PAGE ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TUYỂN THƠ “GIÓ VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI” CỦA LƯU QUANG VŨ Ngành Văn học Việt Nam Mã ngành 822 0121 LUẬN VĂN THẠC SĨ.
Trang 1CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TUYỂN THƠ
“GIÓ VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI”
CỦA LƯU QUANG VŨ
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 822.0121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu (Lịch sử vấn đề) 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Cấu trúc của luận văn 5
7 Đóng góp của luận văn 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ NHÀ THƠ LƯU QUANG VŨ 7
1.1 Chủ nghĩa hiện sinh là gì 7
1.1.1 Vài nét về sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh 7
1.1.2 Một số phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh 9
1.2 Lưu Quang Vũ - cuộc đời, sự nghiệp và quan niệm nghệ thuật 13
1.2.1 Vài nét về tiểu sử Lưu Quang Vũ 13
1.2.2 Sự nghiệp văn chương của Lưu Quang Vũ 14
1.2.3 Quan niệm nghệ thuật trong thơ Lưu Quang Vũ 15
Tiểu kết chương 1 18
Chương 2 CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TUYỂN THƠ GIÓ VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI CỦA LƯU QUANG VŨ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 19
2.1 Cảm thức hiện sinh về nỗi cô đơn và khao khát đi tìm cái tôi bản thể19 2.1.1 Con người nghệ sĩ cô đơn 20
2.1.1.1 Con người cô đơn trên hành trình truy tìm bản thể 24
2.1.1.2 Nỗi cô đơn trong chính bản thân nhà thơ 26
2.1.1.3 Nỗi cô đơn trở thành sức mạnh 27
2.1.2 Con người hoài nghi, tự vấn 31
Trang 32.1.3 Con người với khát vọng tình yêu 35
2.2 Cảm thức hiện sinh về chiến tranh và nỗi khắc khoải nhân sinh 41
2.2.1 Sử hủy hoại của chiến tranh 42
2.2.2 Thân phận con người trong chiến tranh 48
Tiểu kết chương 2 56
Chương 3 CẢM HỨNG HIỆN SINH TRONG TUYỂN THƠ GIÓ VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI CỦA LƯU QUANG VŨ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 58
3.1 Điểm nhìn trần thuật 58
3.2 Không gian nghệ thuật 63
3.3 Ngôn từ mang dấu ấn cảm thức hiện sinh 66
Tiểu kết chương 3 75
KẾT LUẬN 77
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta có thể nhìn thấy rằng,trong cuộc sống này có rất nhiều nhữngthứ nằm giữa làn ranh giới và trên các đường biên và triết học hiện sinh cũngvậy Từng gây chấn động vô cùng to lớn ở Châu Âu và tác động cả sang cácvùng lãnh thổ khác với một làn sóng vô cùng mạnh mẽ và cũng vấp phảikhông ít những cái nhìn kì thị, thế nhưng triết học hiện sinh vẫn có những ảnhhưởng vô cùng lớn đến tư tưởng của con người trong thế kỉ XX Không chỉphát triển mạnh ở Châu Âu, nó còn lan tỏa ra khắp các nước ở Châu Á Trong
đó đáng chú ý nhiều nhất đó là hai quốc gia Nhật Bản và Việt Nam Triết họchiện sinh đã ảnh hướng vô cùng lớn đến thơ ca của rất nhiều các tác giả lớn,nhỏ ở Việt Nam, trong đó có nhà thơ Lưu Quang Vũ
Ông nổi tiếng từ khá sớm Khi đó Lưu Quang Vũ chỉ mới có hai mươituổi và ông còn trong quân ngũ Ông đã sáng tác đầu tay đó là tập thơ Hươngcây và được in chung cùng với tập thơ Bếp lửa của Bằng Việt năm 1968 Tậpthơ của ông vừa ra đời nó giống như một tiếng nổ lớn khi được sự đón nhậnmột cách nồng nhiệt bởi vì sự trong trẻo, thiêng liêng đầy tin cậy và mộtgiọng thơ đắm đuối trong những vần thơ của ông Ngay từ những vần thơ đầutiên Lưu Quang Vũ đã lọt vào mắt xanh của các nhà phê bình văn học nổitiếng trong giới văn học nghệ thuật
Sự nghiệp làm thơ của ông thì vô cùng phong phú Ông viết phê bìnhnghệ thuật văn học, viết truyện và 55 vở kịch bản đã đưa tên tuổi Lưu Quang
Vũ trở thành một tác giả lớn Tuy nhiên, đối với ông thơ mới là thể loại cósức hấp dẫn nhất Những người yêu mến Lưu Quang Vũ khẳng định rằng thơmới chính là “hồn cốt” của ông, là nơi “anh kí thác nhiều nhất” là “phần tâmhuyết nhất của cuộc đời anh”, “về lâu dài đóng góp của Lưu Quang Vũ về thơcòn lớn hơn kịch” Các sáng tác của Lưu Quang Vũ dường như đã làm bộc lộlên tài nặng của ông và chính những tác phẩm đó đã được nghiên cứu rộng
Trang 5rãi Đặc biệt nhất là tuyển thơ “gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” được
chọn lọc từ các tập thơ đã công bố và đặc biệt là các bài thơ trong tập “Cuốnsách xếp lầm trang” mà trước khi qua đời Lưu Quang Vũ chưa kịp xuất bảncũng được xuất hiện trong tuyển thơ này Tập thơ sử dụng hình ảnh và giọngthơ biểu cảm để làm nổi bật các cảm hứng trong văn chương Việt Nam
Trước những vần thơ hay, trong trẻo và lôi quấn người đọc ấy đã thôi
thúc tôi làm đề tài: “Cảm thức hiện sinh trong tuyển thơ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ” nhằm đi sâu thêm về cảm hứng hiện
