mác đã giải quyết một cách khoa học về bản chất xãhội và mối quan hệ giữa nó với nhà nước, đã đánh dấu một bước quantrọng trên con đường tiến tới quan điểm khoa học duy vật về trật tự xã hộihiện tồn và đã đem lại chiếc chìa khoá để nhận thức những nguyên nhân cơbản của toàn bộ quá trình lịch sử ở đây Mác khẳng định một chế độ xã hộixứng đáng với mọi người là “ chế độ dân chủ” và để có một chế độ ấy theoMác cần phải cải tạo bản thân xã hội hiện tồn tuy còn rất đại lược và Mácmới chỉ đi tìm một lực lượng xã hội có khả năng thực hiện cuộc cách mạng
đó Đến năm 1844, trong tác phẩm Bản thảo kinh tế – Triết học Mác cho
rằng, muốn thay đổi quan hệ xã hội phải thay đổi những hoàn cảnh quyếtđịnh các quan hệ đó, tức là điều kiện sản xuất ra cuộc sống vật chất, và ôngcho rằng cần thiết phải có cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng rộngrãi để cải tạo xã hội và coi đó là phương tiện để thực hiện cuộc cách mạngCộng sản chủ nghĩa Cũng trong thời gian này, Ăngghen sang Anh nghiêncứu tình hình giai cấp công nhân và liên hệ với những nhà hoạt động trong
phái Hiến chương, Angghen đã viết tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân Anh ở tác phẩm này, theo Lênin thì “Ăngghen là người thứ nhất đã
chứng minh rằng giai cấp vô sản không phải chỉ là giai cấp đau khổ màthôi, rằng giai cấp vô sản đang đấu tranh có thể tự mình giúp đỡ chínhmình” ( Từ điển Triết học, nhà xuất bản sự thật 1972 trang 22 - 23) Chínhtác phẩm này đã là cái mốc đánh dấu sự chuyển hướng của Ăngghen từ mộtnhà dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản như Mác Cuối năm 1844
và đầu năm 1845 Mác – Ăngghen viết Gia đình thần thánh để chống lại
Brunô Bauơ và đồng bọn và cho ra đời hàng loạt vấn đề nhằm phát triểnquan điểm duy vật lịch sử của mình Đặc biệt Mác - Ăngghen nêu họcthuyết về vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản , với tư cách làngười tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, là người xây dựng xã hội mới Lần đầutiên Mác - Ăngghen cho rằng vai trò lịch sử đó của giai cấp vô sản do điềukiện kinh tế - xã hội quyết định Hai ông cho rằng, “ Chính những điều kiệnsinh hoạt của giai cấp vô sản là sự cô đọng của mọi điều kiện sinh hoạt của
xã hội hiện đại đã đạt tới điểm cao nhất của tình trạng phi nhân tính, tronggiai cấp vô sản, con người hiện thật ra đã mất bản thân mình nhưng đồng
Trang 5thời cũng có được ý thức lý luận về sự mất mát đó…mà nó không tránhkhỏi, biểu hiện thực tế của tính tất yếu, trực tiếp buộc nó phải căm phẫnchống lại tình trạng phi nhân tính như vậy, vì thế giai cấp vô sản có thể vàtất phải tự mình giải phóng bản thân mình” ( Mác – Angghen tuyển tập tập
1 – 1950 trang 150) Đến năm 1848 trong “Tuyên ngôn Đảng cộng sản”Mác – Angghen khẳng định dứt khoát là việc giải phòng giai cấp công nhânphải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân” và điều này đợc nhắc lạitrong điều lệ của Hội liên hiệp lao động quốc tế năm 1864 Chính giai cấp
vô sản là sản phẩm của đại công nghiệp, cùng với sự phát triển của đạicông nghiệp, giai cấp công nhân càng lớn mạnh, về số lợng nó đợc tuyển
mộ từ các giai cấp khác trong dân c, về chất lợng cũng ngày một trởngthành nhất là khi cuộc đấu tranh đã đến giờ phút quyết định Theo Mác –Angghen “ trong tất cả các giai cấp hiện đơng đầu với giai cấp t sản thì chỉ
có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng”, nó chẳng những xoá bỏnhững phơng thức chiếm hữu của giai cấp t sản mà còn xoá bỏ ngay cả ph-ơng thức chiếm hữu của chính mình với t cách là một giai cấp; hơn thế nữa
nó là giai cấp cuối cùng bị áp bức trong xã hội có giai cấp vì thế nó “ khôngcòn có thể tự giải phóng khỏi giai cấp áp bức mình ( tức là giai cấp t sản)nếu không đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi bóc lột,khỏi áp bức và khỏi những cuộc đấu tranh giai cấp” ( Lời tựa tuyên ngôntiếng Đức 1883) Đó là những tất yếu kinh tế, xã hội quy định sứ mệnh lịch
