Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và nhu cầu sử dụng Y học cổ truyền điều trị bệnh cơ xƣơng khớp tại nhà của ngƣời bệnh ở một số cơ sở y tế, thành phố Vinh tỉnh Nghệ An” với hai mục tiêu sau đây: 1. Mô tả thực trạng người bệnh cơ xương khớp điều trị tại 3 khoa Y học cổ truyền của 3 bệnh viện ở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An thời gian từ năm 2018 đến năm 2020. 2. Xác định nhu cầu sử dụng y học cổ truyền tại nhà của người bệnh cơ xương khớp điều trị tại 3 khoa Y học cổ truyền của 3 bệnh viện ở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2021.
Trang 1HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
ĐẶNG THỊ HƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG Y HỌC CỔ TRUYỀN ĐIỀU TRỊ BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP TẠI NHÀ CỦA NGƯỜI BỆNH Ở MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ,
THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
ĐẶNG THỊ HƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG Y HỌC CỔ TRUYỀN ĐIỀU TRỊ BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP TẠI NHÀ CỦA NGƯỜI BỆNH Ở MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ, THÀNH PHỐ VINH TỈNH
Trang 3Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được gửi lời cảm ơn đến Đảng uỷ, Ban giám đốc, Phòng đào tạo sau đại học đã tạo mọi thuận lợi giúp đỡ em
hoàn thành luận văn này
Em xin cảm ơn đến lãnh đạo Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh, Bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An và Bệnh viện đa khoa TTH Vinh cùng toàn thể cán bộ nhân viên phòng kế hoạch tổng hợp, khoa YHCT đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người cô PGS.TS Trần Thị Hồng
Phương, người hướng dẫn trực tiếp luôn theo sát, chỉ bảo tận tình và thường xuyên giúp đỡ cho em những ý kiến quý báu, sát thực trong quá trình học tập và nghiên
cứu để hoàn thành luận văn này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô trong hội đồng góp ý chỉnh sửa cho luận văn của em được hoàn thiện nhất
Cuối cùng cho phép em bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình
và bạn bè đã luôn quan tâm, chia sẻ, khích lệ, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua Luận văn hoàn thành có nhiều tâm huyết của người viết, song vẫn không thể tránh khỏi sai sót, kính mong sự chỉ dẫn và góp ý chân thành của quý thầy cô, anh chị em bạn bè đồng nghiệp để nghiên cứu này được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả
Đặng Thị Hương
Trang 4truyền Việt Nam, chuyên ngành Y học cổ truyền, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân em trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Hồng Phương
2 Công trình này không trùng lặp với bất kì nghiên cứu nào khác được công
bố tại Việt Nam
3 Các số liệu, thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nghiên cứu
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Học viên
Đặng Thị Hương
Trang 5Lời cảm ơn
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP 3
1.1.1 Tình hình mắc bệnh cơ xương khớp trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình mắc bệnh cơ xương khớp tại Việt Nam 4
1.2 NHU CẦU SỬ DỤNG Y HỌC CỔ TRUYỀN TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP 5
1.2.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 5
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 7
1.3 TỔNG QUAN BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 9
1.3.1 Định nghĩa bệnh cơ xương khớp 9
1.3.2 Phân loại bệnh cơ xương khớp theo ICD-10 10
1.3.3 Điều trị .11
1.3.3.1 Điều trị nội khoa 11
Trang 61.4 TỔNG QUAN BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN.12
1.4.1 Phân loại chứng bệnh cơ xương khớp theo YHCT 12
1.4.2 Phân loại thể bệnh cơ xương khớp 14
1.4.2.1 Phong hàn thấp tý 14
1.4.2.2 Phong thấp nhiệt tý 14
1.4.2.3 Huyết ứ 15
1.4.2.4 Can thận hư kết hợp với phong hàn thấp 15
1.4.3 Điều trị 15
1.4.3.1 Phương pháp dùng thuốc 15
1.4.3.2 Phương pháp không dùng thuốc 16
1.4.3.3 Một số nghiên cứu về hiệu quả điều trị bệnh lý cơ xương khớp bằng Y học cổ truyền 18
1.5 Y HỌC GIA ĐÌNH 20
1.5.1 Định nghĩa về Y học gia đình 20
1.5.2 Các nguyên lý cơ bản của Y học gia đình 21
1.5.3 Chức năng của bác sĩ y học gia đình 21
1.5.4 Vị trí, chức năng và nhiệm vụ của YHGĐ 22
1.5.5 Những chuyên môn kỹ thuật YHCT có thể thực hiện tại nhà 23
Trang 71.6.2 Thành phố Vinh 24
1.6.3 Bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An 25
1.6.4 Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh 26
1.6.5 Bệnh viện đa khoa TTH Vinh 26
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 27
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 28
2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 28
2.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 29
2.4 CỠ MẪU 29
2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.5.1 Thiết kế nghiên cứu 29
2.5.2 Phương pháp tiến hành 29
2.6 CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 31
2.7 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 35
2.8 CÁC LOẠI SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC SAI SỐ 35
Trang 83.1 THỰC TRẠNG NGƯỜI BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP 37
3.1.1 Một số thông tin chung của người bệnh 37
3.1.2 Đặc điểm người bệnh cơ xương khớp 42
3.1.3 Thực trạng điều trị người bệnh cơ xương khớp 54
3.2 NHU CẦU SỬ DỤNG Y HỌC CỔ TRUYỀN TẠI NHÀ CỦA NGƯỜI BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP 62
3.2.1 Nhu cầu sử dụng YHCT tại nhà của người bệnh cơ xương khớp 62
3.2.2 Đồng ý chi trả chi phí dịch vụ YHCT tại nhà 68
3.2.3 Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng YHCT tại nhà với các đặc điểm của người bệnh 69
3.2.4 Mối liên quan giữa đồng ý chi trả chi phí sử dụng dịch vụ YHCT tại nhà với các đặc điểm của người bệnh 70
Chương 4: BÀN LUẬN 72
4.1 THỰC TRẠNG NGƯỜI BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP 72
4.1.1 Một số thông tin chung của người bệnh 72
4.1.2 Đặc điểm người bệnh cơ xương khớp và điều trị 73
4.1.2.1 Đặc điểm người bệnh cơ xương khớp theo YHHĐ 73
4.1.2.2 Đặc điểm người bệnh cơ xương khớp theo YHCT 78
Trang 9BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP 82
4.2.1 Nhu cầu sử dụng YHCT tại nhà của người bệnh cơ xương khớp 82
4.2.2 Đồng ý chi trả chi phí dịch vụ YHCT tại nhà 86 4.2.3 Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng YHCT tại nhà và đồng ý chi trả chi
phí dịch vụ với các đặc điểm của người bệnh 86
4.2.3.1 Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng YHCT tại nhà với các đặc điểm
