Phƣơng pháp cấy chỉ catgut đang đƣợc áp ụng nhiều tại các cơ sở khám ch a ệnh ằng YHCT và đã c nhiều s cải tiến, áp ụng trên nhiều ệnh lý khác nhau, c hiệu quả tốt trong điều trị một số ệnh. Hiện nay Việt Nam còn t tài liệu nghiên cứu đánh giá tác ụng của cấy chỉ phục hồi chức năng vận động cho ệnh nhân nhồi máu não. Vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng của cấy chỉ phục hồi chức năng vận động trên bệnh nhân Nhồi máu não sau giai đoạn cấp” với hai mục tiêu: 1. Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động trên bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp bằng phương pháp cấy chỉ trên huyệt giáp tích vùng cổ, thắt lưng. 2. Đánh giá tác dụng không mong muốn của phương pháp cấy chỉ.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh NMN và điều trị nội trú tại khoa Y học cổ truyền – Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 6 năm 2020 đến tháng 4 năm 2021 Trong thời gian điều trị, bệnh nhân đã tự nguyện tham gia vào nghiên cứu y học cổ truyền, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn đề ra.
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo Y học hiện đại
- BN được chẩn đoán xác định là liệt nửa người o NMN theo YHHĐ (hình ảnh tổn thương trên phim chụp cộng hưởng từ / c t lớp vi t nh sọ não)
- BN đã qua giai đoạn cấp: ấu hiệu sinh tồn ổn định, tỉnh táo, nghe và hiểu đƣợc lời n i
- Liệt nửa người các mức độ khác nhau
- Kh ng c các iến chứng nhƣ ội nhiễm, loét tì đè…
- Tuổi: từ 18 tuổi trở lên
- BN kh ng c các rối loạn tâm th n, các ệnh l về giọng n i, lời n i và ng n ng trước khi ị ệnh
- N i tiếng Việt phổ th ng
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo Y học cổ truyền
Bệnh nhân NMN được tuyển chọn dựa trên tiêu chuẩn của Y học hiện đại (YHHĐ), đảm bảo phù hợp để điều trị Sau đó, các bệnh nhân tiếp tục được phân loại theo phương pháp y học cổ truyền (YHCT) thông qua tứ chẩn để xác định chính xác tình trạng sức khỏe Trong đó, ưu tiên chọn các bệnh nhân có thể trạng phù hợp, đặc biệt là những thể có huyết trệ nhằm tối ưu hóa quá trình điều trị.
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân theo Y học cổ truyền
Tứ chẩn Khí hƣ huyết trệ (KHHT), mạch lạc ứ trở
Vọng Liệt thể hiện qua các triệu chứng như nửa người liệt, miệng méo, khó nói hoặc nói ngọng, giọng nói yếu và thở yếu Bệnh còn gây ra liệt mặt, lưỡi nhợt hoặc có hiện tượng ứ huyết, rêu trắng và sắc mặt không tươi nhuận, cho thấy tình trạng yếu hoặc suy giảm chức năng vận động và ngôn ngữ của người bệnh.
Vấn Mệt, tay chân mềm yếu v l c, tê ì
Thiết Mạch tế sáp hoặc hƣ nhƣợc
2.1.2 Tiêu chuẩn loại bệnh nhân
- Các ệnh nhân liệt nửa người o các nguyên nhân khác như: chảy máu não, chấn thương sọ não, u não, ị ạng mạch máu não…
- Trong quá trình điều trị BN ị TBMMN tái phát hoặc iễn iến nặng lên
- BN kh ng hợp tác hoặc phá vỡ cam kết nghiên cứu
- BN NMN c kèm thêm các ệnh khác (Lao, HIV/AIDS )
Nhồi máu não c kèm các ệnh: rối loạn tâm th n, đái tháo đường chưa đƣợc kiểm soát…
BN kh ng tuân thủ điều trị
BN thuộc thể ệnh khác của YHCT.
PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
Bộ dụng cụ cấy chỉ
- Chỉ Monosyn số 3.0 của hãng BBraun – Tây Ban Nha
- Kim cấy chỉ chuyên ụng số 7 của hãng Gaoguan – Trung Quốc
- Kéo c t chỉ, k p phẫu t ch, panh k p ng, hộp đ ng ng cồn, đĩa petri, ng, cồn 70 độ, io ine 10%, urgo, khẩu trang, găng tay v khuẩn, m phẫu thuật
Tất cả phải được tiệt trùng ằng phương pháp v khuẩn, thủ thuật được tiến hành trong phòng thủ thuật đƣợc khử trùng hàng ngày
Hình 2.1 Chỉ Monosyn số 3.0 Hình 2.2 Các mẫu kim cấy chỉ theo kích cỡ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng c đối chứng, so sánh trước và sau điều trị
Trong nghiên cứu này, cỡ mẫu được xác định bằng cách lấy mẫu tối thiểu 30 bệnh nhân cho mỗi thử nghiệm lâm sàng, đảm bảo đủ dữ liệu để đạt được kết quả chính xác và có ý nghĩa thống kê Phương pháp lựa chọn mẫu là ghép cặp nhằm đảm bảo các nhóm bệnh nhân có sự tương đồng về tuổi, giới tính, thời gian mắc bệnh và mức độ bệnh lý, từ đó nâng cao độ chính xác và tính khách quan của kết quả nghiên cứu.
2.3.2 Thời gian và địa điểm
Thời gian: từ tháng 06/2020 đến tháng 04/2021 Địa điểm: Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Bạch Mai– Nội trú
- Chọn các ệnh nhân th a mãn các tiêu chuẩn nghiên cứu
- Các xét nghiệm cận lâm sàng đƣợc th c hiện tại Bệnh viện Bạch Mai: Xét nghiệm huyết học, sinh h a máu, CT Scanner sọ não hoặc MRI sọ não
Các bệnh nhân được chia thành hai nhóm gồm nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng, mỗi nhóm 30 bệnh nhân, theo phương pháp ghép cặp đảm bảo sự đồng đều về giới, tuổi, thời gian mắc bệnh và mức độ bệnh Điều này giúp đảm bảo tính khách quan và chính xác của nghiên cứu, đồng thời tăng cường độ tin cậy của kết quả Việc phân chia nhóm như vậy giúp so sánh rõ ràng tác dụng của phương pháp nghiên cứu và giảm thiểu các sai lệch có thể xảy ra.