sinh trong tuyển thơ “gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” và cũng là để cảmnhận được tài năng của tác giả cũng như nhìn nhận, đánh giá thêm về giá trịcủa tác phẩm
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu (Lịch sử vấn đề)
Khi nhắc tới Lưu Quang Vũ, người ta nghĩ ngay đến ông với cương vị
là một nhà viết kịch nổi tiếng, còn thơ của ông thì được biết tới ít hơn tronggiai đoạn đó Trước lúc mất ông mới có duy nhất một tập thơ được in chungvới Bằng Việt Nhưng về sau thì các tập thơ của ông như một điểm sáng thuhút rất nhiều các nhà phê bình văn học tìm đến
Có rất nhiều các nhà phê bình văn học nổi tiếng của Việt Nam khi đọc
xong các tác phẩm của Lưu Quang Vũ và khẳng định “ông là một con người
vô cùng tài năng”:
Đầu tiên chính là bài viết của Hoài Thanh về Lưu Quang Vũ “một cây bút trẻ” nhưng đầy triển vọng Bằng “đôi mắt xanh” của một nhà lí luận phê
bình đã sống chết với thơ từ thời đầu chiến tranh, ông dự cảm về một Lưu
Quang Vũ của tương lai: “Thơ văn ta nói về tình quê hương đã có những lời thật thiết tha, đằm thắm… bao nhiêu tầng lớp nhà thơ nói hoài vẫn không trùng, không cạn Đến lượt mình, Lưu Quang Vũ đã góp tiếng nói của anh Một tiếng nói nhỏ nhẹ mà sâu” [58, 11] “Cảm xúc của anh thường nhuần nhị, lời thơ cũng thời nhuần nhị Ý có khi mượn chỗ này chỗ nọ nhưng giọng
Trang 6thì đúng là giọng của anh” và cuối cùng Hoài Thanh cho rằng “Năng khiếu của anh đã rõ Miễn anh đi đúng, nhất định anh sẽ đi xa” [58, 11]
Còn theo Vũ Quần Phương, mọi người chỉ biết đến Vũ là một nhà viết
kịch nổi tiếng nhưng thơ mới là nơi Lưu Quang Vũ tâm đắc nhất: “… Nhưng đọc hết các bản thảo anh để lại, tôi thấy thơ mới là nơi anh ký thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thắng được thời gian” Ông cũng
đãng từng phát hiện sự khác biệt trong thơ Vũ ở giai đoạn đó với các nhà thơ
khác: “đặc biệt là một giọng thơ rất đắm đuối”, “đắm đuối là một đặc điểm của suốt đời Lưu Quang Vũ”, “cái giọng say đắm, đắm đuối của Lưu Quang
Vũ lúc ấy rất được mến chuộng”, “đắm đuối là bản sắc cảm xúc của Lưu Quang Vũ”
Bên cạnh đó còn nhiều các bài viết khác cũng đều thể hiện tình cảm vớiLưu Quang Vũ và công nhận tài năng của ông Bùi Bích Hạnh đã nhìn nhận,đánh giá các nhà thơ giai đoạn 1965 - 1975, trong đó nhắc đến Lưu Quang Vũkhá nhiều Đó là cái tôi trữ tình, cái tôi day trở, đa đoan nhưng lại thấm tình
người và tình dân tộc dù trải qua bao đổ vỡ thì “cái tôi trữ tình trong thế giới nghệ thuật ấy vẫn đến được thềm cao của niềm tin, vẫn lấy lại tin yêu từ trong cõi sống” của Lưu Quang Vũ Từ những nhận xét trên đã một phần làm nổi
bật sự thành công trong việc thể hiện cảm xúc hiện sinh trong các bài thơ củaLưu Quang Vũ
Tuy nhiên, có thể thấy rằng việc nghiên cứu thơ Lưu Quang Vũ ởphương diện nội dung và nghệ thuật mới có một số bài viết riêng lẻ hoặc một
số các luận văn, luận án chứ chưa có công trình nào làm nổi bật được bản sắcthơ của Lưu Quang Vũ Chính vì thế, với những tìm tòi và nghiên cứu được,tôi đã nhận thấy cần phải đi sâu hơn, vận dụng thực tế để tìm hiểu thêm cảm
hứng hiện sinh trong gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi Đó không chỉ là để
hiểu thêm về tập thơ về tác giả mà còn nhằm mục đích tạo thêm những hướng
đi mới trong nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cảm thức hiện sinh trong tuyển
tập thơ “gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” của Lưu Quang Vũ.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tuyển thơ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ.
3.3 Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài: Cảm hiện sinh trong tuyển thơ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ, chúng tôi nhằm mục đích sử dụng triết
học hiện sinh như một cơ sở lý thuyết để luận giải, cảm thức hiện sinh trongthơ của ông
Trên cơ sở đó, chúng tôi giải mã, làm rõ những biểu hiện cảm thức hiệnsinh trong thơ Lưu Quang Vũ nhìn từ phương diện nội dung tư tưởng cũngnhư nghệ thuật biểu hiện
Từ đó, chúng tôi mong muốn xác lập vị trí, vai trò, đóng góp của thơLưu Quang Vũ trên thi đàn văn thơ Việt Nam nói chung
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát những vấn đề có liên quan đến cảm thức hiện sinh trongsáng tác thơ của Lưu Quang Vũ
- Đưa ra góc nhìn và hướng tiếp cận mới cả về nội dung và nghệ thuật
trong tuyển thơ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi trong mối tương quan
với vấn đề hiện sinh
- Phân tích, làm sáng tỏ những biểu hiện cảm thức hiện sinh trong tuyển
thơ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi.