sử toàn thế giới của giai cấp vô sản mà Mác Angghen đã phát hiện trongsuốt cả một quá trình từ “nhiều năm trớc 1845” (Angghen) và theoAngghen “Mác là ngời đầu tiên đã làm cho giai cấp đó (Giai cấp vô sảnhiện đại) có ý thức về địa vị và yêu cầu của mình, có ý thức về những điềukiện để tự giải phóng” ( Điếu văn trớc mộ Mác)
Sứ mệnh lịch sử ấy của giai cấp vô sản là khách quan, bắt nguồn từ
sự tồn tại của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản Chính chủ nghĩa tu bản
và giai cấp tư sản chẳng những đã rèn ra vũ khí giết mình mà còn sinh ragiai cấp vô sản, ngời sử dụng vũ khí ấy Cho nên “ sự sụp đổ của giai cấp
tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều tất yếu nh nhau”( Mác –Angghen tuyển tập tập 1 – 1962 trang 36) Nhưng để đi đến thắng lợi đó,
Trang 6phải lấy “ triết học làm vũ khí tinh thần” 1842 (Mác – Lời nói đầu, phêphán triết học pháp quyền Hêghen) cho mình và phải đợc tổ chức lại thànhgiai cấp Năm 1848 trong Tuyên ngôn Mác –Angghen đã chỉ ra là “ bắtnguồn từ thành lập những hội đồng minh chống lại bọn tư sản để bảo vệtiền công của mình… đi tới chỗ lập thành những đoàn thể thường trực đểsẵn sàng đối phó khi những cuộc xung đột bất thần xảy ra… Sự tổ chứcnhư vậy của người vô sản thành giai cấo và do đó thành chính đảng” ( Mác– Ăngghen – Tuyên ngôn ĐCS, 1976 trang 58) Việc giai cấp vô sản tổchức thành giai cấp và do đó thành chính đảng theo Mác – Angghen nóluôn luôn đợc tái lập và ngày càng hùng mạnh hơn, vững chắc hơn Nóimột cách khác đó là quy luật tất yếu, nó bắt nguồn từ quy luật của lịch sử
xã hội loài người – lịch sử của đấu tranh giai cấp, mà “ bất cứ cuộc đấutranh giai cấp nào cũng là một cuộc đấu tranh chính trị” (Tuyên ngôn ĐảngCộng sản) và “ chính đảng là biểu hiện chính trị ít nhiều đầy đủ của giaicấp” (Đấu tranh giai cấp ở Pháp) Đối với giai cấp vô sản trong việc thựchiện sứ mệnh của mình là một qú trình thống nhất giữa nhân tố khách quan
và nhân tố chủ quan Đảng là biểu hiện cao nhất, tập trung nhất của nhân tốchủ quan của giai cấp vô sản trong tiến trình cách mạng của nó và nó biểuhiện chính trị ít nhiều đầy đủ của giai cấp vô sản Thực tiễn của phong trào
vô sản dưới chủ nghĩa tư bản cũng cho thấy nếu không có một chính đảngcủa mình thì giai cấp vô sản không thể giành được thắng lợi trong cuộc đấutranh chống tư sản, vì khi đó giai cấp vô sản còn là một đám quần chúngphân tán trong toàn quốc và bị cạnh tranh chia xé” thì tính chất cuộc đấutranh của họ chỉ là “đánh kẻ thù của kẻ thù của mình” (Tuyên ngôn ĐảngCộng sản), hệ tư tưởng của họ không thoát khỏi hệ tư tưởng tư sản Thựctiễn ở Đức sau sự kiện 2/1848 ở Pháp đã chứng thực điều đó Trong lúc giaicấp tư sản Đức giành thắng lợi không phải bằng sức mạnh của chính nó mànhờ vào sức manh của công nhân Pháp, giai cấp vô sản Đức lúc đó mớiphát triển như Mác nói “Khi kẻ thù đã cùng đường thì giai cấp vô sản mới
ở điểm bắt đầu” và tuyệt đại đa số trong giai cấp vô sản Đức ban đầu cònđóng vai trò của cánh cấp tiến, cánh cực tả trong giai cấp tư sản Với giaicấp vô sản Pháp, sự thất bại trong cách mạng tháng 2, sự đẫm máu trong
Trang 7cách mạng tháng 6 họ vẫn còn “mơ hồ với khái niệm cộng hoà” và sau nàynữa với công xã Pari, đòi hỏi giai cấp vô sản Pháp phải có chính đảng đểlãnh đạo Với giai cấp vô sản Anh ra đời ở một nước công nghiệp phát triểnsớm nhất nhưng phong trào đến những năm 90 của thế kỷ XIX vẫn “tiếnlên với những bước chậm chạp và đắn đo, lúc thì chần chừ, lúc thì thu hútđược ít nhiều kết quả khả quan ở một vài nơi, sự chuyển mình với một lòngnghi ngờ quá đáng đối với tiếng chủ nghĩa xã hội (Mác - Ăngghen, tuyểntập, tập 2, trang 178)…
Tất cả những thực tiễn cách mạng ấy đã chứng tỏ sự tất yếu giai cấp vô sảnphải có những chính đảng độc lập của mình để lãnh đạo Ngay từ năm 1847Mác và Ăngghen đã khẳng định như vậy Ăngghen nói “để giai cấp vô sả
