1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật lý luận và thực tiễn

15 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật - Lý luận và thực tiễn
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thảo
Người hướng dẫn Nguyễn Ngọc Thảo Phương
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 198,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN Môn thi PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG Họ và tên sinh viên NGUYỄN THỊ THANH THẢO MSSV Lớp học phần LỜI MỞ ĐẦU Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm sự tồn tại và vận hành của xã hội nói chung và nhà nước nói riêng.Pháp luật là một công cụ quản lý xã hội hữu hiệu của nhà nước,việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một vấn đề tất yếu khách quan điều đó không chỉ xây dựng một xã hội ổn định, kỷ cương, văn minh mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị tốt đẹp, điều chỉnh, ngăn chặn và làm giảm thiểu những hậu quả tiêu cực do con người gây ra và một trong số đó là vi phạm pháp luật.Như chúng ta đã biết vi phạm pháp luật là hiện tượng gây nguy hiểm tác động tiêu cực đến các mặt trong đời sống, làm mất trật tự xã hội. Do vậy để tìm hiểu về vấn đề vi phạm pháp luật đặc biệt là các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc góp phần đề ra những biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật trong xã hội.Và để hiểu rõ hơn vấn đề này thì sau đây chúng ta hãy cùng cùng nhau đi sâu và tìm hiểu kĩ hơn về “Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luậtlý luận và thực tiễn” .

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN Môn thi: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ THANH THẢO

THÔNG TIN BÀI THI

Bài thi có: (bằng số): …10… trang

(bằng chữ): mười… trang

ĐỀ THI/ĐỀ TÀI

04 /CÁC YÊU TỐ CẤU THÀNH VI PHẠM PHÁP LUẬT-LÝ LUẬN VÀ

THỰC TIỄN

BÀI LÀM

Trang 2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT KINH TẾ

TIỂU LUẬN

Đề tài

CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VI

PHẠM PHÁP LUẬT –LÝ

LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN NGỌC THẢO PHƯƠNG Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ THANH THẢO

Mã số sinh viên:

Lớp HP:

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11, năm 2021

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT 2

1. Khái niệm vi phạm pháp luật 2

2. Dấu hiệu của vi phạm pháp luật 3

CHƯƠNG 2:CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VI PHẠM PHÁP LUẬT 3

1 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật 3

1.1. Mặt khách quan của vi phạm pháp luật 3

1.1.1.Hành vi trái pháp luật 3

1.1.2.Hậu quả nguy hiểm cho xã hội 4

1.1.3.Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi-hậu quả 4

1.2. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật 5

1.2.1. Lỗi 5

1.2.1.1.Lỗi cố ý 5

1.2.1.1.1. Lỗi cố ý trực tiếp 5

1.2.1.1.2. Lỗi cố ý gián tiếp 5

1.2.1.2. Lỗi vô ý 6

1.2.1.2.1. Lỗi vô ý vì cẩu thả 6

1.2.1.2.2. Lỗi vô ý vì quá tự tin 6

1.2.2. Động cơ vi phạm pháp luật 7

1.2.3. Mục đích vi phạm pháp luật 7

1.3. Chủ thể của vi phạm pháp luật 7

1.4. Khách thể của vi phạm pháp luật 8

2.Tình huống áp dụng 8

2.1. Tình huống 1 8

2.2. Tình huống 2 8

KẾT LUẬN 10

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng Nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm sự tồn tại và vận hành của xã hội nói chung và nhà nước nói riêng.Pháp luật là một công cụ quản lý xã hội hữu hiệu của nhà nước,việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một vấn đề tất yếu khách quan điều đó không chỉ xây dựng một xã hội ổn định, kỷ cương, văn minh mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị tốt đẹp, điều chỉnh, ngăn chặn và làm giảm thiểu những hậu quả tiêu cực do con người gây ra và một trong số đó là vi phạm pháp luật.Như chúng ta đã biết vi phạm pháp luật

là hiện tượng gây nguy hiểm tác động tiêu cực đến các mặt trong đời sống, làm mất trật tự xã hội Do vậy để tìm hiểu về vấn đề vi phạm pháp luật đặc biệt là các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc góp phần đề ra những biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật trong xã hội.Và để hiểu rõ hơn vấn đề này thì sau đây chúng

ta hãy cùng cùng nhau đi sâu và tìm hiểu kĩ hơn về “Các yếu tố cấu thành vi

phạm pháp luật-lý luận và thực tiễn”

Trang 5

CHƯƠNG 1 :LÝ LUẬN CHUNG VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT

1. Khái niệm vi phạm pháp luật

Vi phạm pháp luật là một hiện tượng nguy hiểm, tác động tiêu cực và làm mất ổn định xã hội Tính nguy hiểm thể hiện ở chỗ nó xâm hại đến các lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức,nhà nước cũng như toàn của xã

hội.Như vậy ta có thể thể hiểu:

“Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng

lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ”.