Trang 84.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp nhận lý thuyết về cảm thức hiện sinh trong tuyển thơ
gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, luận văn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đây là phương pháp nghiên cứu chủđạo Phương pháp này giúp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề hiệnsinh trong thơ Lưu Quang Vũ một cách khái quát nhất
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: Đây là phương pháp làm nổi bậtnhững đặc điểm chung và đặc điểm riêng với các tác giả cùng thời Đặc biệt
là ở góc độ thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ với thơ Nguyễn Vỹ,Xuân Diệu
- Phương pháp hệ thống: Tìm hiểu tác phẩm trong mối liên hệ chặt chẽgiữa văn học và văn hoá cần một cái nhìn hệ thống để nhìn nhận tác phẩmkhông nằm ngoài những giá trị văn hoá của dân tộc Việt Nam, chính vì vậy,chúng tôi vận dụng phương pháp nghiên cứu này để đưa ra cái nhìn khái quát,toàn diện hơn về tác phẩm
- Ngoài ra trong luận văn các phương pháp nghiên cứu chứng minh,thuyết minh luôn được vận dụng song hành, thuần thục và liên tục để làm nổibật vấn đề
5 Phạm vi nghiên cứu
Tuyển thơ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ.
6 Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Khái quát về chủ nghĩa hiện sinh và nhà thơ Lưu Quang Vũ
Chương 2: Cảm thức hiện sinh trong tuyển thơ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ nhìn từ phương diện nội dung.
Chương 3: Cảm thức hiện sinh trong tuyển thơ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ nhìn từ phương diện nghệ thuật.
Trang 97 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn dự kiến sẽ đem lại những đóng gópsau đây:
- Khái quát lịch sử hình thành của thuyết hiện sinh cũng như việc tiếpnhận triết thuyết hiện sinh trong nghiên cứu văn học của Việt Nam trước vàsau đổi mới
- Nắm được những vấn đề hiện sinh phản ánh lưu dấu trong tuyển thơLưu Quang Vũ
- Đưa ra một góc tiếp cận mới về tuyển thơ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ Hướng tiếp cận từ cảm thức hiện sinh.
Trang 10NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ NHÀ
THƠ LƯU QUANG VŨ 1.1 Triết học hiện sinh là gì
1.1.1 Vài nét về sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh khi ra đời là một khuynh hướng xuất hiện ở Ngatrước thế chiến thứ I với các đại diện như L.I Shestov, N.A Berdyaev Sau
đó được các nhà nghiên cứu về hiện sinh Đức tiếp nhận như MartinHeidegger, C Jaspers Trong thời kỳ chiến tranh thời giới lần II, chủ nghĩahiện sinh thật sự đạt được đỉnh cao phát triển, được phổ biến rộng rãi ở Châu
Âu và Mĩ qua các triết học gia hiện sinh nổi tiếng của Pháp như J.P Sartre, A.Camus, S de Beauvoir Theo thời gian, chúng ta đã nhận thấy được rằng, triếthọc hiện sinh đang được hầu như tất cả mọi người chấp nhận rồi lý luận hóa,trừu tượng hóa nó thành một trường phái triết học, một phong trào xã hội có
ảnh hưởng tới giới trẻ:“Người ta từ bỏ tuyên ngôn của Descaters tôi tư duy vậy tôi hiện hữu mà thay vào đó bằng sự sùng bái lý trí tôi cảm giác vậy tôi hiện hữu Tư duy bằng lý trí và cảm giác bằng trái tim” [9; 11].
Ở phương Tây vào nửa đầu thế kỉ XIX, cho đến giữa thế kỉ XX, chủnghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa được các tầng lớp đón nhận một cách nhiệttình, và chính nhờ điều đó hiện sinh đã tạo nên trong lịch sử triết học, một lànsóng mạnh mẽ, lan tỏa không chỉ rộng khắp Châu Âu mà nó còn rộng khắp cảthế giới
Ở Việt Nam hiện sinh cũng được đón nhận một cách nồng hậu ở trongMiền Nam Chủ nghĩa hiện sinh đã có những tác động không hề nhỏ, khôngchỉ trong đời sống văn học mà trong cả đời sống xã hội ở miền Nam lúc bấygiờ Điều này được biểu hiện qua những nghiên cứu Chủ nghĩa hiện sinh ở
miền Nam Việt Nam 1954-1975 ( trên bình diện lý thuyết ) của Huỳnh Như
Trang 11Phương ( Trong sách Những nguồn cảm hứng trong văn học của Huỳnh Như
Phương, Nxb Văn nghệ, TP.HCM, 2008) và chuyên luận Lý luận - phê bìnhvăn học ở đô thị miền Nam 1954-1975 (Nxb Hội Nhà văn, H.2009) của TrầnHoài Anh
Trong bài viết của mình, Huỳnh Như Phương đã thể hiện một cách nhìnmới một cách toàn cảnh về sự tiếp nhận và ảnh hưởng của thuyết hiện sinhvới đời sống xã hội ở miền Nam (1954 - 1975) Ông đã nhận định rằng, sự tác
động vàảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam được biểu lộ “cả trên bình diện lý luận lẫn sáng tác, cả trong giới chuyến môn lẫn trong độc giả phổ cập, cả trong nhà trường lẫn ngoài nhà trường (…) là một ảnh hưởng đa chiều, có thuận, có nghịch, có hiện sinh và phản hiện sinh, có những sản phẩm chính cấp và sản phẩm thứ cấp, có những đứa con chính thức lẫn
“những đứa con hoang”” Không chỉ vậy ông còn đánh giá cao tinh thần tiếp
nhận hiện sinh qua các công trình nghiên cứu của họ