Nhóm đối chứng: điều trị theo phác đồ nền và theo õi trong 4 tu n
- Thuốc: thuốc YHHĐ và YHCT
+ YHHĐ: thuốc điều trị ệnh l kèm theo nhƣ tăng huyết áp, đái tháo đường…
+ YHCT: thuốc thang, ài thuốc Bổ ƣơng hoàn ng thang, ùng cho thể, s c uống ngày 1 thang chia 2 l n
- Xoa p ấm huyệt nửa người ên liệt Liệu trình 30 phút/l n/ngày x 5 ngày/ tu n, trong 4 tu n
Điện châm các huyệt theo phác đồ của Bộ Y tế bao gồm các huyệt quan trọng như phong trì, kiên ngung, t nhu, khúc trì, hợp cốc, huyết hải, túc tam lý, tam âm giao và thái xung Phương pháp này được khuyến nghị thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả điều trị theo hướng an toàn và chính xác, tuân thủ đúng quy định của Bộ Y tế (QĐ 792/QĐ-BYT) Áp dụng điện châm đúng huyệt đạo giúp tăng cường lưu thông khí huyết, giảm các triệu chứng bệnh lý, đồng thời thúc đẩy quá trình phục hồi sức khỏe toàn diện.
+ Chọn: 12- 15 huyệt cho 1 l n châm Châm ở tƣ thế nằm ngửa, nằm nghiêng cách ngày
+ Liệu trình 20 phút/l n/ngày x 5 ngày/ tu n, trong 4 tu n
+ T n số máy điện châm: Châm ổ t n số từ 1- 3 Hz, châm tả t n số trên 3
Nhóm nghiên cứu: Điều trị theo phác đồ của Bộ Y tế nhƣ nh m đối chứng kết hợp cấy chỉ huyệt giáp t ch
Quy trình chuẩn bị dụng cụ và bệnh nhân được thực hiện để đảm bảo an toàn và hiệu quả Bệnh nhân lựa chọn tư thế nằm nghiêng hoặc sấp phù hợp để thuận tiện cho quá trình điều trị Thuốc được chuẩn bị theo quy trình nghiêm ngặt, dựa trên yếu tố vi khuẩn và phương pháp cấy chỉ vào huyệt chính xác Sau khi hoàn thành thủ thuật, bệnh nhân cần nghỉ tại giường ít nhất 30 phút và được theo dõi sát sao để đảm bảo không có phản ứng phụ xảy ra.
- Liệu trình: trong 4 tu n, mỗi tu n 1 l n vào 1 ngày cố định
Tu n 1: cấy chỉ vào huyệt Giáp tích C4-C5, C6-C7, L2-L3, L4-L5
Tu n 2: cấy chỉ vào huyệt Giáp tích C5-C6, C7-D1, L3-L4, L5-S1
Tu n 3: cấy nh c lại vào huyệt nhƣ tu n 1
Tu n 4: cấy nh c lại vào huyệt nhƣ tu n 2
2.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi
2.3.4 1 Các chỉ tiêu lâm sàng
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu gồm độ tuổi, giới tính, thời gian mắc bệnh, các yếu tố nguy cơ, triệu chứng lâm sàng, kích thước và vị trí tổn thương trên lâm sàng, cũng như thể trạng theo Y học cổ truyền Các yếu tố này giúp phân tích toàn diện các đặc điểm của bệnh nhân, từ đó xây dựng phương pháp chẩn đoán và điều trị phù hợp Việc xác định rõ các đặc điểm như tuổi tác, giới tính và triệu chứng lâm sàng là bước quan trọng để nâng cao hiệu quả điều trị các bệnh lý theo y học cổ truyền.
Đánh giá chức năng vận động của bệnh nhân được thực hiện thông qua thang điểm Rankin, Orgogozo, và chỉ số Barthel tại các thời điểm D0 (trước điều trị), D14 (sau 2 tuần điều trị), và D28 (sau 4 tuần điều trị), giúp đo lường mức độ phục hồi và hiệu quả của quá trình điều trị.
- Đánh giá mức độ liệt của bệnh nhân theo thang đi m Rankin (phụ lục 5) [43]
Thang điểm Rankin nhằm lượng giá mức độ tổn thương của ệnh nhân TBMMN trên lâm sàng :
+ Độ I (phục hồi hoàn toàn): BN t đi lại đƣợc, áng đi g n nhƣ ình thường, tay liệt c m n m được
Bệnh nhân ở giai đoạn Độ II có khả năng đi lại, tuy nhiên vẫn còn lệch hướng và tay chưa vung theo thân mình Các cảm giác còn mờ nhạt, và vận động tay còn gặp khó khăn, đặc biệt khi nâng tay lên cao.
+ Độ III ( i chứng vừa, sinh hoạt c n người trợ giúp): BN chưa t đi lại đƣợc, c m n m đồ vật đƣợc, xòe n m àn tay kh khăn, kh ng giơ cao tay lên đƣợc
+ Độ IV: i chứng nặng, sinh hoạt c n người phục vụ hoàn toàn
+ Độ V: i chứng rất nặng, c nhiều iến chứng
- Đánh giá mức độ liệt của bệnh nhân theo thang đi m Orgogozo (phụ lục 2):
Thang điểm Orgogozo là công cụ đánh giá trạng thái chức năng thần kinh của bệnh nhân sau đột quỵ Thang điểm gồm 10 tiêu chí phản ánh chức năng thần kinh, dựa trên quan sát và thăm khám các khả năng về ý thức, giao tiếp, vận động tứ chi Tổng điểm đánh giá tối đa là 100 điểm, giúp chẩn đoán chính xác và theo dõi tiến triển của bệnh nhân sau đột quỵ.