của người bệnh 86
4.2.3.2 Mối liên quan giữa đồng ý chi trả chi phí sử dụng dịch vụ YHCT tại nhà
với các đặc điểm của người bệnh 87
Chương 5: KẾT LUẬN 89 5.1 THỰC TRẠNG NGƯỜI BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP 89
5.2 NHU CẦU SỬ DỤNG Y HỌC CỔ TRUYỀN TẠI NHÀ CỦA NGƯỜI
BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP 90
KHUYẾN NGHỊ 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10BKLN Bệnh không lây nhiễm
CSSK Chăm sóc sức khỏe
DALY Disability Adjusted Life Years
(Số năm sống đƣợc điều chỉnh theo mức độ tàn tật)
OR Odds Ratio (Tỷ suất chênh)
TCAM Complementary and Alternative Medicine
(Thuốc bổ sung và thay thế)
WHO World Health Organization
Trang 11Bảng 3.1 Tuổi của người bệnh 39
Bảng 3.2 Nghề nghiệp của người bệnh 40
Bảng 3.3 Phân bố bệnh cơ xương khớp theo YHHĐ (ICD-10) 42
Bảng 3.4 Phân bố bệnh cơ xương khớp (YHHĐ) theo nhóm tuổi 43
Bảng 3.5 Phân bố bệnh cơ xương khớp (YHHĐ) theo giới tính 45
Bảng 3.6 Phân bố bệnh cơ xương khớp theo YHCT 47
Bảng 3.7 Phân bố bệnh cơ xương khớp (YHCT) theo nhóm tuổi 48
Bảng 3.8 Phân bố bệnh cơ xương khớp (YHCT) theo giới tính 49
Bảng 3.9 Phân bố các bệnh đồng mắc được điều trị kèm theo với nhóm cơ xương khớp 50
Bảng 3.10 Lý do vào viện của người bệnh 51
Bảng 3.11 Kết quả X quang hỗ trợ chẩn đoán bệnh cơ xương khớp 52
Bảng 3.12 Kết quả hóa sinh hỗ trợ chẩn đoán bệnh cơ xương khớp 53
Bảng 3.13 Hình thức sử dụng thuốc YHCT điều trị bệnh cơ xương khớp 58
Bảng 3.14 Các phương pháp không dùng thuốc YHCT được sử dụng điều trị bệnh cơ xương khớp 59
Bảng 3.15 Thời gian điều trị trung bình theo phương pháp điều trị 60
Bảng 3.16 Kết quả điều trị của người bệnh cơ xương khớp tại bệnh viện 61
Bảng 3.17 Nhu cầu sử dụng phương pháp điều trị tại nhà 65
Trang 12Bảng 3.19 Trình độ người cung cấp dịch vụ mà người bệnh mong muốn 67
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng với các đặc điểm của người
bệnh 69
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa đồng ý chi trả chi phí với các đặc điểm của
người bệnh 70
Trang 13Biểu đồ 3.1 Giới tính của người bệnh 37
Biểu đồ 3.2 Địa chỉ của người bệnh 38
Biểu đồ 3.3 Dân tộc của người bệnh 41
Biểu đồ 3.4 Phương pháp điều trị bệnh cơ xương khớp 54
Biểu đồ 3.5 Phương pháp điều trị dùng thuốc 55
Biểu đồ 3.6 Phương pháp điều trị không dùng thuốc 56
Biểu đồ 3.7 Thực trạng điều trị bằng phương pháp YHCT kết hợp YHHĐ 57
Biểu đồ 3.8 Các phương pháp không dùng thuốc YHHĐ được sử dụng điều trị bệnh cơ xương khớp 60
Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu dùng YHCT điều trị bệnh cơ xương khớp tại gia đình 62
Biểu đồ 3.10 Lý do người bệnh có nhu cầu dùng YHCT điều trị bệnh cơ xương khớp tại nhà 63
Biểu đồ 3.11 Lý do người bệnh không có nhu cầu dùng YHCT điều trị bệnh cơ xương khớp tại nhà 64
Biểu đồ 3.12 Nhu cầu sử dụng các phương pháp không dùng thuốc YHCT tại nhà 65
Biều đồ 3.13 Nhu cầu sử dụng thuốc YHCT tại nhà 66
Biểu đồ 3.14 Phân bố sự đồng ý chi trả dịch vụ điều trị YHCT tại nhà 68
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Mô hình bệnh tật đang có xu hướng dịch chuyển dần về phía nhóm bệnh không lây nhiễm (BKLN), trong đó bệnh lý cơ xương khớp là một trong những bệnh lý chiếm tỷ lệ lớn trong dân chúng Hiện nay, cùng với sự gia tăng tuổi thọ trung bình của người Việt Nam thì tỷ lệ mắc các bệnh cơ xương khớp cũng dần phổ biến hơn
Cơ xương khớp là nhóm bệnh rất thường gặp và đang gia tăng nhanh chiếm trên 33% dân số chung và trên 54% dân số trưởng thành, gây đau đớn kéo dài cho hàng trăm triệu người, gây tàn phế, gắn liền với nghỉ việc, giảm năng suất lao động, hạn chế các hoạt động hằng ngày và làm giảm chất lượng sống của con người [1] Theo Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế 2016 bệnh cơ xương khớp chủ yếu gây ra gánh nặng do khuyết tật Tính đến năm 2015 chỉ số năm sống mất đi do bệnh lý cơ xương khớp (DALY – Disability Adjusted Life Year) là 8% trên tổng số DALY của người cao tuổi mặc dù nó chỉ gây ra tỷ lệ tử vong dưới 1% ở người cao tuổi Năm
2009 có tới 22% đối với nam và 29% đối với nữ ở người cao tuổi tự đánh giá có khó khăn về vận động [2]
Theo thống kê năm 2012 của tác giả Yoshihito Sakai khoảng 80% dân số từng đau thắt lưng ít nhất một lần trong đời, tỷ lệ đau thắt lưng trên thế giới lên tới 65 triệu người mỗi năm; khoảng 17% người trên 60 tuổi mắc bệnh đau lưng và con số này là 30% ở các bệnh nhân tuổi từ 20 – 55 tuổi [3] Các kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ riêng ở Mỹ, hằng năm có 21 triệu người mắc bệnh thoái hóa khớp [4] Cũng tại Mỹ mỗi năm có khoảng 1,5 triệu ca gãy xương có liên quan đến loãng xương [5] Tần suất mắc bệnh xương khớp ở nước ta là 47,6% ở người trên 60 tuổi [6] Tại Bệnh viện Bạch Mai (số liệu thống kê năm 2012), tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý xương khớp chiếm tới 10,4% tổng lượt khám hằng năm [7] Theo khảo sát
mô hình bệnh tật tại khoa Nội Cơ Xương Khớp Bệnh viện Thống Nhất năm
2012-2013 cho thấy: Cơ cấu bệnh tật của khoa Nội Cơ Xương Khớp gồm thoái hóa khớp, loãng xương, gout, viêm khớp nhiễm khuẩn là thường gặp nhất [8]
Trang 15Y học hiện đại (YHHĐ) có nhiều phương pháp điều trị bao gồm dùng thuốc và không dùng thuốc, tuy nhiên mỗi phương pháp điều trị có những ưu và nhược điểm riêng biệt Trong những năm gần đây, theo đường lối phát triển về Y học cổ truyền (YHCT) của Đảng và Chính phủ, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra YHCT có giá trị đặc biệt trong hỗ trợ điều trị một số bệnh cơ xương khớp [9] Điều trị các bệnh cơ xương khớp bằng YHCT cũng đã được chứng minh là có tính an toàn và làm giảm nguy cơ các biến chứng [10],[11]
Bệnh lý cơ xương khớp ngoài liên quan đến vấn đề tuổi tác thì yếu tố nghề nghiệp, thói quen sinh hoạt cũng góp phần không nhỏ trong quá trình hình thành nên bệnh, do đó bệnh lý cơ xương khớp có thể gặp ở mọi lứa tuổi Đa phần các bệnh lý cơ xương khớp là bệnh mạn tính, điều trị kéo dài, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa bệnh nhân và bác sĩ Nhưng với tâm lý “ngại” đi bệnh viện để điều trị bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau nên người bệnh có xu hướng tìm đến các dịch vụ Y học gia đình (YHGĐ) Chúng tôi nhận thấy việc sử dụng dịch vụ y học cổ truyền tại gia đình trong điều trị bệnh nói chung và bệnh cơ xương khớp nói riêng
có thể xem là một hướng phát triển mới của y học cổ truyền và chưa có nghiên cứu nào đánh giá về vấn đề này
Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và nhu cầu sử dụng Y học cổ truyền điều trị bệnh cơ xương khớp tại nhà của người bệnh ở một số cơ sở y tế, thành phố Vinh tỉnh Nghệ An” với hai mục
tiêu sau đây:
1 Mô tả thực trạng người bệnh cơ xương khớp điều trị tại 3 khoa Y học cổ truyền của 3 bệnh viện ở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An thời gian từ năm
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP
1.1.1 Tình hình mắc bệnh cơ xương khớp trên thế giới
Tổ chức Y tế Thế giới và Liên hợp quốc đã đồng đề xướng lấy 20 năm đầu tiên
của thế kỷ 21 làm Thập niên Xương và Khớp [1], từ đó có thể thấy tốc độ gia tăng nhanh chóng của các bệnh lý cơ xương khớp trên phạm vi toàn cầu
Theo thống kê năm 2012 của tác giả Yoshihito Sakai khoảng 80% dân số từng đau thắt lưng ít nhất một lần trong đời, tỷ lệ đau thắt lưng trên thế giới lên tới 65 triệu người mỗi năm, khoảng 17% người trên 60 tuổi mắc bệnh đau lưng và con số này là 30% ở các bệnh nhân tuổi từ 20 – 55 tuổi [3] Các kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ riêng ở Mỹ, hằng năm có 21 triệu người mắc bệnh thoái hóa khớp, với 4 triệu người phải nằm viện, khoảng 100.000 bệnh nhân không thể đi lại được do thoái hóa khớp gối nặng [4] Ở Pháp, bệnh thoái hóa khớp chiếm khoảng 28,6% trong số các bệnh xương khớp, mỗi năm khoảng 50.000 người được ghép khớp háng nhân tạo [12] Tại các nước châu Âu chi phí trực tiếp cho điều trị thoái hóa khớp khoảng 4.000 USD/bệnh nhân/năm [13] Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, loãng xương là nguyên nhân phổ biến nhất gây gãy xương và chiếm khoảng 1,5 triệu ca gãy xương ở Mỹ mỗi năm Trong tương lai, với sự gia tăng tuổi thọ trung bình, sẽ gia tăng đáng kể tỷ lệ mắc bệnh loãng xương và tỷ lệ gãy xương có liên quan đến loãng xương Đến năm 2020, hơn 14 triệu đối tượng trên 50 tuổi có thể bị ảnh hưởng bởi bệnh loãng xương và 47 triệu người khác có thể có khối lượng xương thấp Hơn nữa, hơn 500.000 ca nhập viện, hơn 2,6 triệu lượt khám bệnh, hơn 800.000 lượt nhập viện cấp cứu và khoảng 180.000 cá nhân được đưa vào viện dưỡng lão được đăng ký hàng năm tại Mỹ, dự đoán sự gia tăng chi phí từ 100% đến 200% vào năm 2040 [5] Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp
Trang 17khoảng 0,5% – 1% dân số một số nước châu Âu và khoảng 0,17% - 0,3% ở các nước châu Á [14] Số liệu cho thấy năm 2011, chi phí cho nhóm bệnh cơ xương khớp đã lên tới 874 tỷ USD, chiếm tới 5,7% GDP của Mỹ, tăng gấp 3,6 lần so với năm 1999, năm cuối cùng của thế kỷ 20 là 225 tỷ USD Các chi phí này đang gia tăng rất nhanh cùng với việc ứng dụng điều trị sinh học Riêng chi phí cho bệnh viêm khớp dạng thấp tại Mỹ đã tăng 7 lần (10 tỷ năm 1999 tăng lên 75 tỷ năm 2011) [1]
1.1.2 Tình hình mắc bệnh cơ xương khớp tại Việt Nam
Mô hình bệnh tật ở mỗi quốc gia là khác nhau do đặc điểm về địa lý, tình hình phát triển, tập quán, văn hóa khác nhau Mô hình bệnh tật nước ta vẫn là mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển, cơ cấu giữa 3 nhóm bệnh lây nhiễm, không lây nhiễm và tai nạn thương tích đã có sự thay đổi nhanh chóng trong vòng hơn 30 năm trở lại đây với sự gia tăng nhanh tỷ trọng của các bệnh không lây nhiễm Sự dịch chuyển các nhóm bệnh thấy rõ nhất từ năm 1976 (bệnh lây nhiễm 55,5% ca mắc; bệnh không lây nhiễm 42,65% ca mắc; tai nạn ngộ độc thương tích 1,84% ca mắc) đến năm 2014 (bệnh lây nhiễm giảm xuống 19,82% ca mắc; bệnh không lây nhiễm tăng lên 67,43% ca mắc; ngộ độc tai nạn thương tích tăng lên 10,15% ca mắc) [15] BKLN là bệnh mạn tính, điều trị kéo dài và cần được nâng cao sức khỏe, đây là tiềm năng phát triển của YHCT
Nhóm bệnh cơ xương khớp tuy ít gây tử vong nhưng lại làm ảnh hưởng đến chức năng vận động, làm giảm hoặc mất khả năng lao động Tần suất mắc bệnh xương khớp ở nước ta là 47,6% ở người trên 60 tuổi [6] Tại Bệnh viện Bạch Mai (số liệu thống kê 2012), tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý xương khớp chiếm tới 10,4% tổng lượt khám hằng năm [7] Theo khảo sát mô hình bệnh tật tại khoa Nội
Cơ Xương Khớp bệnh viện Thống Nhất năm 2012-2013 cho thấy: Cơ cấu bệnh tật của khoa Nội Cơ Xương Khớp gồm thoái hóa khớp, loãng xương, gout, viêm khớp nhiễm khuẩn là thường gặp nhất, thoái hóa khớp cao nhất (57,4%), viêm nhiều khớp (16,4%), bệnh khớp nhiễm khuẩn (10,8%), rối loạn mật độ và cấu trúc xương
Trang 18(10,2%) Bệnh thường gặp là: thoái hóa cột sống và khớp gối chiếm tỷ lệ cao nhất là 33,4% và 19,0% Bệnh gout 11,1% và viêm khớp dạng thấp 3,6% Viêm khớp nhiễm khuẩn 10,8% Loãng xương 10,6% [8] Cũng theo Lưu Thị Bình và Đoàn Anh Thắng (2014), tỷ lệ nhóm bệnh thoái hóa khớp là cao nhất chiếm 55% [16]
Theo Nguyễn Thị Quỳnh Nga (2014) nghiên cứu tại Như Xuân – Thanh Hóa, tỷ
lệ mắc các bệnh liên quan đến cơ xương khớp cũng có tới 49,0% người mắc đau lưng, thoái hóa khớp gối và các khớp cổ tay, cổ chân, bàn chân là 21,7% [6]
Tại cộng đồng theo nghiên cứu tại một số xã tỉnh Hưng Yên năm 2017 tỷ lệ mắc bệnh lý cơ xương khớp là 36,6%, trong đó tỷ lệ mắc ở người trên 60 tuổi là 42,63%, với nhu cầu chăm sóc sức khỏe bằng YHCT là 61,5% Cũng theo nghiên cứu khác tại Thái Nguyên trong tổng số các chứng bệnh người dân đến khám, chữa bệnh bằng YHCT tại trạm y tế, tỷ lệ hay gặp nhất là đau lưng chiếm 57,0%, đau thần kinh tọa chiếm 41,3% và đau vai gáy chiếm 24,0% [17]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tiến năm 2019 tại huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh thì tỷ lệ bệnh cơ xương khớp hay gặp nhất là đau cột sống thắt lưng chiếm 39%; các bệnh về thoái hóa (thoái hóa cột sống, thoái hóa khớp gối, thoái hóa nhiều khớp) lần lượt là 22,8%, 21,3% và 4,1%; đau thần kinh tọa và thoát vị đĩa đệm lần lượt chiếm 9,3% và 7,6% Thấp nhất là viêm cột sống dính khớp, bệnh gout và viêm màng hoạt dịch viêm gân chiếm 1,7% [18]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ánh (2019) nghiên cứu tại bệnh viện
Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương tỷ lệ đau lưng, thoái hóa cột sống là 67,9%, viêm khớp dạng thấp chiếm 8,0%, thoái hóa khớp gối là 5,5% [15]
1.2 NHU CẦU SỬ DỤNG Y HỌC CỔ TRUYỀN TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH
CƠ XƯƠNG KHỚP
1.2.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Trang 19Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân mắc bệnh cơ xương khớp có
xu hướng sử dụng y học cổ truyền/thuốc bổ sung và thay thế cao hơn nhóm không
bị mắc bệnh cơ xương khớp [19],[20],[21], người dùng các loại thuốc YHCT, thuốc