Vậy nên, chúng ta sẽ thấy được rằng, những thành tựu tiếp nhận lýthuyết hiện sinh của các thi nhân, thi sĩ và các nhà phê bình và nghiên cứu,văn học miền Nam 1954 - 1975 như một bài học kinh nghiệm quý báu để có
thể tiếp tục “thắp sáng hiện sinh” nền văn học nước nhà trong thời đại hội
học hiện sinh như: Chủ nghĩa hiện sinh: kịch sử và sự hiện diện ở Việt Nam của
Trang 12Nguyễn Tiến Dũng, (Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, H.1999), Ca tụng thân xác của Nguyễn Văn Trung (Nxb Văn nghệ, Tp HCM, 2006)…
Trần Thái Đỉnh đã viết “…Triết hiện sinh nói chung, dầu là triết học của Sartre, dầu là triết học của Heidegger hay Jaspers, vẫn là triết học về con người.” bởi vì trong hiện sinh chỉ bản tới những ý nghĩa nhân sinh, quan tâm
tới cuộc đời, cái chết cũng như là thân phận con người chứ không đề cập đếnnhững cái vũ trụ xa xôi, huyền vi của tạo hóa Chính vì thế tư tưởng hiện sinhluôn coi trọng cũng như là đề cao đến sự tự do của con người, sự sáng tạo, sựriêng biệt cũng như khả năng biết chịu trách nhiệm về hành động của bản thânmỗi người
Có thể thấy, Việt Nam sau một thế kỷ tiếp thu các trào lưu văn hóa, tưtưởng nước ngoài, nền văn nghệ nước ta từ bước đầu hiện đại hóa đến khiphát triển mạnh mẽ về căn bản đã đuổi kịp được những xu thế chung của cảthời đại Trong đó chủ nghĩa hiện sinh cùng tinh thần nhân văn của nó là mộtkhuynh hướng quan trọng, đã tạo nên sự đa dạng, đa sắc màu của nền vănnghệ dân tộc Chủ nghĩa hiện sinh chính là nền tảng, luận giả về Con Người và
về những vấn đề của cuộc sống nhân sinh
1.1.2 Một số phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh
Xuất hiện và tồn tại trong lịch sử tư tưởng của nhân loại chủ nghĩa hiệnsinh như một sự vận động của tư tưởng để đáp lại những niềm tin duy lý.Không chú trọng bàn về vũ trụ xa xôi với những điều bí ẩn của tạo hóa, chủnghĩa hiện sinh chú trọng vào ý nghĩa bình thường và ý nghĩa của cuộc sốngnhân sinh này, có cái chết, có sự sống cũng như có cái nhìn về thân phận củacon người trong xã hội Chủ nghĩa hiện sinh tập trung coi vào tính tự do củamỗi chúng ta, tính riêng biệt và độc nhất, cũng như sự sáng tạo và khả năng
chịu trách nhiệm với bản thân của mỗi chúng ta “Người ngang tàng là người không chịu đứng trong hàng ngũ của quần chúng vô danh Người hiện sinh là người ngang tàng, vì họ ý thức rằng mỗi người là một kỳ diệu của Thượng đế,
Trang 13mỗi con người là một cái gì độc đáo” [14;28] Từ vấn đề Nhân vị (trung tâm)
hầu hết nhiều triết gia đã vươn lên thành những phạm trù cụ thể như là nềntảng để luận giải về con người cũng như là của cuộc sống nhân sinh
Ưu tư: “Ưu tư do thức tỉnh và suy nghĩ Con người phóng thể không ưu
tư, vì học sống như một sự vật của gia đình và xã hội: họ không ưu tư vì họ cứ việc sống thừa ra, sống như mọi người Trái lại con người đã tỉnh ngộ không thể không ưu tư Ưu tư là bắt đầu vươn lên” [14;47] Vậy ưu tư là trạng thái
của sự băn khoăn, xao xuyến về một tương lai nhiệm màu mang bao nhiêuyếu tố chưa thành hình rõ rệt nhưng ở đó, chúng ta bắt buộc phải tự quyếtđịnh lấy cho mình, phải chịu trách nhiệm về những lựa chọn của chính bảnthân mình Bởi thế, Nietzsche mới khẳng định sứ mệnh của con người làthông qua những kinh nghiệm của mình để sáng tạo nên chính bản thân mình
“Tóm lại, ưu tư là vẻ đặc sắc của một cuộc hiện sinh đã tự ý thức, muốn dứt mình ra khỏi cảnh sống thừa, sống an nhàn của sự vật và của những người phóng thể” [14;48].
Tự quyết: Dựa vào việc tự quyết của mỗi người mà chủ nghĩa hiện sinh
mới chứng minh được rằng đây là một giá trị sống chứ không phải chỉ là mộtgiá trị tư tưởng đơn thuần Ở điểm nhìn này, các chuyên gia hiện sinh đã bộc
lộ niềm tin phần lớn vào khả năng của con người “ Kẻ hèn nhát tự tạo mình thành hèn nhát, kẻ anh hùng tự tạo mình thành người hùng Kẻ hèn nhát luôn
có khả năng để không còn là kẻ hèn nhát và con người hào hùng không còn là người hùng nữa.” [41; 42]
Theo quan điểm triết học hiện sinh, quyền tự quyết là việc lựa chọn bảnthân như một sinh thể tự do, sinh thể độc nhất Mỗi quyết định tôi đưa ra sẽ có
sự tiến bộ rõ rệt trong cuộc sống của tôi, và sự tự quyết đang chứng minh chotôi thấy rằng tôi là một có thể tự do và tự tin Mỗi khi bạn quyết định dám làchính mình, là để chính con người bạn tiến thêm một bước, bạn không sợ mắcsai lầm trong tương lai vật chất hay thậm chí là cuộc sống Chỉ cần bạn đưa
Trang 14được những quyết định đúng đắn của mình khi bình tĩnh và suy nghĩ, bạn đãtrưởng thành Những người theo chủ nghĩa hiện sinh tin vào giá trị của hànhđộng và quyền tự quyết của họ Như vậy, quyền tự quyết thường được gắn với
khái niệm cam kết, là rủi ro (rủi ro là vượt qua lôgic và tư duy lôgic) “Con người hiện sinh ưu tư về định mệnh và ưu tư tìm cách phát triển nhân cách của mình tới mức hoàn hảo, cho nên tự quyết luôn mang nặng những suy nghĩ và
ưu tư” [14;50].