Cách đánh giá a trên ảng điểm và phân ra làm 4 mức độ nhƣ sau: [43]
+ Độ I (chức năng vận động tốt): 90 – 100 điểm
+ Độ II (chức năng vận động khá): 70 – 89 điểm
+ Độ III (chức năng vận động vừa): 50 – 69 điểm
+ Độ IV (chức năng vận động kém): < 50 điểm
- Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày qua chỉ số Barthel (phụ lục 3):
Chỉ số Barthel đánh giá khả năng hoạt động độc lập của BN trong sinh hoạt hàng ngày ao gồm 10 tiêu ch với tổng điểm 100
Cách đánh giá a vào tổng điểm và đƣợc phân vào 4 mức độ sau: [43] + Độ I (t l c hoạt động): 91 – 100 điểm
+ Độ II (trợ giúp t): 65 – 90 điểm
+ Độ III (trợ giúp trung ình): 25- 64 điểm
+ Độ IV (phụ thuộc hoàn toàn): 0- 24 điểm
Các tác dụng phụ không mong muốn trên lâm sàng bao gồm chảy máu, sưng tấy, đau nhiều kéo dài trên 1 ngày, phản ứng dị ứng, nhiễm trùng vùng tiếp xúc sau cấy chỉ, và cần theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình điều trị kéo dài 4 tuần.
2.3.4.2 Các chỉ tiêu cận lâm sàng
- Xét nghiệm huyết học (số lƣợng hồng c u, ạch c u, tiểu c u, hàm lƣợng hemoglo in, hematocrit)
- Xét nghiệm sinh h a máu (Ure, Creatinin, Glucose, AST, ALT, điện giải đồ)
Các chỉ tiêu trên được đo lường vào ngày D0 và D28 của quá trình điều trị
2.3.5 Theo dõi và đánh giá kết quả điều trị
- Th ng tin ệnh nhân đƣợc khai thác cụ thể theo mẫu ệnh án nghiên cứu thống nhất (phụ lục 1)
Đánh giá chức năng vận động của bệnh nhân được thực hiện qua các thang điểm như Rankin, Orgogozo và chỉ số Barthel tại các thời điểm D0 (trước điều trị), D14 (sau 2 tuần điều trị) và D28 (sau 4 tuần điều trị) Kết quả đánh giá phản ánh mức độ liệt của bệnh nhân, giúp theo dõi tiến trình hồi phục và đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị Các thang điểm này là công cụ quan trọng trong việc đo lường khả năng vận động và sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân sau các đợt điều trị.
+ Tốt: Giảm từ 3 độ liệt trở lên
+ Trung bình: Giảm 1 độ liệt
-Đánh giá hiệu quả điều trị chung a vào mức độ chuyển độ liệt qua các thang điểm Rankin, Orgogozo, Barthel
+ Tốt: cả 3 thang điểm chuyển từ 2 độ liệt trở lên
+ Khá: 1 hoặc 2 trong số 3 thang điểm chuyển đƣợc từ 2 độ liệt trở lên, thang điểm còn lại chuyển đƣợc 1 độ liệt
+ Trung ình: cả 3 thang điểm chuyển đƣợc 1 độ liệt
+ Kh ng hiệu quả: t nhất 1trong 3 thang điểm kh ng chuyển độ liệt hoặc nặng lên
- Đánh giá s thay đổi trước sau của các chỉ số cận lâm sàng tại 2 thời điểm D0 và D28.
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu thu được trong nghiên cứu được phân t ch, xử l theo phương pháp thống kê y sinh học trên máy t nh với s hỗ trợ của ph n mềm SPSS 22.0
- Sử ụng các thuật toán:
+ T nh tỷ lệ ph n trăm (%)
+ So sánh hai giá trị trung ình ùng kiểm định T-test
+ So sánh các tỷ lệ % ằng kiểm định 2
ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
Tiến hành nghiên cứu với tinh th n trung th c, áp ụng các nguyên l và đạo đức nghiên cứu c ng nhƣ phổ iến kết quả nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, thái độ tôn trọng, đặt phẩm giá và sức khỏe của bệnh nhân lên trên hết là ưu tiên hàng đầu, đảm bảo các thông tin do họ cung cấp được giữ bí mật tuyệt đối Bệnh nhân được lựa chọn dựa trên các tiêu chuẩn nghiên cứu rõ ràng, đồng thời họ hoàn toàn có quyền quyết định tham gia hoặc rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào mà không gặp bất kỳ trở ngại nào.
Trong quá trình sử dụng thuốc, nếu xảy ra tai nạn, cần phản ứng ngay lập tức để xử lý và xác định nguyên nhân gây ra sự cố Nghiên cứu về thuốc không nhằm mục đích thương mại hay lợi nhuận, mà chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng cũng như an toàn cho bệnh nhân.