bổ sung và thay thế (TCAM-traditional complementary and altemative medicine) có nhiều khả năng bị một hoặc nhiều bệnh cơ xương khớp, đặc biệt là các bệnh về thần
kinh, cơ xương khớp và rối loạn chuyển hóa
Theo nghiên cứu của tác giả Karl và cộng sự về việc sử dụng TCAM trên 4799
bệnh nhân có độ tuổi trung bình 52,3 tuổi mắc bệnh cơ xương khớp ở ba nước
Campuchia, Việt Nam và Thái Lan đã cho thấy: tỷ lệ người bệnh đã sử dụng TCAM trong vòng 1 năm qua là 26,0% trong đó cao nhất ở Campuchia (27,0%), tiếp đến là Thái Lan (26,3%) và Việt Nam (23,9%) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân có tuổi cao hơn, sống ở nông thôn và mắc từ hai bệnh cơ xương khớp trở lên
có xu hướng sử dụng TCAM cao hơn các nhóm tương ứng còn lại [22]
Kết quả một số nghiên cứu khác tại các nước vùng hạ lưu sông Mê Kông cũng cho thấy tỷ lệ cao người bệnh sử dụng TCAM để điều trị các bệnh cơ xương khớp khác nhau như ung thư, tiểu đường, cao huyết áp, hen suyễn và rối loạn tâm thần
Ví dụ, tỉ lệ sử dụng thuốc bổ sung và thay thế chiếm trên 60% trong số bệnh nhân ung thư [23],[24], 47,8% bệnh nhân tiểu đường ở Thái Lan, 45% bệnh nhân bệnh thận cơ xương khớp [25] và 76,9% bệnh nhân bị tâm thần phân liệt ở Campuchia [26] Tác giả Lee và cộng sự ước tính có khoảng 22,7% bệnh nhân mắc bệnh cơ xương khớp ở phòng khám đa khoa của Singapore sử dụng TCAM trong vòng 1 năm [27] Hasan và cộng sự đã cho thấy 63,9% sử dụng thuốc bổ sung và thay thế trong năm qua ở những bệnh nhân mắc bệnh cơ xương khớp ở Malaysia [28] Wazaify và cộng sự cho thấy có khoảng 11,6% bệnh nhân mắc bệnh cơ xương khớp tại Jordan sử dụng thuốc bổ sung và thay thế [29]
Tại Trung Quốc, theo số liệu giám sát quốc gia về dịch vụ y học cổ truyền Trung Quốc cho thấy 5 loại bệnh đứng đầu trong những bệnh được các bệnh viện y học cổ truyền tiếp nhận điều trị năm 2008 gồm: tai biến mạch máu não, thoát vị đĩa
Trang 20đệm cột sống thắt lưng, trĩ, bệnh tim thiếu máu cục bộ và tăng huyết áp nguyên phát [30] Các số liệu thống kê cũng cho thấy bệnh nhân mắc bệnh cơ xương khớp ở Trung Quốc có xu hướng điều trị tại bệnh viện y học cổ truyền hoặc khoa y học cổ truyền tại bệnh viện đa khoa [11] Tại Hàn Quốc, kết quả báo cáo chỉ ra rằng những bệnh hàng đầu được các bệnh viện y học cổ truyền Hàn Quốc nhận chữa trị năm
2011 gồm các rối loạn về hệ xương, khớp và cơ Ở Pháp, bệnh nhân bị rối loạn xương-khớp (phần lớn là đau lưng và viêm xương khớp) tìm đến các bác sĩ điều trị bằng liệu pháp thay thế nhiều hơn là đến bác sĩ y học chính thống Tại Thổ Nhĩ Kỳ,
cơ-tỷ lệ bệnh nhân bị bệnh xơ cứng tìm đến các phương pháp điều trị theo y học bổ sung và thay thế (CAM-Complementary and Alternative Medicine): tỷ lệ sử dụng phổ biến chiếm 41%, ở Canada là 70% và ở Australia là 82% [31]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Mehta và cộng sự (2007) ở nhóm người Mỹ gốc Á cho thấy người mắc bệnh cơ xương khớp có xu hướng sử dụng thuốc bổ sung
và thay thế cao hơn 1,26 lần (95% CI: 1,20-1,32) và 1,29 lần (95% CI: 1,00-1,65) theo thứ tự so với nhóm không mắc bệnh cơ xương khớp [20]
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Theo tìm hiểu của tác giả, hầu hết các nghiên cứu về sử dụng y học cổ truyền tại Việt Nam đề cập đến nhu cầu và thực trạng sử dụng y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe nói chung mà rất ít các nghiên cứu phân tích cụ thể trong điều trị các bệnh
cơ xương khớp Nhu cầu và thực trạng sử dụng y học cổ truyền đối với các bệnh cơ
xương khớp thường nằm trong các nội dung khác của nghiên cứu
Nghiên cứu của tác giả Lê Xuân Đức và cộng sự năm 2013 về mô hình bệnh tật
và nhu cầu khám chữa bệnh của người dân đến điều trị tại bệnh viện huyện Phú Vang cho thấy tỷ lệ mắc bệnh của người dân rất cao, đa dạng và phức tạp Các bệnh thường gặp và có tỷ lệ lớn thuộc nhóm bệnh xương khớp (17,2%), hệ tim mạch (16,9%), hệ tiêu hóa (16,4%), nhóm rối loạn chuyển hóa (14,3%), hệ hô hấp (8,8%)
Trang 21Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có 15,4% người dân mong muốn được sử dụng phương pháp y học cổ truyền để điều trị bệnh [32]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Nga năm 2014 về tình hình bệnh tật và thực trạng khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền của huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa cho thấy trong 6 tháng trước khi điều tra đối tượng nghiên cứu mắc các bệnh về cơ xương khớp chiếm tỷ lệ nhiều nhất (36,4%) trong đó phổ biến là đau lưng, đau các khớp gối, cổ chân, bàn chân, cổ tay, bàn tay, đau vai gáy Kết quả cũng đã chỉ ra rằng có 58,3% người dân mong muốn sử dụng thuốc y học
cổ truyền để chữa bệnh và nâng cao sức khỏe, trong đó phương pháp y học cổ truyền đơn thuần chiếm 37,7% và kết hợp hai phương pháp y học cổ truyền và y học hiện đại là 21,2% [6]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trung Kiên (2014) về thực trạng y học cổ truyền tại tuyến xã huyện can Lộc tỉnh Hà Tĩnh cho kết quả thấy trong số 302 người phải điều trị thì tỷ lệ các bệnh về cơ xương khớp chiếm cao nhất (30,1%), tiếp đến
là các bệnh về hô hấp (22,2%), các bệnh về thần kinh (17,5%), v.v Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trừ bệnh hô hấp (26,9%), tỷ lệ sử dụng thuốc YHCT để điều trị các bệnh còn lại khá cao với tỷ lệ dao động từ 97,8%-100,0% Trong số các lý do người dân đưa ra về việc lựa chọn thuốc y học cổ truyền, có 48,0% cho rằng do bệnh cơ xương khớp [33]
Cũng trong năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Thu Trang thực hiện đề tài nghiên cứu thực trạng khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa Kết quả cho thấy, trong số 869 người bị mắc bệnh trong vòng 6 tháng tính từ thời điểm điều tra thì tỷ lệ mắc các bệnh cơ xương khớp cũng chiếm tỉ lệ cao nhất (27,2%) Cũng theo nghiên cứu này, 36,1% người dân mong muốn sử dụng thuốc y học cổ truyền để điều trị bệnh và bồi bổ sức khỏe [34]
Nghiên cứu của tác giả Hồ Duy Thương năm 2015 về nhu cầu và thực trạng sử dụng thuốc y học cổ truyền của người dân tại 4 xã huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh
Trang 22cho thấy có 17,4% trong số 723 người có điều trị bệnh trong 6 tháng qua là điều trị các bệnh cơ xương khớp, 6,2% điều trị các bệnh về thần kinh Nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng, tỷ lệ khá cao người dân sử dụng thuốc y học cổ truyền để điều trị các bệnh
về hô hấp, cơ xương khớp, thần kinh, suy nhược cơ thể và các chứng đau (dao động
từ 61,7% đến 83,0%) Lý do chính người dân lựa chọn thuốc y học cổ truyền để điều trị là do bệnh cơ xương khớp (75,8%) [35]