Vươn lên: Vươn lên là cuộc sống của một nhà hiện sinh trung thực.
Không đi lên đồng nghĩa với việc bị mắc kẹt, bế tắc Đứng dậy ở đây khôngphải là chinh phục, chinh phục người khác mà là vượt lên khỏi bản thân, đứng
lên, thoát ra khỏi cái tôi ngày hôm qua và quá khứ (Thánh Augustine) “Xem thế, ta đủ thấy sinh hoạt của hiện sinh trung thực là một sinh hoạt căng thẳng, luôn luôn buộc mình tiến lên, vươn lên” [14;53] Chủ nghĩa hiện sinh trong
một đời người đẩy chúng ta bước về phía trước, đi mãi, vượt qua những giớihạn Đó cũng là chất liệu tạo lên sự nhân văn của chủ nghĩa hiện sinh
Độc đáo: Điểm độc đáo là điểm “quan trọng nhất và đặc sắc nhất của
triết học hiện sinh” [14;53] Sự xuất hiện của triết học hiện sinh khiến mọi
người đều nhận ra rằng mình là một con người độc nhất vô nhị, và điều ýnghĩa và giá trị nhất trong cuộc đời là hoàn thành số phận duy nhất của mình
Vì bản chất tồn tại của con người là tự do và tự quyến nên mỗi chúng ta sẽ cónhững phản ứng và quyết định khác nhau đối với sự việc khi đối mặt vớinhững sự vật, sự việc giống nhau… chưa kể đến những vấn đề không dễ dàng,những hoạt động cao siêu của những khía cạnh về tự do suy nghĩ, chọn lựa và
ra quyết định, tính nguyên bản là bản chất và là tính duy nhất của tồn tại càng
rõ ràng hơn Không chỉ là khi người ta nhận thức sâu sắc về tính duy nhất của
sự tồn tại của mình, người ta cảm thấy cô đơn Vì chẳng ai có thể thấu hiểuđược mình, dù muốn chia sẻ mọi tâm tư, suy nghĩ, dự tính cũng chẳng có ai cóthể hiểu được vì mình là ai, mình là duy nhất, nghĩa là lúc đó mình đang cảm
Trang 15thấy cô đơn Và lúc nào mà bản thân dám chịu trách nhiệm, dám chấp nhậnnỗi cô đơn thì đó cũng chính là khi tôi thật sự được tự do.
Cô đơn: Theo quan niệm của triết học hiện sinh thì “cô đơn là một
trong những phạm trù quan trọng” Có rất nhiều nhà hiện sinh đã thấy rằng
cuộc sống của con người, đặc biệt là đời sống tinh thần của chúng ta như làmột thế giới bí ẩn mà dù bạn có làm cách nào thì bạn cũng sẽ không thể hiểu
hết được Chính vì thế mà con người hiện sinh luôn ám ảnh bởi câu hỏi: “Ta là ai? Ta đang sống trong tình trạng nào?” Và mỗi người có trách nhiệm đi tìm
câu trả lời trong chính mình Có lẽ, chính vì điều này mà con người hiện sinh
luôn cảm thấy mình cô đơn “Cô đơn là một hình thức (đúng ra là một kiểu) chết Và cô đơn cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến cái chết, tìm đến cái chết Người ta dễ nhìn thấy ở phương diện cái chết là kết thúc của hiện hữu và chấm dứt cô đơn”[9;250] Con người cô đơn vì bị kế án tự do từ việc
sinh ra cho đến tồn tại giữa cuộc đời Họ tự tạo ra chính mình bằng những lựachọn hoàn toàn tự do mà không theo một chân lí định sẵn nào Cô đơn có thểđưa con người đến tuyệt vọng, đau thương nhưng cũng có thể thúc đẩy conngười đi tìm hướng đi mới Khi con người lẩn tránh hay đối mặt với hiện thựcđều thấy mình cô đơn Và khi chúng ta cảm thấy cô đơn đồng nghĩa với việc
họ đã biết được sự hiện hữu của bản thân mình trước cuộc đời
Cái chết: Theo quan niệm của triết học hiện sinh thì con người là hiện
hữu hướng tới cái chết Cái chết cái quan trọng nhất của con người, con người
tự do để chết Chết là cách để con người thoát hỏi cuộc đời phi lí Chủ nghĩahiện sinh cho rằng con người từ khi sinh ra là tiến dần đến cái chết và chỉ khicon người chết đi mới khám phá hết được ý nghĩa của cuộc đời: Đối vớiSartre, cái chết là giới hạn tận cùng của con người Cái chết trở thành nỗi ám
ảnh của chủ nghĩa hiện sinh “Sự chết là thất bại lớn nhất của con người Và cũng là chuyện phi lý nhất Như vậy, theo Sarthe, đời sống con người là một
Trang 16chuỗi các hành vi phi lý, và kết cục của sự chết là sẽ hoàn thành sự phi lý đó”
[14;224]
Tóm lại triết học hiện sinh thấu hiểu được rõ sự phi lí, ngẫu nhiên và
giới hạn, kết cục bi đát của kiếp người “Triết học hiện sinh là triết dạy ta suy nghĩ về thân phận làm người Văn của triết hiện sinh là văn mô tả - đôi khi tả chân quá nhưng chủ ý của họ không phải gì khác cho rằng vạch cho ta thấy vẻ buồn nôn của con người sống tầm thường, hòng thức tỉnh con người chỗi dậy,
bỏ cách sống của vật thể để khai mạc một đời sống nhân vị, nhân vị cao cả của con người tự do” [14;36] Triết học hiện sinh tin rằng cuộc sống không thể
được lựa chọn, và cái chết không thể trốn thoát, nhưng bạn có thể chọn cáchsống và chết, và cách sống ý nghĩa nhất là sống và chết duy nhất như chínhbạn; đây là lý do tại sao hành trình của cuộc đời con người trong tự nhiên làmột cuộc hành trình cô đơn