2. Dấu hiệu của vi phạm pháp luật

-Thứ nhất: vi phạm pháp luật luôn là hành vi xác định của các chủ thể pháp

luật.Bởi các quy định của pháp luật được nhà nước đặt ra là để điều chỉnh hành vi của các chủ thể pháp luật.Hành vi có thể là xử sự của con người được thể hiện ở dưới dạng hành động hoặc không hành động

-Thứ hai: vi phạm pháp luật không những là hành vi xác định mà hành vi đó

phải trái với các quy định của pháp luật xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ (quyền của công dân, tài sản của Nhà nước …).Hành vi trái pháp luật là tức là xử sự trái với các yêu cầu của pháp luật và được thể hiện dưới các hình thức sau:

+Chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm như đi xe máy vào đường ngược chiều, mua bán tàng trữ ma tuý …

+Chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện như nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà,cha mẹ…

+Chủ thể sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép.Ví dụ như hội đồng thi tuyển lạm dụng quyền lực để thí sinh của mình đạt được điểm cao hay trưởng thôn lạm quyền để bán đất công cho một số cá nhân nhất định

-Thứ ba :vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật nhưng hành vi trái pháp

luật đó phải chứa đựng lỗi của chủ thể hành vi Lỗi ở đây là trạng thái tâm lí phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình

có thể là cố ý hay vô ý.Lỗi là yếu tố không thể thiếu là cơ sở để xác định trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể của hành vi vi phạm pháp luật Nếu như một hành vi mặc dù trái pháp luật nhưng được thực hiện trong trường hợp không thể lựa chọn hoặc là thực hiện trong trường hợp mất tự do thì chủ thể không

bị coi là có lỗi và hành vi đó không phải là vi phạm pháp luật

Trang 6

Chẳng hạn khi gặp người không biết bơi bị té xuống ao, người bị rắn độc cắn, trong khi bản thân không có điều kiện cứu giúp dẫn đến hậu quả chết người thì hậu quả này không đến từ lỗi của mình gây ra tức không được xem

là vi phạm pháp luật

Thứ tư: hành vi trái pháp luật đó phải do chủ thể có năng lực trách nhiệm

pháp lí thực hiện nghĩa là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.Theo quy định của pháp luật, chủ thể là

cá nhân sẽ có năng lực này khi đạt đến một độ tuổi nhất định và trí tuệ phát triển bình thường Đó là độ tuổi mà sự phát triển về trí lực và thể lực đã cho phép chủ thể nhận thức được hành vi và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội.Chủ thể là tổ chức sẽ có khả năng này khi được thành lập hoặc được công nhận

Cụ thể như một người mắc bệnh tâm thần mất năng lực hành vi đánh người gây thương tích mặc dù đủ để coi là vi phạm pháp luật nhưng theo quy định của pháp luật thì người này sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Tóm lại, một hiện tượng cụ thể chỉ bị coi là vi phạm pháp luật khi chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu trên Chỉ những hành vi trái pháp luật của người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện trong trường hợp có lỗi mới bị coi là

vi phạm pháp luật

CHƯƠNG 2:CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VI PHẠM PHÁP LUẬT

1 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật

Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật là những dấu hiệu pháp lý đặc trưng về một tội phạm cụ thể nào đó,những dấu hiệu này phản ánh đúng bản chất của chính tội phạm nhất định, theo đó phân biệt được tội phạm này với tội phạm khác bao gồm gồm 4 yếu tố cấu thành là: mặt khách quan; mặt chủ quan; chủ thể và khách thể

1.1. Mặt khách quan của vi phạm pháp luật

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm pháp luật Nó bao gồm các yếu tố chính như hành vi trái pháp luật, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan

hệ nhân quả giữa hành vi-hậu quả

1.1.1 Hành vi trái pháp luật

Hành vi trái pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội ,trái với các yêu cầu của pháp luật, nó gây ra hoặc đe doạ gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã

Trang 7

hội được thực hiện dưới hai hình thức hành động (chủ thể có hành vi bị pháp luật cấm: giết người,vượt đèn đỏ…) và không hành động (chủ thể không thực hiện sự bắt buộc của pháp luật:trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ quân sự )

1.1.2 Hậu quả nguy hiểm cho xã hội

Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là hậu quả mà hành vi trái pháp luật đó gây

ra những thiệt hại cho xã hội như thiệt hại về vật chất ( tài sản bị phá huỷ, bị chiếm giữ, bị sử dụng trái phép ) về thể chất (tính mạng, sức khỏe của con người) hoặc thiệt hại phi vật chất (danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của con người,…).Bất cứ một vi phạm pháp luật nào cũng có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra những hậu quả nhất định Hậu quả của vi phạm chính là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật

1.1.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi -hậu quả

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả có mối quan hệ nội tại và tất yếu với nhau Hành vi đã chứa đựng mầm mống gây ra hậu quả hoặc là nguyên nhân trực tiếp của hậu quả nên nó phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; còn hậu quả phải là kết quả tất yếu của chính hành vi đó mà không phải là của một nguyên nhân khác Việc xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi-hậu quả chính là căn cứ quan trọng để truy cứu trách nhiệm pháp lí

Ví dụ: P bị phát hiện là treo cổ chết Tuy nhiên, qua khám nghiệm tử thi không cho thấy các dấu hiệu của chết treo cổ như thè lưỡi, xuất tinh, tiểu Mặt khác, trong dạ dày của P có một loại chất độc và theo kết luận là P chết

do loại chất độc đó chứ không phải là hành vi treo cổ Như vậy,hành vi treo

cổ xảy ra sau hậu quả chết người cho nên hành vi treo cổ sẽ không có mối quan hệ nhân quả với hậu quả này

Để làm rõ hơn vấn đề,ta xét thêm một ví dụ khác:Anh D đi xe máy khi tham gia giao thông ,trong lúc băng qua đường do không nhìn trước nhìn sau nên đã lỡ đâm vào anh H hậu quả làm cho anh H bị thương nặng phải vào bệnh viện, sau khi làm anh H bị thương thì anh D đã đưa anh đi vào bệnh viện chữa trị.Do vết thương của anh H quá nặng cần phải mổ để chữa trị vết thương nhưng vết thương đó có thể lành và hoàn toàn không gây nguy hiểm tới tính mạng của anh H nhưng trước khi mổ bác sĩ đã không xét nghiệm máu

từ trước cho anh H kết quả là anh H đã tử vong trong lúc mổ do mất nhiều máu vì máu khó đông.Như vậy trong trường hợp này, tuy anh D gây ra vết

Trang 8

thương cho anh H nhưng đây không phải là nguyên nhân dẫn đến cái chết của anh H cho nên anh D chỉ phạm tội vô ý gây thương tích nặng cho nạn nhận còn nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của anh B chính là do sự bất cẩn của bác sĩ,vậy bác sĩ mới là người phải chịu trách nhiệm pháp lý về hậu quả chết người này

Ngoài ra các yếu tố trên thì mặt khách quan của vi phạm pháp luật còn có các yếu tố khác như:

-Thời gian (giờ, ngày, tháng, năm ),địa điểm xảy ra vi phạm pháp luật

-Công cụ, phương tiện vi phạm pháp luật là cái mà chủ thể sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm,cụ thể như dao để chém người, xe máy để đi cưóp giật -Phương pháp,thủ đoạn: là cách thức thực hiện hành vi vi phạm, bao gồm cách thức tiến hành hành vi, cách thức sử dụng công cụ phương tiện ví dụ như cấu kết,dàn cảnh để cướp giật tài sản hay giả danh người có chức vụ quyền hạn để lừa đảo trên mạng xã hội Những yếu tố này cũng ít nhiều phản ánh tính chất nguy hiểm của vi phạm pháp luật

Vậy khi xem xét mặt khách quan của vi phạm pháp luật thì hành vi trái

pháp luật luôn luôn là yếu tố bắt buộc phải xác định trong cấu thành của mọi

vi phạm pháp luật, còn các yếu tố khác có bắt buộc phải xác định hay không

là tuỳ từng trường hợp vi phạm Có trường hợp hậu quả nguy hiểm cho xã hội

và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng

là yếu tố bắt buộc phải xác định, có trường hợp địa điểm vi phạm cũng là yếu

tố bắt buộc phải xác định

1.2. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật

Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật Nó bao gồm các yếu tố: lỗi, động cơ, mục đích vi phạm pháp luật

1.2.1 Lỗi

Lỗi là trạng thái tâm lý hay thái độ của chủ thể đối với hành vi của mình

và đối với hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội được thể hiện dưới hai hình thức: cố ý hoặc vô ý

1.2.1.1. Lỗi cố ý

Lỗi cố ý lại gồm 2 loại: cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp

Trang 9

Cố ý trực tiếp là chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra

Chẳng hạn như anh A,anh C là hàng xóm với nhau do nhà anh A có tiệc mừng nên mời C qua chung vui.Lúc đầu bầu không khí của buổi tiệc rất vui

vẻ nhưng sau đó vì uống quá say anh A đã có đôi lời xúc phạm tới anh C khiến đôi bên lời qua tiếng lại.Do bực tức,C đã dùng dao đâm A và có ý muốn giết A.Vậy rõ ràng khi đâm A,C hoàn toàn ý thức được việc mình làm là nguy hiểm và mong muốn hậu quả chết người người xảy ra.Cho nên hành vi giết người của anh C là cố ý trực tiếp