Hình 2.3 Sơ đồ nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.1.Phân bố bệnh nhân theo độ tuổi Nhóm
Tổng (n`) n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Tuổi trung ình của các BN là 64,10±11,15 (tuổi)
Tuổi trung ình ở nh m NC là: 64,33±11,19 (tuổi)
Tuổi trung ình ở nh m ĐC là: 63,87± 11,22(tuổi)
Tỷ lệ ệnh nhân trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ chủ yếu (33,33%)
Kh ng c s khác iệt về độ tuổi trung ình ở 2 nh m
Bảng 3.2 Phân bố theo giới
P1-2 n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
• Tỷ lệ ệnh nhân theo giới: Nam chiếm 70 %, n chiếm 30 %
• Không c s khác iệt về giới gi a 2 nh m với p > 0,05
3.1.1.3 Phân bố tổn thương trên lâm sàng
Bảng 3.3 Phân bố định khu tổn thương trên lâm sàng
Tổng p n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ ệnh nhân liệt vận động ên trái chiếm 41,67%
Tỷ lệ ệnh nhân liệt vận động ên phải chiếm 56,67%
Tỷ lệ ệnh nhân liệt cả hai ên chiếm 1,67%
Không có s khác iệt về định khu tổn thương trên lâm sàng gi a hai nh m với p > 0,05
Bảng 3.4 Phân bố thời gian từ khi bị bệnh đến điều trị
Số ệnh nhân m c ệnh 15 ngày ở nh m NC c 6 BN chiếm 26,67%; nh m ĐC c 10 BN chiếm 33,33%
Kh ng c s khác iệt về tỷ lệ phân ố ệnh nhân theo thời gian ị ệnh ở hai nh m với p > 0,05
Biểu đồ 3.1 Các yếu tố nguy cơ với bệnh TBMMN ở cả hai nhóm
Bảng 3.5: Phân bố bệnh nhân theo nhóm nguy cơ
Nhóm bệnh nhân p Nghiên cứu (n0) Đối chứng (n0)
Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ %
Tăng huyết áp 22 73.3 21 70.0 Đái tháo đường 5 16.7 13 43.3
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ phổ biến nhất trên lâm sàng, xuất hiện ở 73,3% bệnh nhân có nhồi máu não và 70% bệnh nhân ổn định Phân tích cho thấy, tỷ lệ yếu tố nguy cơ này ở cả hai nhóm là không có sự khác biệt đáng kể với p>0,05, xác nhận tầm quan trọng của tăng huyết áp trong quá trình đánh giá và phòng ngừa các biến cố tim mạch.
3.1.2 Phân loại mức độ di chứng trước điều trị của hai nhóm
Bảng 3.6 Phân bố bệnh nhân theo độ liệt Rankin trước điều trị của hai nhóm bệnh nhân Nhóm Độ
Nhóm NC (n= 30) Nhóm ĐC (n0) n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) Độ I 0 0.0% 0 0.0% Độ II 3 10.0% 1 3.33% Độ III 10 33.33% 10 33.33% Độ IV 17 56.67% 19 63.33% Độ V 0 0 0 0
Theo đánh giá theo thang điểm Rankin, hầu hết bệnh nhân trước điều trị ở hai nhóm đều có mức độ liệt từ độ III đến IV, với nhóm NC chiếm tỷ lệ cao nhất là 90% (27/30 bệnh nhân) và nhóm ĐC chiếm 96,66% (29/30 bệnh nhân) Không có sự khác biệt đáng kể về mức độ liệt giữa hai nhóm (p>0,05), cho thấy mức độ phục hồi hoặc nặng nhẹ của bệnh nhân không phụ thuộc vào nhóm điều trị.
Bảng 3.7 Phân bố bệnh nhân theo độ Barthel trước điều trị của hai nhóm
Nhóm NC (n= 30) Nhóm ĐC (n0) n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) Độ I 0 0 0 0 Độ II 3 10,0 1 3,3 Độ III 10 33,3 10 33,3 Độ IV 17 56,7 19 63,4
Theo đánh giá bằng thang điểm Barthel, tình trạng chức năng của hai nhóm bệnh nhân trước điều trị đều tập trung ở mức độ III-IV, trong đó nhóm NC chiếm tỷ lệ 90% và nhóm ĐC chiếm 96,7% Không có sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ độ liệt giữa hai nhóm bệnh nhân (p>0,05), cho thấy mức độ tổn thương vận động của họ tương đương nhau trước khi bắt đầu điều trị.
Bảng 3.8 Phân bố bệnh nhân theo độ Orgogoro lúc vào của hai nhóm
Nhóm NC (n= 30) Nhóm ĐC (n0) n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) p Độ I (nhẹ) 1 3,33 0 0 p>
0,05 Độ II (Trung bình) 4 13,33 6 20 Độ III (nặng) 17 56,67 23 76,67 Độ IV (rất nặng) 8 26,67 1 3,33
Nhận xét: Theo Orgogozo, bệnh nhân trước điều trị của hai nh m chủ yếu tập trung vào độ III Ở nhóm NC có 17 BN chiếm 56,67 %, nh m ĐC có
23 BN chiếm 76,67 % So sánh tỷ lệ từng độ liệt ở hai nh m kh ng c s khác iệt với p>0,05.
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
3.2.1 Sự thay đổi theo thang điểm Rankin trước và sau điều trị
Bảng 3.9: So sánh tiến triển độ Rankin giữa hai nhóm theo thời gian
Nhóm NC (n0) Nhóm ĐC (n0) p n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Trước khi điều trị, tỷ lệ bệnh nhân ở mức độ I, II trong nhóm bệnh nhân neuromuscular là 10%, cao hơn so với nhóm đối chứng chỉ 3,33% Ngoài ra, tỷ lệ bệnh nhân ở mức độ liệt độ IV và V ban đầu là 43,34%, nhưng sau quá trình điều trị, không còn bệnh nhân nào ở các mức độ này.
Sau 14 ngày điều trị, số bệnh nhân độ I, II ở nhóm NC chiếm 56,67 % cao so với nh m ĐC chiếm 46,67%, s khác biệt không c nghĩa thống kê (p>0,05)
Sau 28 ngày điều trị , số bệnh nhân độ I,II ở nhóm NC chiếm 86,67 % cao hơn so với nh m ĐC chiếm 70%, s khác biệt kh ng c nghĩa thống kê (p>0,05)
Trước khi điều trị, tỷ lệ bệnh nhân bị liệt độ I và II là 3,33% (1 bệnh nhân), nhưng sau quá trình điều trị, tỷ lệ này tăng lên đến 70% (21 bệnh nhân) Đồng thời, tỷ lệ bệnh nhân bị liệt độ IV và V ban đầu là 53,3% (16 bệnh nhân), nhưng sau điều trị, không còn bệnh nhân nào ở mức độ này.