1.2 Lưu Quang Vũ - cuộc đời, sự nghiệp và quan niệm nghệ thuật
1.2.1 Vài nét về tiểu sử Lưu Quang Vũ.
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948 Ông không chỉ là mộtnhà viết kịch mà ông còn là một nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Namthời kì hiện đại Ông sinh ra và lớn lên tại Phú Thọ nhưng quê của ông thì lại
ở thành phố Đà Nẵng Cha ông là Lưu Quang Thuận một người viết kịch nổitiếng, còn mẹ là bà Nguyễn Thị Khánh Là một người con được lớn lên trongmột gia đình có cái nôi làm nghệ thuật, nên tài năng nghệ thuật của ông đãđưuọc bộc lộ ngày từ khi còn rất nhỏ Và quê hương chính là những hình ảnhđầu tiên được đi vào trong những trang thơ của ông
Từ năm 1965 đến năm 1970 Lưu Quang Vũ tham gia vào quân ngũ.Ông phục vụ cho quân chủng Phòng không - không quân Và chính thời giantham gia vào quân ngũ này cũng là thời gian mà thơ ca của ông bắt đầu nở rộ
Trang 17Từ năm 1970 đến năm 1978 ông xuất ngũ, cuộc sống khổ cực khiếnông phải làm đủ mọi ngành nghề để mưu sinh, kiếm sống Ông đã trải qua rất
là nhiều các ngành nghề khác nhau như: Làm cao su đường sắt…
Năm 1978 đến năm 1988 ông bắt đầu làm biên tập tại Tạp chí sân khấu
và ông viết vở kịch nói đầu tiên mang tên Sống mãi tuổi 17 viết lại theo kịch
bản của Vũ Duy Kỳ
Cuộc hôn nhân của Vũ thì không mấy suôn sẻ Ông đã trải qua hai lần
đò Năm 1969 lần đầu tiên ông kết hơn với Tố Uyên, hai vợ chồng sống vớinhau được một thời gian thì đến năm 1972 thì hai vợ chồng li hôn Đến năm
1973 ông lại tái hôn cùng với nhà thơ Xuân Quỳnh
Chính những trải nghiệm này đã giúp ông có thể đúc kết được nhiềutrải nghiệm cho sự nghiệp sáng tác của mình thêm phong phú Giúp cho thơcủa ông dường như thể hiện rõ những suy tư, cũng như thân phận con người
Cuộc sống của ông đang nở rộ trên con đường sự nghiệp thì không maygia đình ông bị tai nạn và qua đời trên cuốc lộ số 5 tại Hải Dương cùng với vợ
và con gái Sự ra đi của ông khiến cho biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ vô
cùng xúc động NSƯT Lê Chức xúc động chia sẻ “Tôi vẫn nhớ, mình đã khóc như thế nào khi cỗ quan tài được tháo ra để chuyển thi thể từng người trong gia đình nhà Lưu Quang Vũ vào ngăn bảo quản.” Còn nhà văn Lê Thảo chia
sẻ “cảm giác sửng sốt, khi đón nhận tin giữ vào ngày đấy còn nguyên vẹn.”
1.2.2 Sự nghiệp văn chương của Lưu Quang Vũ
Không chỉ là một nhà viết kịch nổi tiếng mà ông còn là một nhà thơ tiêubiểu trong nền thơ hiện đại của Việt Nam Vì thế mà sự nghiệp văn chươngcủa ông vô cùng lớn, ông đã để lại cho kho tàng văn học với 50 tác phẩmkịch Khi nói đến kịch thì dường như kịch của ông đã để lại một dấu đặc biệt,một hiện tượng “có một không hai” trong lịch sử đời sống văn học Việt Namhiện đại Kịch của ông viết ra giống như một luồng gió thổi khiến cho ngườixem khao khát được xem lúc bấy giờ Bởi trong kịch ông đã chạm tới những
Trang 18khoảnh khắc vô tận, quyền được hạnh phúc của mỗi con người… điều đódường như đã động đến những vấn đề nhức nhối trong xã hội Và kịch củaông dường như cũng là lời nói hộ nhân dân những bức xúc cũng như là hé lộmột niềm tin, hi vọng cho con người vào tương lai phía trước Như vậy kịchcủa ông giống như một lực lượng xung phong của nền văn học Nó đã tiến lên
đi thẳng vào những vấn đề bất cập trong xã hội và cũng là tiếng nói chonhững cái mới mẻ sắp đến và những cái lạc hậu trị trệ sẽ bất biến
Ông đã để lại cho đời 200 tác phẩm thơ Trong thơ của ông là một tráitim nhân ái và rất nhạy cảm với những lo toan, bộn bề, day dứt trước cuộc đời
và những con người lúc bấy giờ Với ông, thơ được mệnh danh là “người nổi
gió Người đập cửa Người mở cửa.” Ông còn quan niệm rằng “Thơ là bó đuốc đốt thiêu là bàn tay thắp lửa/ Thơ sinh sự với đời không cho ai yên ổn”.