Theo một nghiên cứu năm 2017 tại Thanh Hóa có 96,4% người bệnh thấp khớp, 97,2% thoái hóa khớp, đau vai gáy do thoái hóa cột sống cổ chiếm 97,5%, viêm quanh khớp vai 100,0% trường hợp có sử dụng thuốc YHCT [36] Tại Hưng Yên nhu cầu sử dụng YHCT trong CSSK người bệnh cơ xương khớp tại 3 huyện Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ có tỷ lệ chung là 61,5%, cao nhất ở huyện Văn Giang
là 83,9% [37]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Tiến năm 2019 về nhu cầu
sử dụng y học cổ truyền điều trị bệnh lý cơ xương khớp tại huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh cũng chỉ ra rằng tỷ lệ người dân muốn sử dụng y học cổ truyền trong điều trị bệnh cơ xương khớp chiếm 73,9% [18]
1.3 TỔNG QUAN BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.3.1 Định nghĩa bệnh cơ xương khớp
Bệnh cơ xương khớp là một khái niệm chung dùng để chỉ những bệnh liên quan
đến hệ xương và các khớp, bệnh cơ xương khớp có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên bệnh hay xảy ra ở người cao tuổi, khi mà tất cả các chức năng cơ thể dần bị thoái hóa và xương khớp cũng không ngoại lệ Từ tuổi 30 trở về trước cơ thể sẽ sản sinh
ra lượng tế bào xương dồi dào nhất và vì thế bộ xương sẽ ít có nguy cơ bị giòn, yếu hay gặp phải những tổn thương Tuy nhiên, sau độ tuổi 30 mọi thứ sẽ thay đổi, các
tế bào xương sẽ dần bị mất đi đồng nghĩa rằng sức khỏe của bộ xương sẽ bị giảm sút Những người dễ có nguy cơ bị tấn công bởi bệnh xương khớp như tuổi tác cao,
Trang 23giới tính, do gen di truyền, những người nghiện rượu, mắc các bệnh lý liên quan đến ung thư, tiểu đường, thận, khớp, gout, chế độ ăn uống và sinh hoạt nghèo nàn [38]
1.3.2 Phân loại bệnh cơ xương khớp theo ICD-10
Bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ X đã được triển khai xây dựng từ tháng
9 năm 1983 và chính thức xuất bản năm 1992 [39]
Toàn bộ danh mục của ICD-10 được xếp thành 21 chương bệnh , ký hiệu từ I đến XXI theo các nhóm bệnh
Nhóm bệnh lý cơ xương khớp, mô liên kết chủ yếu nằm trong chương XIII được phân loại theo nhiều nguyên nhân khác nhau như: Bệnh khớp do viêm, bệnh khớp không do viêm, bệnh khớp sau chấn thương, bệnh khớp do nguyên nhân ngoài khớp, thấp ngoài khớp
Sau đây là một số mã bệnh cho bệnh lý cơ xương khớp, mô liên kết thường gặp theo ICD-10 [39]
Trang 24Thoái hóa đa khớp M15
Loãng xương không kèm gãy xương bệnh lý M81
1.3.3 Điều trị
1.3.3.1 Điều trị nội khoa
Nhóm thuốc điều trị triệu chứng:
+ Thuốc giảm đau
+ Thuốc giãn cơ
+ Các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs)
+ Corticosteroids
+ Thuốc giảm đau thần kinh
Thuốc chống thoái hóa tác dụng chậm
Điều trị cơ bản bằng các thuốc chống thấp làm thay đổi tiến triển của bệnh (DMARDs)
Các thuốc sinh học (DMARDs sinh học)
Thuốc giảm acid uric máu:
+ Nhóm thuốc ức chế tổng hợp acid uric
+ Nhóm thuốc tăng thải acid uric
Huyết tương giàu tiểu cầu tự thân (PRP)
Cấy ghép tế bào gốc
Các thuốc chống hủy xương
Trang 25+ Nhóm Bisphosphonat
+ Calcitonin
+ Liệu pháp sử dụng các chất giống hormon.[40]
1.3.3.2 Điều trị ngoại khoa
Các thủ thuật can thiệp xâm lấn tối thiểu: sử dụng sóng cao tần (tạo hình
+ Thay khớp nhân tạo, thay đĩa đệm nhân tạo
+ Phẫu thuật lấy nhân đệm
+ Phẫu thuật cắt cung sau đốt sống
+ Tạo hình đốt sống (bơm xi măng vào thân đốt sống, thay đốt sống nhân tạo, )
+ Phẫu thuật nối gân bị đứt, phẫu thuật cắt bỏ hạt tophi.[40]
1.3.3.3 Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng
Sử dụng các phương pháp như siêu âm, hồng ngoại, chườm nóng, liệu pháp suối
khoáng, bùn nóng, xoa bóp, kéo nắn, paraphin, điện xung có hiệu quả cao.[40]
1.4 TỔNG QUAN BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP THEO Y HỌC CỔ
TRUYỀN
1.4.1 Phân loại chứng bệnh cơ xương khớp theo Y học cổ truyền
Y học cổ truyền không phân chia bệnh tật thành từng bệnh riêng rẽ mà qua tứ
chẩn, bát cương quy nạp các triệu chứng thành các chứng hay hội chứng bệnh
Trang 26Năm 2018, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 7603/QĐ-BYT về việc ban hành
bộ mã danh mục dùng chung áp dụng trong quản lý khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế (phiên bản số 6) [41]
Sau đây là một số chứng bệnh cơ xương khớp theo YHCT liên hệ với YHHĐ và ICD-10
ICD
Mã YHCT
Hạc tất
phong
Cốt tý Loãng xương không kèm gãy xương bệnh lý M81 U62.251 Thống
phong
Trang 27Kiên thống Viêm quanh khớp vai M75.0 U62.182
1.4.2 Phân loại thể bệnh cơ xương khớp
1.4.2.1 Phong hàn thấp tý
Phong tý hay hành tý: Do phong là chính
+ Triệu chứng: Đau di chuyển các khớp, đau nhiều khớp, sợ gió, rêu lưỡi trắng, mạch phù
+ Phương pháp chữa: Khu phong là chính, tán hàn trừ thấp là phụ, hoạt huyết, hành khí
Thấp tý hay trước tý (trước: kéo xuống, co rút xuống)
+ Triệu chứng: Các khớp nhức mỏi, đau một chỗ, tê bì, đau các cơ, vận động khó, miệng nhạt, rêu lưỡi trắng dính, mạch nhu hoãn
+ Phương pháp chữa: Trừ thấp là chính, tán hàn khu phong là phụ, hành khí hoạt huyết.[42]
1.4.2.2 Phong thấp nhiệt tý
+ Triệu chứng: Các khớp sưng nóng đỏ đau, cự án, ngày nhẹ đêm nặng, co duỗi
cử động khó khăn, sốt ra mồ hôi, sợ gió, rêu lưỡi vàng mỏng, chất lưỡi đỏ, nước tiểu vàng, mạch hoạt sác
Trang 28+ Phương pháp chữa: Khu phong, thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết, lợi niệu trừ thấp (thanh nhiệt, khu phong hóa thấp).[42]
1.4.2.3 Huyết ứ
+ Triệu chứng: Sau khi mang vác nặng hoặc một động tác thay đổi tư thế đột ngột
bị đau, đau cố định một chỗ, vận động hạn chế, nhiều khi không cúi, đi lại được, cơ
co cứng, chất lưỡi tím tối hoặc có ban ứ, mạch sáp
+ Phương pháp chữa: Hoạt huyết hóa ứ, thư cân hoạt lạc.[42]
1.4.2.4 Can thận hư kết hợp với phong hàn thấp
+ Triệu chứng: Đau mỏi các khớp là chính, thường không có điểm đau rõ ràng,
đau lâu ngày, hay tái phát, nghỉ ngơi thì giảm, khó nhọc đau tăng, kèm theo ngủ ít, ù tai, nước tiểu trong, lưng gối mỏi đau, tiểu tiện nhiều lần, mạch trầm tế
+ Phương pháp chữa: Bổ can thận, khu phong trừ thấp, tán hàn.[42]
1.4.3 Điều trị
YHCT sử dụng hai phương pháp chính trong điều trị chứng tý là phương pháp
dùng thuốc và phương pháp không dùng thuốc
1.4.3.1 Phương pháp dùng thuốc
Thể phong hàn thấp tý
+ Phong tý hay hành tý: Dùng phương: Phòng phong thang gia giảm
+ Hàn tý hay thống tý: Dùng phương: Ô đầu thang gia giảm
+ Thấp tý hay trước tý: Dùng phương: Ý dĩ nhân thang gia giảm
Thể phong thấp nhiệt tý
Dùng phương: Bạch hổ quế chi thang gia vị
Quế chi thược dược tri mẫu thang gia vị
Trang 29 Thể huyết ứ