So sánh độ liệt trước và sau 28 ngày điều trị s khác biệt c nghĩa thống kê với p0,05)
3.2.2 Sự thay đổi của chỉ số Barthel trước và sau điều trị
Bảng 3.11: So sánh tiến triển độ Barthel giữa 2 nhóm theo thời gian Thời điểm
NC Độ liệt Nhóm NC (n0) Nhóm ĐC (n0) p n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Trước điều trị số BN độ I, II, ở nh m NC chiếm 10% và ở nh m ĐC chiếm 3,33% S khác iệt kh ng c nghĩa thống kê (p>0,05)
Trước khi điều trị, tỷ lệ bệnh nhân ở độ liệt III và IV chiếm 90%, nhưng sau điều trị đã giảm xuống còn 66,67%, cho thấy sự cải thiện rõ rệt Đồng thời, tỷ lệ bệnh nhân ở độ liệt I và II tăng từ 3,33% lên 33,33% sau quá trình điều trị, phản ánh sự chuyển biến tích cực về chức năng và phục hồi vận động Các kết quả này đều có ý nghĩa thống kê (p0,05).
Sau 28 ngày, số BN độ I, II, nh m NC đạt tỉ lệ 56,66% so với nh m ĐC là 33,33 % S khác iệt kh ng c nghĩa thống kê (p>0,05)
So sánh trước và sau 28 ngày điều trị c s khác iệt c nghĩa thống kê (p 0,05
Mức chênh trung ình điểm Barthel tại thời điểm D28 và D0 ở nh m
NC là: 26,00±17,64, ở nh m ĐC là: 21,50±12,26, s khác iệt kh ng c nghĩa thống kê với p > 0,05
S khác iệt về điểm Barthel trung ình gi a các thời điểm D0, D14, D28 ở cả hai nh m đều c nghĩa thống kê với p < 0,05
Biểu đồ 3.2 Điểm trung bình Barthel giữa 2 nhóm theo thời gian điều trị
Bảng 3.13 Đánh giá kết quả dịch chuyển độ liệt Barthel ở hai nhóm
Sau điều trị, tỷ lệ bệnh nhân cải thiện độ liệt tốt và khá theo thang điểm Barthel đạt 46,67% trong nhóm sử dụng liệu pháp tự nhiên (14 bệnh nhân), cao hơn nhiều so với nhóm đối chứng chỉ 23,33% (7 bệnh nhân) Sự khác biệt này đã đạt mức ý nghĩa thống kê với giá trị p0,05)
Bảng 3.15 So sánh điểm trung bình Orgogozo giữa hai nhóm theo thời gian điều trị
Điểm Orgogozo trung ình tại thời điểm D0 của nh m NC là: 40,83±14,97; của nh m ĐC là: 44,17±9,01, S khác iệt kh ng c nghĩa thống kê với p > 0,05
Điểm Orgogozo trung ình tại thời điểm D28 của nh m NC là: 66,17±14,24; của nh m ĐC là: 62,17±11,27 S khác iệt gi a không c nghĩa thống kê với p > 0,05
Mức chênh trung ình điểm Orgogozo tại thời điểm D14 và D0 ở nh m
NC là: 11,67±7,694, ở nh m ĐC là: 10,17±8,95, s khác iệt không có nghĩa thống kê với p > 0,05
Mức chênh trung ình điểm Orgogozo tại thời điểm D28 và D0 ở nh m
NC là: 25,33±14,44, ở nh m ĐC là: 18,00±12,07, s khác iệt c nghĩa thống kê với p < 0,05
S khác iệt về điểm Orgogozo trung ình gi a các thời điểm D0, D14, D28 ở cả hai nh m đều c nghĩa thống kê với p < 0,05
Biểu đồ 3.3 Điểm trung bình Orgogozo giữa hai nhóm bệnh nhân ĐC và
NC theo thời gian Bảng 3.16 Đánh giá kết quả dịch chuyển độ theo thang điêm Orgogozo ở hai nhóm Nhóm
Sau điều trị, số ệnh nhân ở cả 2 nh m c cải thiện độ liệt là 100%
Tỷ lệ đạt mức tốt ở nh m NC là 20%, gấp đ i so với nh m ĐC S khác iệt c nghĩa thống kê (p 0,05), cho thấy các chỉ số huyết học không bị ảnh hưởng rõ rệt bởi phương pháp điều trị.
Bảng 3.18 Sự thay đổi các chỉ số sinh hóa trước và sau điều trị
Các chỉ số Urê, Creatinin, AST, ALT của các bệnh nhân đều nằm trong giới hạn bình thường trước và sau điều trị, và không phát hiện sự thay đổi có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), cho thấy điều trị không ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng thận và gan của bệnh nhân.
Bảng 3.19 Tác dụng không mong muốn trên lâm sàng
Triệu chứng Nhóm nghiên cứu (n0) n Tỷ lệ (%)
Chảy máu nơi cấy chỉ 1 3,3
Mẩn ngứa, mề đay 0 0 Đau > 1 ngày 0 0
Nhiễm trùng nơi cấy chỉ 0 0
Trong quá trình cấy chỉ, bệnh nhân ổn định và chỉ có một trường hợp bị chảy máu tại một số huyệt vùng da nông, chiếm tỷ lệ 3,3% Sau 5 phút, máu đã cầm lại, lưu ý bệnh nhân đái tháo đường cần đảm bảo vô khuẩn và vệ sinh cẩn thận để tránh các biến chứng.