Nửa sau thế kỉ XX thơ ông là mang một giọng điệu kì lạ, một cảm hứngtrần tục được coi là “lạc điệu” vào thời bấy giờ Những vần thơ của ông lúcbấy giờ đã thể hiện lên con người ông, một người dám nghĩ đúng đắn, sống
hết mình với tổ quốc “phá tung những cái mực thước, khuôn phép, vừa phải, lưng chừng” để rồi giờ đây ông đã để lại những tác phẩm nghệ thuật đáng quý, đáng trân trọng như: Tiếng Việt, gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi…
Trong thơ ông dù là những vần thơ trong trẻo hay những vần thơ trăntrở, dằn vặt…thì nó đều được khơi gợi một cách kì lạ từ cảm hứng thơ sayđắm, từ cảm xúc say mê, nồng nàn qua những hình ảnh mới lạ đầy cảm giác
Thơ ông còn là cầu nối giữa hai miềm hiện thực và ước mơ Đó là hìnhảnh hiện thực với những đau thương phi lí của chiến tranh, sự cô đơn trongcon người…Còn ước mơ đó là một thứ đã quá quen thuộc với nhân dân ta từbao đời nay vì ước mơ để nhân dân ta thể hiện niềm tin, sự hi vọng của nhândân ta với con người, đất nước và thiên nhiên Nhà phê bình Phạm Xuân
Nguyên còn khẳng định “Cảm hứng bi thương về đất nước, nhân dân đã cho
Vũ có được những bài thơ hay, lay động sâu sắc để lại giá trị lâu dài (Đất
Trang 19nước đàn bầu, Việt Nam ơi…) Mảng thơ này của Vũ biệt ra một cõi, không ai sánh được Đó là một đỉnh cao của thơ Việt Nam thời chiến và đỉnh đó mang tên Lưu Quang Vũ lẻ loi và chất ngất”
1.2.3 Quan niệm nghệ thuật trong thơ Lưu Quang Vũ
Sinh thời Vũ vẫn cho rằng “Thơ và kịch rất gần nhau Đó là hai thể loại của văn học, là cuộc sống và thế giới tinh thần của con người được biểu hiện ở dạng tinh chất nhất, mạnh mẽ nhất, tuy nghệ thuật của chúng có những điểm khác biệt” ( Lưu Khánh Thơ - Xuân Quỳnh -LQV tình yêu và sự
nghiệp, (biên soạn), Nxb Hội nhà văn, 1994 -143) Thơ là thể loại thể hiệntình cảm sâu sắc của con người Chính vì thế mà thơ ông giống như một thểloại hơn với “cái tạng” của ông hơn cả Trên thực tế đó là rất nhiều nhữngsáng tác của ông đã chống chợi được với sự sàng lọc khắc nghiệt của thờigian
Nghệ thuật trong thơ của ông dường như đã làm nổi bật lên một tâmhồn chân thực, luôn trăn trở cho mọi khía cạnh của chính mình đó (cuộc sống,con người và tình yêu) Đó là một tâm hồn của một con người tiêu biểu, củamột con người luôn hướng đến những khó khăn gian khổ cũng như sự hàohùng của đất nước
Trong thời kỳ chống Mỹ, thơ ca của ông luôn có sự sáng tạo và LưuQuang Vũ luôn đi tìm cho mình một con đường nghệ thuật riêng Có 10% thơcủa ông bày tỏ quan niệm nghệ thuật thế nhưng đó không phải là điều quantrọng nhất, mà cái quan trọng nhất trong thơ của ông đó là sự độc đáo và sinhđộng Ông là người tiên phong trong việc xây dựng ý chí và sáng tạo ngônngữ Là người dám vượt qua cái tôi trữ tình trong thơ một cách gián tiếp
Với một “trái tim trong trắng”, một tâm hồn lạc lõng, cô độc cùng cảm
xúc sôi sục và đam mê, không có gì là khó hiểu đối với một chàng trai 17 tuổikhi bước vào cuộc chiến và buông tay sẽ bị tổn thương như thế nào Sau khixuất ngũ thơ của ông khác hẳn Ông từ giã dàn đồng ca của những nhà thơ trẻ
Trang 20chống Mỹ với giọng văn sôi nổi, trong trẻo, vui tươi mà thay vào đó là tiếng
thơ mang xu hướng trái ngược với dàn đồng ca kia Như trong cuốn Cuốn sách xếp lầm trang, những bông hoa không chết … Sự buông bỏ, ca ngợi
chiến tranh, ý thức khắc sâu vào nỗi đau tan vỡ, tấm lòng tôn trọng cảnh ngộ
cá nhân… dường như đã thấm đẫm trong thơ của ông
Như vậy Lưu Quang Vũ có ý thức vô cùng sâu sắc về “Nhân vị”, khátvọng khẳng định giá trị sự hiện hữu của bản thân cho dân tộc Sinh ra và lớnlên trong giai đoạn lịch sử đất nước trải qua nhiều biến động, đặc biệt là chiếntranh với nhiều mất mát, đau thương Trong tư duy của một nghệ sĩ yêu nhândân, đất nước theo cách của riêng mình, chúng ta luôn thấy ông trăn trở, đauđớn, suy tư về con người và cuộc sống… Và đây cũng chính là cội nguồn cảmxúc để thơ Lưu Quang Vũ mang đậm cảm thức hiện sinh
Trang 21Tiểu kết chương 1
Cảm thức hiện sinh đã có mặt ở Việt Nam từ nửa đầu thế kỉ XX, nhưng
nó đã có những ảnh hưởng nhất định của riêng mình trong đời sống văn hóalúc đó Mặc dù tiếp nhận sau Miền Nam nhưng hiện sinh góp một phần to lớnlàm thay đổi, phát huy theo hướng tích cực của văn học dân tộc ở ngoài MiềnBắc
Lưu Quang Vũ cũng ảnh hưởng bới hiện sinh trong những vần thơ củamình Những vần thơ của ông không còn là những lời ca ngợi khích lệ…trong chiến tranh nữa mà giờ đây nó khắc sâu đổ vỡ, tôn trọng tâm sự cảnhngộ cá nhân dường như đã thấm đẫm trong thơ ca của ông
Trang 22Theo Từ điển Tiếng Việt: “Cảm thức là nhận thức bằng cảm quan; nhậnthức bằng cảm giác” [46;135] Như vậy, cảm thức của con người là sự nhận thức được những xúc cảm đối với sự kiện, hiện tượng, đối tượng cụ thể trong đời sống và mang lại cảm thức riêng cho mỗi cá nhân “Cảm thức hiện sinh trong văn học là sự thể hiện những sắc thái hiện sinh trong quá trình sáng tác của nhà văn một cách cảm tính (không chủ ý)” [60]
Chủ nghĩa hiện sinh đề cập đến “sự bi đát về tội lỗi của con người trong thời đại mất Chúa” và tái hiện cuộc sống con người như đang tồn tại.