có đủ sức mạnh và có thể chiến thắng trong giờ phút quyết định Mác và tôi
đã bảo vệ lập trường này từ năm 1847 - thì có cần thành lập một đảng đặcbiệt, không giống bất cứ đảng nào, đối lập với chúng ta tự nhận mình làmột đảng có tính giai cấp” (Sách giáo khoa Xây dựng Đảng Liên Xô, tập 1,trang 6) Đến Tuyên ngôn Đảng Cộng sản 1848, Mác - Ăngghen khẳngđịnh tính quy luật, tính tái lập của việc giai cấp vô sản phải có chính đảngcủa mình Điều đó lại được thể hiện trong Tuyên ngôn thành lập và điều lệHội liên hiệp lao động quốc tế 1864 “công nhận đã có một trong những yếu
tố của thành công là số lượng, nhưng số lượng chỉ giải quyết được vấn đềkhi quần chúng được tổ chức lại và được tri thức chỉ đạo… nhận thức đó đãthúc đẩy công nhân các nước khác nhau thành lập Hội liên hiệp lao độngquốc tế (Mác – Angghen tuyển tập, tập 2, 1970 trang 405) Hội liên hiệplao động quốc tế, chính đảng cách mạng của giai cấp vô sản ra đời là mộtđòi hỏi tất yếu của lịch sử Sau thất bại của công xã Pari 1871, Mác -Ăngghen lại có thêm cơ sở thực tiễn để khẳng định quan điểm của mìnhtrong “Nội chiến ở Pháp 1871” rằng “Dù có đổ máu nhiều đến đau đi nữathì cũng không thể tiêu diệt hội ấy được” (Mác – Angghen tuyển tập, tập 1,
1970 trang 655) Do đó đến tháng 9 năm 1872 tại đại hội của Hội liên hiệplao động quốc tế ở La Hay đã bổ xung vào Điều lệ Hội liên hiệp lao độngquốc tế điều 7a, khẳng định dứt khoát “Trong cuộc đấu tranh của mìnhchống lại quyền lực liên hợp của giai cấp hữu sản, chỉ khi nào giai cấp vô
Trang 8sản tự mình tổ chức được thành một chính đảng độc lập để đối lập với tất
cả mọi chính đảng cũ do các giai cấp hữu sản lập ra, thì mới có thể hànhđộng với tư cách giai cấp được Việc giai cấp vô sản thành lập chính đảng
là tất yếu để đảm bảo cho cách mạng xã hội thu được thắng lợi và thực hiệnđược mục đích cuối cùng của nó là tiêu diệt giai cấp” (Mác – Angghentuyển tập, tập 2, 1970 trang 470)
II Quy luật ra đời của các chính đảng vô sản.
II 1 Những cơ sở cho sự ra đời của chính đảng vô sản.
Cơ sở khách quan cho sự ra đời của chính đảng vô sản
Trươc hết theo Mác - Ăngghen, đó chính là sự phát triển của đại
công nghiệp, làm cho lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hoá đã mâuthuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Về xã hội, đó là mâuthuẫn gay gắt giữa tư sản và vô sản Trong “Góp vào lịch sử của đồng minhnhững người Cộng sản”, Ăngghen đã viết: “trong những nước mà đại côngnghiệp đã làm cho những đối kháng giai cấp ấy phát triển đầy đủ… thìnhững đối kháng giai cấp ấy đều là cơ sở để thành lập các chính đảng, lànguồn gốc của các cuộc đấu tranh chính trị, là lý do của toàn bộ lịch sử,chính trị (Mác – Angghen tuyển tập, tập 2, 1970 trang 421) Quan điển ấytheo Ăngghen thì Mác đã đạt tới ngay từ năm 1844, hơn thế nữa Mác cònkhái quát và phát triển quan điểm ấy trong Niên giám Pháp - Đức, Tạp chí
và CAnônRugơ thuộc phái tả Hêghen xuất bản ở Pari năm 1844 (Sách đadẫn, trang 241)
Thứ hai: xét riêng đối với giai cấp vô sản thì gia cấp và chính đảng
không ra đời cùng một lúc Cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản ngay
từ lúc giai cấp vô sản mới ra đời, nhưng không phải ngay từ lúc đầu nó đã
có chính đảng Nếu chỉ tính từ 1789 lúc mà cuộc cách mạng tư sản đầu tiên
nổ ra ở Pháp thì nagy sau đó giai cấp vô sản cũng ngày một lớn lên, chonên “sự phát triển về kinh tế và chính trị của nước Pháp từ 1789 đã khiếncho từ 50 năm nay không một cuộc cách mạng nào đã có thể nổ ra ở Pari
mà lại không mang tính chất vô sản” (Mác – Angghen tuyển tập, tập 1,
1962, trang 756), nhưng lần đầu tiên giai cấp vô sản có chính đảng là mãi
Trang 9đến 1847 với sự ra đời của “Đồng minh những người Cộng sản” Điều đóchứng tỏ rằng chính đảng của giai cấp tư sản chỉ có thể ra đời trên cơ sởgiai cấp vô sản đã lớn về số lượng và chât lượng và cuộc đấu tranh giai cấpcủa nó chống lại giai cấp tư sản đã phát triển đến một mức độ nhất định.