Dùng phương: Thân thống trục ứ thang gia giảm
Thể can thận hư kết hợp với phong hàn thấp
Dùng phương: Độc hoạt ký sinh thang gia giảm
Tam tý thang gia giảm [42]
1.4.3.2 Phương pháp không dùng thuốc
Xoa bóp bấm huyệt
YHHĐ, xoa bóp bấm huyệt (XBBH) là một kích thích vật lý tác động tại chỗ vào da, cơ, thần kinh, mạch máu Ngoài tác dụng tại chỗ là giảm đau, giãn cơ, tăng cường dinh dưỡng và lưu thông tuần hoàn thì XBBH còn có tác dụng toàn thân thông qua cơ chế thần kinh thể dịch [43],[44] Đây là phương pháp sử dụng bàn tay
và ngón tay tác động lực lên các huyệt và kinh lạc thích hợp với mục tiêu điều hòa dinh vệ khí huyết, thông kinh hoạt lạc, nâng cao chức năng tạng phủ để chữa khỏi bệnh tật Ở Việt Nam, XBBH được nhắc đến rất sớm như một phương pháp điều trị hiệu quả trong nhiều y thư nổi tiếng như “Hồng nghĩa giác tư y thư” của Tuệ Tĩnh,
“Vệ sinh yếu quyết”, “Hải Thượng Y tông tâm lĩnh” của Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác Hiện nay phương pháp này đã được nhiều nghiên cứu chứng minh có hiệu quả rõ rệt trong điều trị nhiều loại bệnh trong đó có các bệnh thuộc hệ thần kinh cơ xương khớp (đau thần kinh tọa, viêm quanh khớp vai, đau vai gáy ) Đây
là phương pháp điều trị không xâm lấn an toàn và được ưa chuộng bởi cảm giác thoải mái ngay lần trị liệu đầu tiên [43],[44]
Châm cứu
Theo lý luận YHCT: “Bất thông tắc thống” cho nên khi tà khí xâm phạm vào kinh lạc khiến khí huyết tắc trở mà gây đau Châm cứu các huyệt thuộc các đường kinh bị bệnh sẽ có tác dụng trừ tà khí, thông kinh hoạt lạc, từ đó đem lại tác dụng điều trị chứng tý Theo YHHĐ, học thuyết Utomski và Widenski đã chỉ ra tác dụng
Trang 30của tiết đoạn thần kinh vì huyệt nằm tại nơi đau và tập trung nhiều đầu mút thần kinh, theo cơ chế thể dịch: châm cứu có tác dụng làm tăng tiết beta- endorphin có tác dụng làm tăng ngưỡng chịu đau Ngoài ra châm cứu còn có tác dụng làm giãn cơ giúp tăng cung cấp máu và oxy tại chỗ do đó có tác dụng giảm đau [45]
Cứu ngải
Cứu là đốt ngải khô làm nhỏ mịn hơ lên huyệt nhằm “điều khí” như châm kim
Có hai kỹ thuật cứu là cứu trực tiếp và cứu gián tiếp Cứu trực tiếp là dùng mồi ngải đặt trực tiếp lên mặt da trên huyệt, đốt cháy đỉnh viên ngải và sức nóng sẽ truyền xuống huyệt Cứu gián tiếp là cách dùng mồi ngải đốt cháy để trên một lát gừng hoặc tỏi, hoặc một lớp muối để cứu trên da vùng huyệt, thường dùng để cứu ấm không gây bỏng [46]
Cấy chỉ
Cấy chỉ (còn gọi là chôn chỉ, vùi chỉ, xuyên chỉ hay thắt buộc chỉ) là đưa chỉ tự tiêu vào huyệt của kinh lạc để duy trì sự kích thích lâu dài mà tạo nên tác dụng như châm cứu Bằng các thiết bị đo và kiểm nghiệm sinh hóa hiện đại, việc dùng chỉ catgut cấy vào huyệt vị có tác dụng làm tăng protein, hydratcarbon và tăng chuyển hóa dinh dưỡng của cơ Bên cạnh đó, nhờ sự kích thích ở huyệt vị mà cải thiện tuần hoàn máu cho vùng cấy chỉ hoặc vùng bị liệt của bệnh nhân, đồng thời sợi cơ tăng nhiều tạo thành bó, đối với sợi cơ lỏng lẻo thì kết chặt lại Bên trong lớp cơ còn có thể phát sinh những sợi thần kinh mới [46]
Dưỡng sinh
Theo thuật dưỡng sinh của người xưa, phương pháp dưỡng sinh như sau: có nước bọt không nhổ ra; đi chân không rảo bước; tai không nghe tiếng to và ồn; mắt không nhìn lâu, ngồi không lâu, nằm không nằm đến mệt; mặc ấm khi sắp lạnh, làm mát khi sắp nóng; không để đói quá mới ăn, ăn không quá no; không để khát quá mới uống, không uống quá nhiều Không để nhọc nhằn quá, nhàn nhã quá, không dậy
Trang 31muộn, không để đổ mồ hôi, không để ứa nhiều nước bọt bị thương tổn do nói nhiều không thể nhận biết được ngay, nói nhiều lại ngày sẽ tổn thọ Vậy ta nên giành sự sống bằng cái thiện; ngủ và dậy, sớm tối đều có giờ giấc; ở và sinh sống đều có nền nếp bình hòa, biết phương pháp điều lợi gân cốt, biết thuận thổ nạp để khử tật trừ tà, biết chú trọng việc cho và lấy để tiết chế, tuyên phát, để làm lụng nghỉ ngơi Không cáu giận để giữ gìn âm khí; vui nhẹ nhàng để dưỡng khí Sau đó hãy uống thuốc thảo mộc để bổ cứu những gì đã bị tổn khuyết – rồi hãy uống Kim đan
để định chuyện vô cùng Lý trường sinh đều có cả trong những lời đó [47]
Thủy châm
Thủy châm là một phương pháp chữa bệnh kết hợp đông y và tây y, dựa vào nguyên lý của châm cứu học, lý luận về hoạt động thần kinh và tác dụng của dược vật Dựa vào phương pháp chẩn đoán của Đông y để lấy huyệt theo đường kinh, phối hợp với tác dụng của thuốc tiêm và phong bế liệu pháp, thủy châm có thể làm tăng lên diện tích kích thích, cường độ kích thích và thời gian kích thích trong khi chữa bệnh Do đó trong một số trường hợp phương pháp điều trị này có hiệu quả hơn châm cứu thường [48]
1.4.3.3 Một số nghiên cứu về hiệu quả điều trị bệnh lý cơ xương khớp bằng
Y học cổ truyền
Y học hiện đại đang có những bước tiến phát triển mạnh mẽ với những phát minh mang ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cứu chữa bệnh song bên cạnh việc mang lại những hiệu quả khả quan thì đồng thời thuốc y học hiện đại cũng có những tác dụng không mong muốn trong quá trình chữa bệnh Y học cổ truyền ngày càng chứng minh được vai trò của nó trong điều trị bệnh, thông qua các nghiên cứu gần đây cho thấy y học cổ truyền đang đóng góp một phần tích cực trong quá trình điều trị và phục hồi sức khỏe của những bệnh nhân gặp phải các căn bệnh cơ xương
khớp
Trang 32Nghiên cứu của tác giả Klepser và cộng sự đã cho thấy rằng thuốc YHCT có giá trị đặc biệt trong một số bệnh, trong đó có bệnh cơ xương khớp [9]
Tác giả Chu Thái Vân, Đường Kim Dương (2010) tiến hành nghiên cứu lâm sàng của Tứ diệu tiêu tý thang (kim ngân hoa, đương quy, huyền sâm, sinh cam thảo, bạch hoa xà thiệt thảo, sơn từ cô, hy thiêm thảo, hổ trượng, thổ phục linh, bạch thược, uy linh tiên, tỳ giải) trong điều trị viêm khớp dạng thấp Kết quả cho thấy sau
12 tuần điều trị, nhóm dùng Tứ diệu tiêu tý thang sắc ngày một thang cho hiệu quả điều trị sớm hơn nhóm dùng Methotrexat 10mg/tuần (p<0,05) Ở nhóm dùng Tứ diệu tiêu tý thang có 19/60 bệnh nhân (31,7%) kết quả tốt, 48,3% khá, 20% kém Cũng nghiên cứu trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, tác giả Chúc Truyền Tùng
và Trần Gia Mần (2013) đã cho thấy sau 3 tháng, nhóm bệnh nhân dùng Quế chi thược dược tri mẫu thang (quế chi, bạch thược, tri mẫu, cam thảo, ma hoàng, phòng phong, phụ tử chế, bạch truật, sinh khương) kết hợp thuốc giảm đau chống viêm và DMARDs cho kết quả cao hơn nhóm bệnh nhân chỉ dùng giảm đau chống viêm và DMARDs [19],[26]