Trong nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kim cấy chỉ chuyên dụng, giúp giảm rõ rệt hiện tượng đau sau khi thực hiện, chưa ghi nhận trường hợp nào bị đau quá mức Sau cấy chỉ, bệnh nhân chỉ cảm thấy căng tức nhẹ tại vị trí cấy, cảm giác này giảm dần và mất hẳn, không xảy ra trường hợp đau kéo dài trên 1 ngày Bệnh nhân đáp ứng tốt với phương pháp, không gặp phải các tình trạng mẩn ngứa, lộ chỉ, vết châm, đau đầu hay buồn nôn.
BÀN LUẬN
BÀN LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu về BN sử dụng NMN, độ tuổi của các bệnh nhân được lấy từ 30 đến trên 70 tuổi Theo bảng 3.1, tuổi trung bình của các bệnh nhân là 64,10 ± 11,15 tuổi, không có sự khác biệt đáng kể về độ tuổi trung bình giữa các nhóm Nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm 66,67%, cho thấy phần lớn bệnh nhân tham gia nghiên cứu nằm trong độ tuổi này.
Kết quả này tương t một số nghiên cứu trong và ngoài nước:
Theo Hall MJ, Levant S, DeFrances CJ (2012), 34% BN TBMMN điều trị tại ệnh viện ƣới 65 tuổi, và tỷ lệ BN trên 65 tuổi là 66% [46]
Theo số liệu của Hiệp hội thống kê Minh, hơn 50% các ca bệnh xảy ra ở tuổi trên 70, phản ánh xu hướng tăng theo tuổi Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đang ngày càng nâng cao, đạt 76,25 tuổi vào năm 2016, gần bằng các quốc gia phát triển như Mỹ với 78,69 tuổi và Trung Quốc với 76,25 tuổi Tỷ lệ người cao tuổi tăng nhanh đi kèm với nhiều bệnh lý và yếu tố nguy cơ, làm tăng tỷ lệ đột quỵ và nhồi máu cơ tim ở người cao tuổi Người cao tuổi thường yếu về thể chất, có khả năng bị tổn thương về huyết quản, mất cân bằng âm dương, gây ra các bệnh nội phong như phong nhiệt hoặc phong hàn, đồng thời ngoại phong dễ xâm nhập do thể trạng suy yếu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng.
Diệp Thiên S cho biết nguyên nhân nội phong do huyết suy yếu, thủy không được cân bằng khiến ngũ hành không phù hợp, dẫn đến mộc không thể phát triển xanh tươi Điều này khiến can (gan) bị căng cứng, nội phong nổi lên gây chứng trúng phong.
TBMMN thường xuất hiện ở người trên 60 tuổi, phù hợp với lý luận của YHCT về sự suy giảm chức năng tạng phủ theo tuổi: ở tuổi 50, Can suy; 60 tuổi, Tâm suy; 70 tuổi, Tỳ suy; 80 tuổi, Phế suy; 90 tuổi, Thận suy; và đến 100 tuổi, lục phủ ngũ tạng đều suy Khi người cao tuổi có chức năng tạng phủ giảm, khả năng phòng vệ yếu, tấu lý sơ hở, cùng với ngoại tà như phong tà dễ xâm nhập gây bệnh.
Nhƣ vậy, tuổi càng cao càng ễ m c chứng trúng phong
Trong nghiên cứu gồm 60 bệnh nhân, tỷ lệ nam giới chiếm đến 70% trong khi nữ giới chiếm 30%, tương đương tỷ lệ nam/nữ là 2,33/1 Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về giới tính giữa hai nhóm (p > 0,05), xác nhận sự phân bố giới đều đặn trong mẫu nghiên cứu.
Kết quả này khác iệt so với nghiên cứu Nguyễn Ch Thành (2017)[7], tỷ lệ ệnh nhân nam chiếm 53,33%, n chiếm 46,67%, tỷ lệ nam/n : 1,14/1
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam mắc chứng NMN cao hơn nữ, có thể liên quan đến các yếu tố nguy cơ như tiếp xúc và sử dụng chất kích thích như rượu bia, thuốc lá Thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng làm thay đổi nồng độ lipit máu, giảm HDL-Cholesterol, tăng huyết áp tạm thời, từ đó góp phần gây xơ vữa động mạch và làm tăng tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới Mặc dù giới tính không thể thay đổi, việc nâng cao nhận thức về sức khỏe và tuyên truyền chống hút thuốc có thể hạn chế tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng Tuy nhiên, cần nghiên cứu và theo dõi thêm để đưa ra kết luận chính xác hơn về các yếu tố này.
4.1.3 Về phân bố tổn thương trên lâm sàng
Bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân liệt nửa người phải cao hơn so với liệt nửa người trái, với tỷ lệ 56,67% (34/60 BN liệt nửa người phải) so với 41,67% (25/60 BN liệt nửa người trái) Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê, cho thấy không có sự chênh lệch đáng kể giữa hai nhóm bệnh nhân về tỉ lệ liệt nửa người phải và trái.
(p>0,05), điều đ n i lên phân ố 2 nh m c s tương đồng về vị tr tổn thương trên lâm sàng
Kết quả này khác so với một số nghiên cứu khác:
- Theo Phạm Thị Ánh Tuyết (2013) tỷ lệ nửa người trái chiếm 56.7% cao hơn ên phải với tỷ lệ 43,3%[29]
- Theo Nguyễn Ch Thành (2017), tỷ lệ liệt nửa người phải chiếm 53,3%, nhiều hơn số BN liệt ên trái[7]
Tuy nhiên, s khác nhau gi a vị tr liệt trên lâm sàng của các nghiên cứu đều kh ng c nghĩa thống kê
Các nghiên cứu trước đây thường có giới hạn về cỡ mẫu nhỏ, khiến cho việc đánh giá tỷ lệ mù vận động ở bên Trái hoặc Phải chưa thể toàn diện và chính xác Để khẳng định chính xác hơn về tỷ lệ bệnh liệt vận động, cần tiến hành các nghiên cứu trên diện rộng với cỡ mẫu lớn hơn để đảm bảo độ tin cậy và độ chính xác của kết quả.