Thật vậy, đại công nghiệp phát triển, giai cấp vô sản ngày càng tằng
về số lượng, do nó được bổ sung thêm từ các giai cấp khac trong dân cư
Về chất lượng, giai cấp vô sản cũng ngày một nâng cao lên do nó được lôicuốn vào cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến đòi dân chủ, mặt khác cómột bộ phận giai cấp tư sản rơi xuống hàng ngũ vô do quy luật cạnh tranh
tư bản chủ nghĩa gây ra và đặc biệt các nhà tư tưởng trong giai cấp tư sản,trong lúc giờ phút quyết định của cuộc đấu tranh giai cấp đã nhận biết đượcquy luật phát triển của lịch sử, họ rời bỏ lập trường giai cấp cũ tự nguyệnđứng vào hàng ngũ giai cấp vô sản Thế rồi việc phát triển của giao thông
đã làm cho giai cấp vô sản gần gũi nhau, cuộc đấu tranh từ cá biệt đến sựphối hợp trong cùng một xưởng, cùng một ngành, cùng một địa phương và
“tập trung nhiều cuộc đấu tranh địa phương đâu đâu cũng mạng tính chấtgiống nhau, thành một cuộc đấu tranh toàn quốc, thành một cuộc đấu tranhgiai cấp” (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, 1848) Như vậy “sự phát triển củacông nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô sản, mà còn tậphợp họ lại thành những khối quần chúng lớn hơn, lực lượng vô sản tăngthêm và họ thấy rõ lực lượng của mình… sự tổ chức như vậy của người vôsản thành giai cấp và do đó thành chính đảng” (Sách đã dẫn trang 58) Các
cơ sở ấy cho sự ra đời của Đảng, trong Nội chiến của Pháp 1871, Mác
-ăngghen đã khái quát lại “Đám đát mà Hội ấy mọc lên chính là bản thân xãhội hiện đại” (Mác - Ăngghen tuyển tập, tập 1, 1970, trang 655) Đến năm
1877, bằng thực tiễn sự phát triển của lịch sử Mác - Ăngghen đã chứngminh cho tư tưởng của mình trong “chủ nghĩa xã hội phát triển từ khôngtưởng đến khoa học” rằng “cách mạng công nghiệp đã đẻ ra một giai cấpnhững người chủ công trường thủ công tư bản chủ nghĩa có thế lực và cũng
đẻ ra một giai cấp công nhân công trường thủ công đông hơn nhiều Cáchmạng công nghiệp càng dần dần chiếm lấy từng ngành của toàn bộ côngnghiệp thì giai cấp này cũng càng dần dần lớn lên, và thế lực của nó cũng
Trang 10lớn lên theo… họ tự tổ chức thành một đảng độc lập, Đảng Hiến chương,Đảng Công nhân đầu tiên trong thời kỳ hiện đại” (Mác - Ăngghen tuyểntập, tập 2, 1970, trang 170).