Nghiên cứu của tác giả Đặng Trúc Quỳnh (2014) đã chỉ ra rằng bài thuốc Cát căn thang có tác dụng trong điều trị bệnh nhân đau vai gáy do thoái hóa cột sống cổ Kết quả cho thấy nhóm bệnh nhân điều trị bằng Cát căn thang kết hợp điện châm có kết quả giảm đau rõ rệt và giảm hạn chế tầm vận động cột sống cổ, giảm ảnh hưởng khả năng sinh hoạt hằng ngày cao hơn so với nhóm điện châm đơn thuần, về kết quả điều trị chung, 100% bệnh nhân có thời gian đau dưới 7 ngày ở nhóm điều trị bằng Cát căn thang kết hợp điện châm đều có kết quả điều trị loại tốt, tỷ lệ này ở nhóm điện châm đơn thuần chỉ đạt 80% (p<0,05) [49]
Tác giả Lê Tư trong nghiên cứu của mình cũng cho thấy thuốc sắc Bổ dương hoàn ngũ thang (sinh hoàng kỳ 40g, quy vĩ 8g, xích thược 6g, địa long 4g, xuyên khung 4g, đào nhân 4g, hồng hoa 4g) có tác dụng giảm đau, giảm hạn chế tầm vận động cột sống cổ và cải thiện chức năng sinh hoạt hàng ngày ở bệnh nhân đau vai gáy do thoái hóa cột sống cổ Sau 20 ngày điều trị, 80% bệnh nhân ở nhóm điều trị
Trang 33bằng phương pháp kết hợp thuốc sắc Bổ dương hoàn ngũ thang với xoa bóp bấm huyệt có kết quả điều trị tốt, cao hơn có ý nghĩa (p<0,05) so với nhóm điều trị bằng phương pháp xoa bóp bấm huyệt đơn thuần (57,1%) [50]
Hoàng Thị Quế, Nguyễn Nhược Kim, Nguyễn Trần Thị Giáng Hương (2011) nghiên cứu tác dụng của bài thuốc Tam tý thang gia giảm (độc hoạt, phòng phong, tần giao, bạch thược, xuyên khung, ngưu tất, quế chi, cam thảo, đương quy, hoàng
kỳ, tục đoạn, đảng sâm, phục linh, thục địa, tế tân, đỗ trọng) trong điều trị viêm khớp dạng thấp Kết quả: sau 30 ngày điều trị, bài thuốc có tác dụng cải thiện về thời gian cứng khớp buổi sáng; số khớp sưng, đau; chỉ số ritchie giảm có ý nghĩa sau điều trị Tỷ lệ cải thiện theo ACR20, 50, 70 tương ứng là 87,27%, 56,36% và 9,09%
Trong điều trị các bệnh về khớp có bài thuốc nam TK1 của lương y Nguyễn Kiều có tác dụng giảm đau chống viêm trong một số bệnh cơ xương khớp được nghiên cứu kết hợp với điện châm trong điều trị thoái hóa khớp gối sau 30 ngày điều trị cho thấy 83,3% có kết quả tốt, 23,4% khá và không thấy tác dụng không mong muốn [51] Khi sử dụng bài Quyên tý thang phối hợp với phương pháp tác động cột sống thấy rằng trước điều trị có 70% người bệnh hạn chế vận động cổ nhiều, 13,3% hạn chế cổ rất nhiều, sau 20 ngày điều trị không còn hạn chế vận động [52] Hay sự kết hợp của hai phương pháp không dùng thuốc là điện châm với tập dưỡng sinh trên bệnh nhân đau cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ cũng cho thấy phương pháp này có tác dụng giảm đau và cải thiện tầm vận động cột sống cổ [53]
và còn nhiều công trình nghiên cứu khác nữa
1.5 Y HỌC GIA ĐÌNH
1.5.1 Định nghĩa về Y học gia đình
Theo Hiệp hội bác sĩ gia đình Hoa Kỳ “YHGĐ là một chuyên ngành y học kết
hợp giữa sinh học, y học lâm sàng và khoa học hành vi, chịu trách nhiệm cung cấp
Trang 34dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu toàn diện, liên tục cho cá nhân và hộ gia đình ở tất cả các lứa tuổi, giới tính với tất cả các loại bệnh tật”
Theo tổ chức bác sĩ gia đình Châu Âu “YHGĐ là một chuyên ngành khoa học
có nội dung đào tạo và nghiên cứu cũng như cơ sở bằng chứng và hoạt động lâm sàng đặc trưng riêng và là một chuyên ngành lâm sàng theo định hướng chăm sóc sức khỏe ban đầu” [54]
1.5.2 Các nguyên lý cơ bản của Y học gia đình
Sơ đồ 1.1 Sáu nguyên lý cơ bản của Y học gia đình [54]
1.5.3 Chức năng của bác sĩ gia đình
+ Có trách nhiệm trong việc chăm sóc toàn diện, liên tục cho từng cá thể cũng như cả gia đình trong suốt thời kỳ ốm đau, giai đoạn phục hồi, cũng như khi khỏe mạnh Phát hiện các vấn để sức khỏe của người bệnh ở giai đoạn sớm nhất
+ Quan tâm đến nhiều lĩnh vực, chuyên khoa thuộc y học lâm sàng
Y HỌC GIA ĐÌNH
Chăm sóc sức khỏe liên tục Hướng cộng
đồng
Chăm sóc sức khỏe toàn diện
Hướng gia
đình
Chăm sóc sức khỏe phối hợp
Dự phòng và nâng cao sức khỏe
Trang 35+ Có khả năng giải quyết được nhiều vấn đề sức khỏe/ bệnh tật xảy ra đồng thời trên một người bệnh Kiến thức chuyên môn rộng, trong đó chú trọng đến việc phát hiện và xử trí các bệnh và cấp cứu thường gặp, ưu tiên quản lý và điều trị bệnh nhân ngoại trú (đáp ứng khoảng 90% nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân trong cộng đồng) Có khả năng hành động như người điều phối các nguồn lực cần thiết đáp ứng cho yêu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện của người bệnh
+ Nhiệt tình trong công việc, luôn cập nhật kiến thức thông qua việc đào tạo liên tục (CME)
+ Ham học hỏi, tìm tòi các vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thực hành lâm sàng và biện pháp giải quyết chúng
+ Có kỹ năng điều trị và quản lý các bệnh mạn tính, đảm bảo sự hồi phục tốt nhất (dự phòng và hạn chế biến chứng) cho người bệnh
+ Có khả năng tư vấn cho người bệnh và gia đình về các hành vi có lợi cho sức khoẻ, yếu tố nguy cơ, bệnh tật và nguyên tắc dự phòng nhằm mục đích nâng cao sức khoẻ [54]
Khung năng lực cơ bản của bác sĩ Đa khoa công tác tại trạm Y tế theo nguyên lý YHGD:
1 Năng lực hành nghề chuyên nghiệp
2 Năng lực ứng dụng nguyên lý của y học gia đình trong thực hành
3 Năng lực chăm sóc y khoa theo nguyên lý y học gia đình
4 Năng lực giao tiếp – tư vấn
5 Năng lực lãnh đạo và quản lý
- Trạm y tế xã, phường, thị trấn; bệnh xá; trạm y tế của cơ quan, đơn vị, tổ chức
- Phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa tư nhân
Trang 36- Phòng khám đa khoa, phòng khám đa khoa khu vực, phòng khám chuyên khoa thuộc trung tâm y tế quận, huyện, phòng khám quân dân
- Khoa khám bệnh thuộc bệnh viện quận, huyện hoặc trung tâm y tế quận, huyện hoặc bệnh viện của trường đại học y [56]
* Vị trí, chức năng
Cơ sở y học gia đình là cơ sở đầu tiên tiếp nhận, quản lý, chăm sóc sức khỏe ban đầu, tư vấn, phòng bệnh, nâng cao sức khỏe, cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh đa khoa theo nguyên lý y học gia đình cho cá nhân, hộ gia đình [56]
* Nhiệm vụ
Theo quyết định 1568/QĐ-BYT, một trong các nhiệm vụ của Trạm y tế tuyến xã
và Phòng khám bác sĩ gia đình hoạt động theo nguyên lý Y học gia đình là được thực hiện các dịch vụ kỹ thuật tại gia đình người bệnh, bao gồm: khám bệnh, kê đơn thuốc một số bệnh thông thường; thực hiện một số thủ thuật: thay băng, cắt chỉ, lấy mẫu máu, mẫu nước tiểu để xét nghiệm, khí dung, tiêm, truyền dịch [57]
Theo thông tư 21/2019/TT-BYT, một trong các nhiệm vụ của cơ sở YHGD là chăm sóc, khám bệnh, chữa bệnh tại nhà đối với người bệnh theo danh mục quy định [56]
1.5.5 Những chuyên môn kỹ thuật YHCT có thể thực hiện tại nhà người
bệnh cơ xương khớp