4.1.4 Về tiền sử bệnh tật
Bảng 3.5 cho thấy: Qua nghiên cứu 60 ệnh nhân:
Trong nghiên cứu này, các bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất với 71,7%, tiếp theo là các bệnh lý về tim mạch với 26,67% và đái tháo đường chiếm 30% Về lối sống, tỷ lệ hút thuốc lá là 13,33% và nghiện rượu là 18,33%, phù hợp với các nghiên cứu khác trong cùng lĩnh vực.
Theo Helen Rogers và cộng s (2004) nhận thấy tỷ lệ các yếu tố nguy cơ tăng huyết áp 45.6%, hút thuốc lá 28.2 %
Theo Nguyễn Trương Đàn (2021), tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất với 66,7%, rối loạn lipit máu chiếm 29,8%, yếu tố ệnh khác 20,2%, ệnh tim mạch 3,5%, đái tháo đường 40,5%[31]
Nguyễn Tấn D ng (2012) Tỉ lệ ệnh nhân TBMMN c tiền sử tăng huyết áp là 79,7%[52]
Tăng huyết áp là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây đột quỵ và bệnh tim mạch ở người cao tuổi Bệnh có thể xuất hiện đơn độc hoặc phối hợp với các bệnh lý khác như đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipit, và các bệnh lý tim mạch khác, làm tăng nguy cơ biến chứng và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người cao tuổi.
Trong phòng tránh tai biến mạch máu não (TBMMN), việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là vô cùng quan trọng, cùng với kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ Tuy nhiên, nâng cao trình độ của bệnh nhân thông qua tư vấn giúp thay đổi lối sống và loại bỏ các thói quen độc hại như uống rượu, hút thuốc lá cũng đóng vai trò thiết yếu trong giảm nguy cơ mắc bệnh Các biện pháp phòng tránh TBMMN không thể xem nhẹ, vì chúng góp phần quan trọng trong quá trình điều trị và ngăn chặn tái phát, bảo vệ sức khỏe của người bệnh toàn diện.
4.1.5 Phân bố bệnh theo độ liệt Rankin, chỉ số Barthel và thang điểm Orgogozo
Bảng 3.5, 3.6, 3.7 cho thấy, bệnh nhân của hai nhóm lúc vào đều có mức độ liệt theo các chỉ số Rankin, Barthel và Orgogozo ở mức độ II, III, IV Phân loại bệnh nhân theo các độ liệt của hai nhóm không có sự khác biệt rõ rệt, cho thấy hai nhóm có đặc điểm về mức độ liệt tương đồng nhau.
Thang điểm Rankin đánh giá mức độ giảm khả năng vận động sau đột quỵ, từ không giảm đến nằm liệt giường, thường xuyên cần trợ giúp Kết quả phân tích cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân tập trung ở các mức độ nặng, trong đó hơn 90% bệnh nhân ở mức độ III và IV, phản ánh mức độ suy giảm chức năng vận động đáng kể sau đột quỵ.
Nghiên cứu của Nguyễn Công Doanh cho thấy phần lớn bệnh nhân trước điều trị có mức độ liệt theo thang điểm Rankin là từ mức độ III (93,33%), trong khi tỷ lệ bệnh nhân ở mức độ IV - V chỉ chiếm khoảng 4,44% và mức độ II là 2,22% Sự khác biệt về mức độ liệt giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05, cho thấy sự phân bố mức độ liệt không chênh lệch đáng kể giữa các nhóm nghiên cứu.
Thang điểm Barthel được sử dụng để đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân tai biến mạch máu não, dựa trên điểm số của mười hoạt động phục vụ bản thân như vệ sinh, mặc quần áo và di chuyển Kết quả cho thấy đa số bệnh nhân gặp khó khăn trong các hoạt động này, cần sự trợ giúp của người thân hoặc nhân viên y tế Trong nghiên cứu, có 90% bệnh nhân ở mức độ nặng (liệt độ III đến IV), trong khi chỉ 10% bị liệt độ II nhẹ hơn Phần lớn bệnh nhân đều có mức độ nặng theo thang điểm Barthel, với 96,7% trong số họ nằm ở nhóm nặng, còn lại chỉ 3,3% ở mức độ nhẹ Tuy nhiên, chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ liệt theo chỉ số Barthel trước điều trị giữa các nhóm với p > 0,05.
BÀN VỀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
4.2.1 Kết quả phục hồi vận động của phương pháp cấy chỉ
4.2.1.1 Hiệu quả điều trị theo độ liệt Rankin
Bảng 3.9 cho thấy ở nh m NC, tỷ lệ BN độ I và độ II (tình trạng nh ) trước điều trị chiếm 10%(3 BN), sau điều trị tăng lên 76,67%(25 BN) Tỷ lệ
Trước điều trị, tỷ lệ bệnh nhân ở độ IV và V (chứng nặng và rất nặng) chiếm 43,34% (13 bệnh nhân), nhưng sau điều trị không còn bệnh nhân nào ở các độ này Tiến triển về mức độ liệt theo thang điểm Rankin sau 28 ngày điều trị rõ rệt (p0,05).
Sau quá trình điều trị, tất cả các bệnh nhân đều được cải thiện về mức độ liệt, với tỷ lệ thành công lên đến 96,7% (29/30 bệnh nhân) Tỷ lệ đạt mức khá ở nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng đều bằng nhau, chiếm 30%, cho thấy phương pháp điều trị mang lại hiệu quả rõ rệt và ổn định trong cải thiện chức năng vận động của bệnh nhân.