Thứ ba: Xét những nhân tố hình thành lên Đảng thì như trên đã nêu,
giai cấp vô sản đã có một yếu tố thành công là số lượng, nhưng theo Mác Ăngghen số lượng chỉ giải quyết được vấn đề khi nó được tổ chức lại và cótri thức chỉ đạo Mác - Ăngghen là những nhà bác học vĩ đại và những nhàcách mạng nồng nhiệt đã tiếp thu thành tựu văn hoá khoa học của nhânloại, nghiên cứu sự phát triển của xã hội, nhất là xã hội tư bản chủ nghĩa,tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của giai cấp vô sản đã phát hiện ra quy luậtphát triển của lịch sử và để ra học thuyết của mình; đồng thời ra sức hoạtđộng, đấu tranh để đưa ra lý luận cách mạng và khoa học thâm nhập vàophong trào công nhân, đúng như Lênin đã nói “Đưa chủ nghĩa xã hội hoàvào phong trào công nhân là công lao chủ yếu của Mác và Ăngghen (Sáchgiáo khoa xây dựng đảng Liên Xô, tập 1, trang 28) Đúng vậy, ngay từ năm
-1842 Mác đã chỉ rõ “Vũ khí vật chất của Triết học là giai cấp vô sản, cũnggiống như vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản là Triết học” (Mác- Phêphán triết học pháp quyền Hêghen, Nhà xuất bản sự thật, 1962, trang 27)
Tư tưởng này được thể hiện rất rõ, trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản 1848
và đến 1877 trong Chống Đuy Rinh, Ăngghen đã kết luận “chủ ngiã xã hộikhoa học là biểu hiện về lý luận của phong trào vô sản” Trong hoạt độngthực tiễn của Mác - Ăngghen với sự ra đời của Đồng minh những ngườicộng sản và Tuyên ngôn Đảng Cộng sản là quá trình hoạt động liên tụcnhằm tổ chức ra các tổ chức cách mạng của giai cấp vô sản để truyền báquan điểm đúng đắn, khoa học cho giai cấp vô sản một cách kiên trì, bằngnhiều cách, “bằng lời nói, bằng thư tư, bằng báo chí” để tác động và làmchuyển biến dần những tư tưởng, quan điểm của “đồng minh những ngườichính nghĩa” và tạo ra “sự chuyển biến lặng lẽ xảy ra trong nội bộ”, đặcbiệt là “trong những người lãnh đạo chủ yếu ở Luân Đôn” để đi tới sựthống nhất và tổ chức nhằm cải tổ thành “Đồng minh những người cộngsản” vào mùa hạ năm 1847 - chính đảng đấu tiên của giai cấp vô sản ra đờitrên cơ sở kết hợp lý luận của chủ nghĩa cộng sản khoa học và phong trào
Trang 11công nhân thông qua sự vận động, thống nhất biện chứng về tư tưởng và tổchức của giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của Mác và Ăngghen.
II 2 Đảng – mục đích của đảng – tính chất đảng – xây dựng đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức - Đảng vững mạnh trong phong trào cách mạng quần chúng
* Khái niệm Đảng: Ngay từ 1ự46 Mác - Ăngghen hình dung đảng
vô sản là một tổ chức quốc tế Hai ông xuất phát từ tiền đề cho rằng cuộccách mạng cùng ú¯n chủ nghĩa tương lai sẽ là kết quả củỏ!những hoạt độngcách mạng củỏ!giai cấp vô sản ở một số nước tư bản Phương hướng đóphù hợp với giai đoạn phát triển hồi bấy ỗhờ củỏ!chủ nghĩa tư bản, khinhững mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, tính chất không đồng đều trong sựphát triển còn chưa ỗ`y ỗt đến mức khiến cho cách mạng có thể thắng lợimột nước (tiểu sử các nước tập 1 trang 209) Cho nên khởi đầu của việcthành lập đảng là kết hợp công nhân tiên tiến vào trong tổ chức quốc tế đặt
cơ sở cho sự đoàn kết quốc tế của Đảng.- Tư tưởng thể hiện rất rõ trong lời
mở đầu điều lệ “Đồng minh những người cộng sản 1847 Vô sản tất cả cácnước đoàn kết lại” và đến 1848 Mác - Ăngghen lại dùng câu đó để kết luậnbản “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” Đó là về mặt tổ chức Đảng về mặt
chính trị, như phần đầu đã nói Mác - Ăngghen Đảng là biểu hiện chính trị
ít nhiều đầy đủ của giai cấp Năm 1847 Mác - Ăngghen nói mục đích của
Đồng minh những người cộng sản là … “Xây dựng một xã hội không cógiai cấp”; rồi đến Tuyên ngôn Đảng cộng sản năm 1848 2 ông lại nói rõ “
Họ tiêu diệt giai cấp nói chung và cũng do đấy tiêu diệt cả từ thống trị củachính giai cấp mình” Năm 1852 trong thư gửi Vây-đmay E Mác đã viết
“Bản thân sự chuyên chính này (chuyên chính vô sản) chỉ là bước quá độtiến lên xoá bỏ giai cấp và tiến lên một xã hội không có giai cấp”, và cũngvẫn tư tưởng đó, được 2 ông nhắn lại trong nhiều tác phẩm về sau nữa
Điều đó cho phép rút ra quan niệm của Mác - Ăngghen Đảng là một phạm
trù lịch sử Đảng của giai cấp vô sản sẽ không còn nữa khi mà chủ nghĩa tư
bản không còn và xã hội không còn những điều kiện cho sự nảy sinh và tồn
tại giai cấp nữa Năm 1871 hai ông trong “Nội chiến ở Pháp khẳng định
rằng” muốn tiêu diệt nó (Hội liên hiệp lao động quốc tế) thì các chính phủ
Trang 12triệt tiêu ắt phải tiêu diệt sự thống trị độc tài của tư bản đối với lao động,tức là tiêu diệt cơ sở của sự tồn tại ăn bám của các chính phủ ấy (Mác -Ăngghen tuyển tập tập 1 1971 trang 655 – 656.