Các phương pháp điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc thuộc phạm vi YHCT được ứng dụng tại gia đình trong chăm sóc sức khỏe người bệnh cơ xương khớp bao gồm:
Trang 37Hiện nay, lĩnh vực YHCT công lập Nghệ An có tổ chức cơ cấu đúng theo quy định của Bộ Y tế , được phân theo các tuyến tỉnh, huyện, xã Tuyến tỉnh có bệnh viện YHCT tỉnh và khoa YHCT trực thuộc bệnh viện hữu nghị đa khoa tỉnh Tuyến huyện có khoa YHCT, khoa Nội-YHCT trong bệnh viện đa khoa huyện Tại các trạm y tế xã có cán bộ chuyên trách YHCT Ngoài hệ thống y tế công lập có mạng lưới YHCT tư nhân hoạt động khắp các địa bàn tồn tại dưới các hình thức bao gồm: phòng khám YHCT tư nhân, khoa YHCT trong bệnh viện đa khoa tư nhân, nhà thuốc YHCT, lương y, Có tổ chức Hội nghề nghiệp Hội Đông Y tỉnh Nghệ An Mạng lưới YHCT công lập và tư nhân đang cùng nhau thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo tồn và phát triển bản sắc nền YHCT dân tộc
1.6.2 Thành phố Vinh
Trung tâm hành chính của tỉnh Nghệ An là thành phố Vinh Thành phố có vị trí
ở phía Đông Nam của tỉnh, tiếp giáp với huyện Nghi Lộc về phía Bắc và phía Đông,
Trang 38giáp với huyện Hưng Nguyên về phía Tây và giáp với huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh về phía Nam Vinh là thành phố đông dân nhất khu vực Bắc Trung Bộ với hơn 490.000 dân (tính đến năm 2015) Dân số thành thị chiếm 68% và dân số nông thôn
là 32% Thành phố Vinh chia thành 25 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc bao gồm 16 phường/xã: Bến Thủy, Cửa Nam, Đội Cung, Đông Vĩnh, Hà Huy Tập, Hồng Sơn, Hưng Bình, Hưng Dũng, Hưng Phúc, Lê Lợi, Lê Mao, Quán Bàu, Quang Trung, Trung Đô, Trường Thi, Vinh Tân và 9 xã: Hưng Chính, Hưng Đông, Hưng Hòa, Hưng Lộc, Nghi Ân, Nghi Đức, Nghi Kim, Nghi Liên, Nghi Phú Trên địa bàn thành phố hiện có khoảng 27 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, cùng nhiều trung tâm y tế, phòng khám đa khoa khác [59]
1.6.3 Bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An
Là bệnh viện đa khoa tư nhân đầu tiên tại Nghệ An mà tiền thân là công ty TNHH khám chữa bệnh và vận chuyển cấp cứu bệnh nhân, được Bộ Y tế thẩm định
và cấp phép hoạt động từ ngày 12 tháng 6 năm 2006
Phạm vi hoạt động chuyên môn bao gồm: cấp cứu, khám và điều trị các bệnh thông thường về nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa; khám, điều trị ngoài giờ ngoại trú chuyên khoa phụ khoa – kế hoạch hóa gia đình, mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt, phẫu thuật các bệnh thông thường về ngoại khoa, phẫu thuật chấn thương chỉnh hình xương khớp, phẫu thuật tạo hình ngoài giờ, điều trị tán sỏi ngoài cơ thể, lọc thận, thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng, thực hiện tiêm chủng, vận chuyển người bệnh trong nước
Hiện bệnh viện có 10 khoa phòng, trong đó có 3 phòng chuyên môn, 4 khoa lâm sàng, 3 khoa cận lâm sàng với hơn 200 cán bộ nhân viên [60]
Khoa Y học cổ truyền – Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng trước đây là một phần của khoa Nội tổng hợp Do nhu cầu của bệnh nhân tăng lên cùng với sự phát triển lớn mạnh của bệnh viện, khoa được thành lập vào năm 2014 với mục đích ban
Trang 39đầu là nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân sau điều trị chấn thương và nội khoa Chỉ với một năm sau khi trở thành khoa độc lập, khoa Y học cổ truyền – Vật
lý trị liệu – Phục hồi chức năng đã phát huy được thế mạnh của mình trong công tác điều trị, chăm sóc bệnh nhân về bệnh cơ xương khớp cấp và mạn tính, phục hồi chức năng điều trị cứng khớp, bí tiểu sau chấn thương, liệt tứ chi sau chấn thương tủy sống Hiện khoa có 30 giường bệnh điều trị nội trú và 12 cán bộ, trong đó có 5 bác sĩ, 7 điều dưỡng [61]
1.6.4 Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh
Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh được thành lập từ tháng 10/1965 Từ 01 bác
sĩ, 02 y sĩ, 23 nhân viên (thời điểm năm 1965), đến năm 2015 bệnh viện đã có 262 cán bộ, công nhân viên với 56 bác sĩ; là bệnh viện hạng II với 21 khoa, phòng (6 phòng chức năng, 15 khoa lâm sàng và cận lâm sàng), công suất 230 giường bệnh, bao gồm 5 khu nhà cao tầng (4 nhà điều trị và 1 nhà kỹ thuật) Những năm qua bệnh viện đã được đầu tư nâng cấp về mọi mặt, cơ sở vật chất khang trang, sạch đẹp.[62]
Khoa Y học cổ truyền – Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng được thành lập từ năm 2011 Khoa có 40 giường bệnh điều trị nội trú và 24 cán bộ, trong đó có 01 thạc sĩ, 10 bác sĩ, 12 điều dưỡng.[63]
1.6.5 Bệnh viện đa khoa TTH Vinh
Tiền thân của bệnh viện TTH Vinh là bệnh viện đa khoa Nguyễn Minh Hồng được thành lập từ năm 2009 Bệnh viện với quy mô hơn 100 giường, có thể đón tiếp hơn 400 lượt bệnh nhân mỗi ngày, với tổng số cán bộ nhân viên lên đến 180 người, trong đó có hơn 130 y bác sĩ Bệnh viện được cơ cấu thành 3 khối: khối lâm sàng, khối cận lâm sàng và khối chức năng với 27 khoa, phòng [64]
Khoa Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng được thành lập vào những năm đầu thành lập bệnh viện Khoa hiện có 35 giường bệnh điều trị nội trú và 15 cán bộ, trong đó có 7 bác sĩ, 8 điều dưỡng [64]
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được chia làm hai nhóm:
Nhóm 1: Hồ sơ bệnh án của người bệnh cơ xương khớp nằm điều trị nội trú tại 3 khoa Y học cổ truyền của 03 bệnh viện (bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An, bệnh viện
đa khoa thành phố Vinh và bệnh viện đa khoa TTH Vinh) năm 2018 (từ 01/01/2018 đến 31/12/2018), năm 2019 (từ 01/01/2019 đến 31/12/2019) và năm 2020 (từ 01/01/2020 đến 31/12/2020)
Nhóm 2: Người bệnh cơ xương khớp đang điều trị nội trú tại 03 khoa Y học cổ truyền của 03 bệnh viện (bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An, bệnh viện đa khoa thành phố Vinh và bệnh viện đa khoa TTH Vinh) ở thời điểm trước khi người bệnh xuất viện 03 ngày (từ tháng 5/2021 đến tháng 9/2021)
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn
Nhóm 1: Hồ sơ bệnh án người bệnh cơ xương khớp điều trị nội trú tại 03 khoa
Y học cổ truyền của 03 bệnh viện (bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An, bệnh viện đa khoa thành phố Vinh và bệnh viện đa khoa TTH Vinh) năm 2018 (từ 01/01/2018 đến 31/12/2018), năm 2019 (từ 01/01/2019 đến 31/12/2019) và năm 2020 (từ 01/01/2020 đến 31/12/2020) có hồ sơ bệnh án lưu tại bệnh viện
+ Hồ sơ bệnh án phải có đầy đủ các thông tin sau: tên, tuổi, giới tính, địa chỉ, nghề nghiệp, tiền sử bản thân, các bệnh phối hợp, thời gian nhập viện, chẩn đoán