Cố ý gián tiếp là chủ thể khi thực hiện một hành vi trái pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành

vi đó, tuy không mong muốn song có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra

Cụ thể gia đình ông G trong lúc thi công đổ mái nhà đã làm rơi một ván gỗ xuống dưới đường dẫn tới anh M bị tử vong do vô tình đi ngang qua đó và bị ván gỗ rơi trúng người Dù biết nhà gần đường và có nhiều người qua lại nhưng ông G vẫn không làm biện pháp phòng tránh nào dẫn tới hậu quả anh

M tử vong Vậy hành vi của ông G là hành vi cố ý gián tiếp để mặc hậu quả xảy ra dù đã biết trước

1.2.1.2. Lỗi vô ý

Lỗi vô ý cũng gồm 2 loại: vô ý vì cẩu thả và vô ý vì quá tự tin

Vô ý vì cẩu thả là chủ thể đã gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng

do cẩu thả nên không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù có thể thấy trước và phải thấy trước hậu quả này

Ví dụ chị Q là kế toán doanh nghiệp của Công ty X Được biết khi nhập dữ liệu chị đã bỏ sót một con số 0 trong số tiền cần chuyển cho đối tác.Hành vi này của Q đã khiến công ty X bị thiệt hại nặng nề.Đối với bản thân chị Q là một kế toán thì cần phải biết chỉ cần một sơ xuất nhỏ có thể gây ra hậu quả không mong muốn.Đây được xem là lỗi vô ý do cẩu thả của chị Q

Trang 10

Vô ý vì quá tự tin là chủ thể tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây

ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội song tin chắc rằng hậu quả đó sẽ không xảy

ra hoặc cỏ thể ngăn ngừa được nên mới thực hiện

Ví dụ: Anh L thường xuyên dọa nạt, có những lời lẽ không hay để làm nhục

K K nhiều lần nói là sẽ tự tử nếu L tiếp tục có hành vi như vậy Tuy nhiên, L cho rằng K là người nhút nhát,rụt rè nên không có gan để thực hiện hành vi

đó, kết quả là K đã tự tử vì không thể tiếp tục chịu đựng những lời đe dọa, làm nhục của L nữa.Vậy L vì quá tin tưởng vào suy tính của bản thân nên đã gây ra cái chết của K cho nên hành vi của L được coi là lỗi vô ý vì quá tự tin

1.2.2 Động cơ vi phạm pháp luật

Động cơ vi phạm pháp luật là động lực tâm lý bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật.Ví dụ theo Điều 248 Bộ luật Hình sự năm

2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về Tội đánh bạc - động cơ phạm tội

là các con bạc sát phạt nhau.Như vậy chỉ những vi phạm pháp luật với lỗi cố

ý mới có yếu tố động cơ bởi vì khi thực hiện hành vi họ không nhận thức trước hành vi của mình là vi phạm pháp luật hoặc hoàn toàn tin rằng hành vi của mình là không vi phạm pháp luật.Trong thực tế cho thấy nhiều trường hợp vi phạm pháp luật, chủ thể còn có thể được thúc đẩy bởi các động cơ khác như ghen tuông, đố kị, thù tức, tham lam,vụ lợi hay sĩ diện .

1.2.3 Mục đích vi phạm pháp luật

Mục đích vi phạm pháp luật là cái đích trong tâm lý hay kết quả cuối cùng

mà chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi trái pháp luật Chỉ những vi phạm với lỗi cố ý trực tiếp mới có yếu tố mục đích, bởi vì chỉ trong trường hợp này, người vi phạm mới mong muốn đạt được kết quả nào đó bằng việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Xét theo ý nghĩa xã hội và nội dung của mục đích ta có thể chia mục đích phạm tội thành 3 loại: mục đích chống chính quyền(các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia),mục đích cá nhân (bao gồm cả mục đích tư lợi) và những mục đích khác

Cần phân biệt mục đích vi phạm pháp luật với hậu quả của vi phạm pháp luật Hậu quả là kết quả xảy ra trên thực tế của hành vi vi phạm, còn mục đích

là kết quả trong ý thức mà chủ thể mong muốn đạt được, nó nảy sinh trước khi thực hiện hành vi.Hậu quả xảy ra có thể trùng hợp với mục đích nhưng cũng có thể khác so với mục đích mà chủ thể mong muốn Điều này là do những yếu tố khách quan và chủ quan chi phối quá trình thực hiện hành vi của chủ thể

Ngày đăng: 25/01/2023, 23:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w