* Mục đích của Đảng; Theo Mác - Ăngghen “đã đến lúc những
người cộng sản phải công khai trình bày trước toàn thế giới những quanđiểm mục đích và ý đồ của mình” Từ 1844 Mác - Ăngghen đã đề cập đếnmục đích cuối cùng của những người cộng sản trong tác phẩm bản thảokinh tế - triết học , là thủ tiêu chế độ tư hữu Người nói “để thủ tiêu ý niệmchế độ tư hữu thì ý niệm chủ nghĩa cộng sản cũng hoàn toàn đủ, còn để thủtiêu chế độ tư hữu trong thực tế hiện thực thì cần phải có hành động cộngsản trong thực tiễn” (Tiểu sử các mác tập 1 trang 127) Đến “gia đình thầnthánh” 1845 Mác - Ăngghen nói rõ hơn “Với tư cách là giai cấp vô sảnbuộc phải thủ tiêu bản thân mình và do đó tiêu diệt cả cái mặt đối lập của
nó – tức là chế độ tư hữu” (Mác - Ăngghen tuyển tập tập 1 1980 trang 148).Điều đó được đưa vào điều 1 của điều lệ Đồng minh những người cộngsản 1847 là “xây dựng một xã hội nói không có giai cấp và không có chế
độ tư hữu” (Mác - Ăngghen tuyển tập tập 1 1980 trang 493) và được kháiquát lại trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản 1848 – Cương lĩnh chính trị đầutiên của giai cấp vô sản là “Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luậncủa mình thành công thức duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu” Đếntháng 7/ 1849 các chính đảng Pháp, Đức thất bại, tổ chức Đồng minh yếu
đi nhiều, trong đó đảng viên đảng công nhân bị đảng dân chủ tiểu tư sản chiphối hoặc lãnh đạo, trước tình hình đó năm 1850 Mác - Ăngghen gửi thưcho Đồng minh nhắc nhở , uốn nắn để đảm bảo tính độc lập của phong trào
vô sản, theo 2 ông sách lược của đảng phải đảm bảo phục vụ cho mục đíchcuối cùng của Đảng; “Đối với chúng ta vấn đề không phải là cái biến chế
độ tư hữu mà là thủ tiêu chế độ tư hữu, không phải là che dấu mâu thuẫngiai cấp mà là tiêu diệt giai cấp, không phải là cải lương xã hội mà là xâydựng 1 xã hội” (Thư của ban chấp hành Trung ương gửi đồng minh nhữngngười cộng sản)
Để đi đến mục đích cuối cùng, Mác - Ăngghen còn đề ra mục đíchtrước mắt cho giai cấp vô sản, đó là giai cấp vô sản phải giành lấy chính
Trang 13quyền tháng 8 – 1845 để chống lại “chủ nghĩa xã hội chân chính” ở Đức nótuyên truyền cho một sự hoà giải chung, Mác đã đề cập đến tư tưởng này
“Hệ tư tưởng Đức” Người nói “mỗi một giai cấp mong muốn nắm lấyquyền thống trị, ngay cả đối với giai cấp vô sản, trước tiên đều phải giànhđược chính quyền về tay mình” (tiểu sử các Mác tập 1 trang 199) Đến năm
1847 khi luận chiến với Haintxen, Mác đã viết “Những người vô sản có thể
và phải tham gia vào cuộc cách mạng tư sản vì nó là tiền đề của cách mạngcông nhân, chi khi nào cuộc cách mạng tư sản thắng lợi rồi thì cuộc đấutranh của họ với giai cấp tư sản mới thật sự nổ ra và lúc đó người vô sản trởthành chính quyền trước mắt là một chính quyền cách mạng” Như vậy tưtưởng về giành chính quyền được Mác - Ăngghen coi đó là công cụ để cảitạo xã hội (tiểu sử Mác tập 1 trang 268) Trên tinh thần đó trong điều lệ củaĐồng minh những người cộng sản 1847 Mác - Ăngghen đã viết “mục đíchcủa liên đoàn là lật đổ giai cấp tư sản, lập nền thống trị của giai cấp vôsản” Đến Tuyên ngôn Đảng cộng sản năm 1848 2 ông nhắc lại “mục đíchtrước mắt của tất cả các đảng vô sản là tổ chức những người vô sản thànhgiai cấp, lật đổ sự thống của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chínhquyền”, điều đó tức là việc giành chính quyền được “coi là giai đoạn quá
độ tất yếu để đi đến xoá bỏ sự khác nhau về giai cấp nói chung” (Đấu tranhgiai cấp ở Pháp 1850) và nó “trở thành một nghĩa vụ vĩ đại của giai cấpcông nhân” (Tuyên ngôn thành lập Hội liên hiệp lao động quốc tế 1964)
1875 khi phê phán những sai lầm của Cương lĩnh gôta, họ muốn từ bỏ conđường chuyên chính vô sản, muốn thành lập một nhà nước tự do xã hội chủnghĩa bằng con đường cải lương hợp pháp Mác - Ăngghen đã khẳng địnhgiữa 2 thời kỳ chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản không thể là cái gìkhác ngoài “sự chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản” (Phê pháncương lĩnh gôta) – Phần này sẽ được lý giải kỹ hơn ở mục IV: Đảng lãnhđạo chính quyền
* Tính chất Đảng.