1 BN ở mức kém ở nh m ĐC (3,3%), nh m NC kh ng c ệnh nhân nào S khác iệt chƣa c nghĩa thống kê (p>0,05)
Theo phân độ liệt Rankin, cả hai nhóm đều ghi nhận cải thiện chức năng vận động sau 28 ngày điều trị, với tỷ lệ cải thiện tốt hơn ở nhóm NC so với nhóm ĐC Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai nhóm chưa đạt mức ý nghĩa thống kê với p>0,05, cho thấy kết quả này không đủ mạnh để kết luận rõ ràng về hiệu quả vượt trội của nhóm NC so với nhóm ĐC.
Nghiên cứu này cho thấy kết quả tương đối khả quan khi so sánh với các tác giả khác về hiệu quả điều trị bệnh Thoái hóa mâm chày và đầu gối (TBMMN) bằng các phương pháp không dùng thuốc trong y học cổ truyền Các phương pháp này đã được chứng minh có tác dụng tích cực trong việc giảm các triệu chứng và cải thiện chức năng khớp, phù hợp với các nghiên cứu trước đó trong lĩnh vực y học cổ truyền Kết quả này củng cố thêm vai trò của các biện pháp không dùng thuốc trong điều trị TBMMN và mở ra tiềm năng ứng dụng rộng rãi hơn trong thực hành y học cổ truyền hiện đại.
Vương Thị Kim Chi (2009) đã nghiên cứu phương pháp xoa bóp và vận động kết hợp điện châm trong phục hồi chức năng vận động cho 94 bệnh nhân liệt nửa người độ VI theo thang điểm Rankin tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế Kết quả cho thấy, phương pháp này mang lại hiệu quả rõ rệt với tỷ lệ thành công lên đến 73,91%, góp phần nâng cao chất lượng phục hồi cho bệnh nhân liệt nửa người.
BN ịch chuyển đƣợc 1 độ liệt, 23,91% ịch chuyển đƣợc 2 độ liệt Tỷ lệ BN c tiến triển chiếm 97,82%[28]
Phạm Thị Ánh Tuyết (2013) đã sử dụng phương pháp cận tam châm sau 30 ngày điều trị, đạt tỷ lệ 37,2% bệnh nhân tiến triển được 2 độ liệt và 62,8% bệnh nhân giảm được 1 độ liệt Như vậy, phương pháp cận tam châm cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện độ liệt ở 100% số bệnh nhân tham gia nghiên cứu.
Nguyễn Ch Thành (2017) đã nghiên cứu sử dụng phương pháp cấy chỉ catgut trong phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân NMN sau giai đoạn cấp, cho thấy tất cả các bệnh nhân đều cải thiện độ liệt Tỷ lệ bệnh nhân đạt kết quả tốt là 71,1%, trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân cải thiện mức khá chiếm 28,9%, phản ánh hiệu quả tích cực của phương pháp này trong quá trình phục hồi chức năng vận động sau đột quỵ.
Kết quả chuyển đổi độ liệt Rankin trong nghiên cứu của chúng tôi và các nghiên cứu tương đương cho thấy phương pháp cấy chỉ catgut lên các huyệt vùng cổ và lưng có hiệu quả cao trong phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân NMN Phương pháp này chứng tỏ hiệu quả lâm sàng tương đương với các phương pháp không dùng thuốc khác của Y học cổ truyền, góp phần nâng cao khả năng điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
4.2.1.2 Hiệu quả điều trị theo chỉ số Bart hel
Chỉ số này được đề xuất sử dụng trong lâm sàng từ năm 1965 để đánh giá khả năng hoạt động độc lập của bệnh nhân trong các sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, tắm rửa, vệ sinh cá nhân, chăm sóc bản thân, chuyển từ giường sang ghế, đi bộ trên mặt phẳng hoặc leo cầu thang.
Trước điều trị, có 56,67% bệnh nhân ở độ IV, nhưng sau 4 năm điều trị, số bệnh nhân chuyển lên độ I, II chiếm 56,67%, và không còn ai ở độ IV, cho thấy quá trình phục hồi rõ rệt chức năng sinh hoạt hằng ngày Sự khác biệt trước và sau điều trị đạt ý nghĩa thống kê (p0,05)
- Bảng 3.12 và iểu đồ 3.2 cho thấy: trước điều trị điểm trung ình Barthel của nh m NC là 26,00±20,00, nh m ĐC là 25,00±12,00 S khác iệt kh ng c nghĩa thống kê p>0.05,
Sau 14 ngày điều trị, điểm trung bình của chỉ số Barthel ở nhóm người chăm sóc (NC) đạt 36,00±21,00, trong khi nhóm đối chứng (ĐC) là 35,00±13,00 Kết quả cho thấy, nhóm người chăm sóc có sự cải thiện về chức năng vận động, thể hiện qua điểm trung bình của chỉ số Barthel cao hơn so với nhóm đối chứng sau quá trình điều trị.
(p>0,05) Điểm trung ình Barthel tại thời điểm D28 của nh m NC là: 52,00±20,00; của nh m ĐC là: 46,00±12,00 S khác iệt c nghĩa thống kê với p < 0,05
Mức chênh trung ình điểm Barthel tại thời điểm D28 và D0 ở nh m NC là: 26,00±17,64, ở nh m ĐC là: 21,5±12,26, s khác iệt c nghĩa thống kê với p 0,05, đều nằm trong giới hạn bình thường, cho thấy phối hợp cấy chỉ sử dụng trên lâm sàng không ảnh hưởng đến chức năng gan, thận hoặc các chỉ số sinh hóa.
Sau 28 ngày điều trị theo phác đồ nghiên cứu, không ghi nhận sự thay đổi đáng kể về chức năng hệ thống tạo máu cũng như chức năng gan, thận của nhóm bệnh nhân nghiên cứu Các kết quả này cho thấy phác đồ điều trị an toàn và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến các chức năng quan trọng của cơ thể Điều này làm tăng độ tin cậy của phương pháp điều trị mới trong việc duy trì chức năng sinh lý của bệnh nhân.