- Mác - Ăngghen cho rằng Đảng là biểu hiện chính trị ít nhiều đầy đủcủa giai cấp; tức là khẳng định đảng là đảng của giai cấp (không có đảngphi giai cấp , siêu giai cấp) Đảng cộng sản chỉ có thể là đảng của giai cấp
Trang 14vô sản Từ năm 1847 Mác - Ăngghen đã nói như vậy “để giai cấp vô sản có
đủ sức mạnh và có thể chiến thắng trong giờ phút quyết định thì nó cầnthành lập một đảng đặc biệt … và tự nhận mình là một đảng có tính giaicấp” (Sách giáo khoa liên xô trang 26); rằng “giai cấp vô sản chỉ khi nào tổ
chức được thành một chính đảng độc lập để đối lập với tất cả mọi chính
đảng cũ do giai cấp hữu sản lập ra mới có thể hành động với tư cách giaicấp được” (điều lệ Hội liên hiệp lao động quốc tế năm 1864 và bổ sung1872) Để bảo vệ tính chất vô sản của đảng, Mác - Ăngghen đã đấu tranhvới những quan điểm mơ hồ tính giai cấp của đảng, năm 1879 trong thư gửi
Bê Ben, hỷ nếch Brắccơ, 2 ông đã phê phán quan điểm cho rằng đảngkhông được là “một đảng công nhân phiến diện” mà phải là một đảng “toàndiện của tất cả những người đầy tình nhân ái chân chính” Như vậy Mác -Ăngghen cho rằng Đảng cộng sản chỉ có thể là đảng của giai cấp vô sản màthôi Nhưng không bao giờ Mác - Ăngghen có tư tưởng bè phái, thành phầnchủ nghĩa theo Mác - Ăngghen bất cứ ai, không kể họ là vô sản hay cácthành phần khác nếu có đủ 7 điều kiện đều được công nhận là Hội viênLiên đoàn những người cộng sản 1847 và ai thừa nhận, bảo vệ các nguyêntắc của Hội liên hiệp công nhân quốc tê đều có thể được công nhận làm hộiviên” (điều 9 điều lệ Hội liên hiệp lao động quốc tế 1864) Đến 1879 Ăngghen tiếp tục tư tưởng ấy và đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với nhữngngười xuất thân từ các thành phần không vô sản muốn gia nhập phong trào
vô sản Người nói “những người xuất thân từ các giai cấp khác và gia nhậpphong trào vô sản thì điều kiện đầu tiên là họ không được mang theo họ bất
cứ một tàn tích thiên kiến tư sản, tiếu tư sản v.v nào, mà phải toàn tâm toàn
ý tiếp thu quan điểm vô sản” (Mác - Ăngghen tuyển tập tập 1 tập 2 1971trang 594)
- Quan hệ giữa Đảng – giai cấp: theo Mác - Ăngghen Đảng gắn liềnvới giai cấp “những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt đốilập với các đảng công nhân khác Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nàotách khỏi lợi ích toàn thể giai cấp vô sản” (Tuyên ngôn Đảng cộng sản).Nhưng Đảng và giai cấp không đồng nhất; và theo Lênin là “không đượclẫn lộn Đảng - đội tiền phong của giai cấp với toàn bộ giai cấp” thì Mác -
Trang 15Ăngghen qui định rất rõ những điều kiện phải có đối với đảng cũng như đốivới những người gia nhập đảng để không “lẫn lộn” được Đó là qui địnhtrong điều lệ liên đoàn những người cộng sản 1847, Hội viên của liên đoànphải là những người có lối sống và hoạt động phù hợp với mục đích, cónghị lực cách mạng và lòng nhiệt thành trong tuyên truyền, thừa nhận chủnghĩa cộng sản, phục tùng nghị quyết của Liên đoàn…” Đến Tuyên ngônĐảng cộng sản 1848 Mác - Ăngghen qui định sự khác nhau giữa đảng vàgiai cấp trên 2 phương diện: “Về mặt thực tiễn, Đảng là bộ phận kiên quyếtnhất, bộ phận tiến tiến nhất cổ vũ tất cả các bộ phận khác của giai cấp; về
lý luận, Đảng là bộ phận hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ hiểu
rõ những điều lệ, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản” Năm
1850 trước sự thất bại của đảng Đức và Pháp, trước sự suy yếu của Liênđoàn, Mác - Ăngghen đã gửi thư cho liên đoàn những người cộng sản.Người nhắc nhở rằng “Đảng công nhân cần phải hành động một cách hết
sức có tổ chức, hết sức nhất trí và hết sức chủ động” Khi thành lập Hội
liên hiệp công nhân quốc tế 1864 Mác - Ăngghen nêu trong điều lệ của Hội
là “Phảibảo vệ các nguyên tắc của Hội … phải chịu trách nhiệm về sựthuần khiết trong phẩm chất”; và điều đó được chứng minh trong thực tiễncách mạng rằng đảng cộng sản “là những đầu não tích cực nhất, thôngminh nhất và cương quyết nhất … những nhân vật vô cùng chân thực, chânthành, thông minh, tận tuỵ , trong sạch cuồng tín, hiểu theo nghĩa tốt nhấtcủa từ đó” (câu này Mác dẫn lại của các nhà văn Pháp đáng kính khi viết vềnhững Hội liên hiệp công nhân quốc tế trong Nội chiến ở Pháp 1871) Năm
1889 khi thành lập quốc tế 2 Ăngghen bổ sung thêm, những đảng viên củaquôc tế 2 phải là những người “thừa nhận đấu tranh chính trị” Đó là nhữngqui định của Mác - Ăngghen để phân biệt những đảng viên cộng sản vớingười ngoài đảng trong giai cấp công nhân Còn đối với các tổ chức kháccủa giai cấp vô sản thì theo Mác - Ăngghen Đảng cộng sản khác các tổchức ấy là đảng cộng sản “coi trọng, bảo vệ lợi ích chung không phân biệtdân tộc, trong các giai đoạn khác nhau luôn đại biểu cho lợi ích toàn bộphong trào” (Tuyên ngôn Đảng cộng sản)
Trang 16- Quan hệ giữa Đảng – dân tộc: một biểu hiện khác của tính chấtđảng là mối quan hệ giữa Đảng và dân tộc Mác - Ăngghen chỉ ra rằngchính đảng cộng sản là người đại biểu cho lợi ích của đại đa số nhân dânlao động và cả dân tộc Ngay trong các tác phẩm đầu tiên như Bản thảokinh tế – triết học 1844 Mác đã thấy sự cần thiết phải có cuộc đấu tranhcách mạng của quần chúng lao động rộng rãi và coi đây là phương tiện đểthực hiện cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa Còn Ăngghen trong “tìnhcảnh giai cấp công nhân Anh” năm 1845 thì cho rằng giai cấp công nhân
“họ cấu thành một giai cấp độc lập với những lợi ích và nguyên tắc riêngcủa mình và một thế giới quan riêng, một giai cấp đối lập với tất cả các giaicấp có của và đồng thời là một giai cấp trên đó xây dựng toàn bộ sức mạnhcủa dân tộc và năng lực phát triển hơn nữa của dân tộc” (tiểu sử Ăngghentập 1 trang 118 – 119) Chính vì vậy đến “gia đình thần thánh” 1845 thốngnhất quan điểm rằng giai cấp vô sản giải phóng đối với các giai cấp khác,lợi ích giai cấp vô sản hoà làm một với lợi ích quần chúng nhân dân (tiểu
sử Mác tập 1 trang 145) Điều đó được lý giải rất kỹ trong tuyên ngôn Đảngcộng sản 1848 rằng: về mặt kinh tế: giai cấp vô sản là sản phẩm của đạicông nghiệp, là giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới phù hợpvới tiến trình phát triển của lịch sử, phủ hợp với sự phát triển của lực lượngsản xuất, “Những người vô sản chỉ có thể chiếm đượýỷlực lượng ú¯n xuất
xã hội bằng cách xóa bỏ phương thức chiếm hữu hiện nay của chính mình
và do đấy xoá bỏ toàn bộ phương thức chiếm hữu đã tồn tại từ tũơớc cho
đến nay” (Mác - Ăngghe^ Tuyển tậð!tập 1 1962 trang ú4) Về chính trị xã
hội , 2 ông chỉ ra rằng “ohế độ tư hữu hiện thôi, chế độ sở hữu tư sđn là
biểu hiện cuối cùng ử´ hoàn bộ nhất của ðiương thức ú¯n xuất ử´ chiếmhữu dựa trên đốo kháng ỗhai cấp, trên sự bóc lột của người này đối vớingười khác” (sxch đã dẫn trang ÿŒĂẵ á⺠œƠ…
Ơ Œ)à ỉư₡èạº °ế₡ðkýỷgiai cấp bị áp bức cuối cùng, do đó giai cấp vô sản
“không còn có thể tự giải phóng khỏi tay giai cấp bóc lột (tức giai cấp tưsản) được nữa nếu không đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hộikhỏi ách bóc lột, ách áp bức và khỏi những cuộc đấu tranh giai cấp” (TheoĂngghen tư tưởng này là mỏ Mác từ năm 1845) Về mặt phòng trào: thì từ