Kierkegaard cho rằng con người chính là hiện sinh của sự độc đáo, cũng lànhững con người huyền bí, vì mỗi con người khi sinh ra đã là một vũ trụ đóngkín không ai hiểu nỗi và không thể phát lộ nội tâm phức tạp ấy với bất kỳ ai
Do đó, chính con người chúng ta luôn phải tự mình chịu trách nhiệm trướcthân phận của chúng ta, từ đó luôn luôn lựa chọn để tự do Tuy nhiên sự lựachọn này không hề dễ vì ý thức bản thể khép kín, cô độc ấy sẽ làm cho conngười dằn vặt, luôn luôn âu lo Bên cạnh việc đề cập đến con người cô đơn thìLưu Quang Vũ vẫn còn đề cập đến cả con người hoài nghi, tự vấn và khátkhao tình yêu
2.1.1 Con người cô đơn
Đó là bản thể là kiểu loại nhân vật có tính cách, suy nghĩ và hành xửriêng, thể hiện chiều sâu triết lí trong cách cảm nhận về cuộc sống nhưng lạiluôn mang tâm thức cá nhân bị kết án lưu đày trong nỗi cô đơn, họ cảm nhậnmột cách sâu sắc nỗi đau bị bỏ rơi và cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết Nỗi
Trang 23cô đơn đó gắn liền với nỗi đau bản thể của mỗi con người Theo Từ điển tiếng Việt, cô đơn là “chỉ có một mình, không có người thân, không nơi nương tựa” Ví dụ như: cảnh cô đơn, con người cô đơn” (Hoàng Phê, 2002) Theo
Từ điển tâm lý, cô đơn là “một trong những căn nguyên của tâm lý gây ảnh hưởng đến trạng thái cảm xúc của con người khi rơi vào tình huống không quen thuộc (bị thay đổi) hoặc hoàn cảnh bị cách ly với người khác” (Nguyễn
Khắc Viện, 2001) Khi đưa khái niệm này vào văn chương, chúng ta có thểhiểu cô đơn chính là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy hoang mang,lạc lõng khi bị tách rời khỏi thế giới xung quanh Đó còn là đặc tính thuộc vềbản chất của con người và con người ý thức được nỗi cô đơn của bản thân,hiểu được vị thế bản thể cá nhân nhỏ bé, bơ vơ, thiếu điểm tựa và ra sức cựtuyệt, hoặc chấp nhận hoặc cải thiện nó Con người hiện sinh luôn ý thứcđược sự tồn tại độc đáo của mình và thấy bất hòa với thực tại nên họ cô đơn,lạc lõng và trở nên xa lạ
2.1.1.1 Con người cô đơn trên hành trình truy tìm bản thể
Lưu Quang Vũ, khi tách mình ra khỏi dòng chung, dường như đã “lạc”vào địa hạt của chủ nghĩa hiện sinh Ông luôn truy tìm bản thể, ngẫm suy thânphận người Mình là mình hay mình là một ai khác mình Trạng thái lưu đàytâm tưởng này luôn dằng đặc trong thơ Vũ Thật ra khi ý thức được sự tồn tạinhư là một chủ thể độc lập của cái tôi, con người dễ rơi vào cảm thức tựkhẳng định mình và chối bỏ hết mọi thứ xung quanh mà bản thân khó có thểnào chấp nhận Để bảo toàn ý niệm cá nhân con người ta thường tìm đến sự
cô đơn như là sự giải thoát chính mình khỏi những bất hạnh, khổ đau từnghịch cảnh Như vậy cảm quan cô đơn tồn tại trong thơ Lưu Quang Vũkhông chỉ bắt nguồn từ thực tại cuộc sống “rối bời” mà còn là ý thức mãnhliệt về sự lưu giữ duy nhất của cái tôi vô thức lẻ loi Vì thế rất dễ nhận thấytrong thơ ông là tiếng nói “lẻ loi”, “cơn mơ thảng thốt”, là “bóng tối”, “phốđêm lưu lạc”, thậm chí có cả “gió độc” và “mặt trời trong nước lạnh”…
Trang 24Những hình ảnh này gợi dẫn chúng ta về sự đơn độc, về ẩn ức của cáitôi vô thức luôn dằn vặt với những ngột ngạt, bế tắc quanh mình Lưu Quang
Vũ chẳng phải đã thú nhận rằng ông là một đại diện của tâm hồn cô đơn trênhành trình truy tìm bản thể:
“Như những đứa trẻ con bị bỏ rơi lăn lóc Đêm nay, tôi chẳng biết lối về
Phía nào cũng hàng rào trước mắt Thế giới có bao nhiêu tường vách Ngăn cản con người đến với nhau Sao tôi lại muốn em tin
Khi chính tôi cũng chẳng tin ai cả Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào
Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao Giữa sự thông minh của đông vui bè bạn Vứt sách xuống gầm bàn đi ra mặt trận Tôi là người lính cô đơn ở giữa trung đoàn Bao lâu rồi vẫn chỉ có thế thôi
Nỗi cô đơn hoàn toàn cô đơn khủng khiếp Trước và sau trong và ngoài cuộc đời và trang sách…”
(Mấy đoạn thơ )
“Lẻ loi”, “hồ nghi”, “chẳng tin ai” là biểu hiện về ý thức phản tư rõrệt Điều này cũng cho thấy cái tôi cô đơn Lưu Quang Vũ hiện hữu ngay cảtrong yêu thương và từ những tháng năm hồn nhiên nhất của cuộc đời Ôngluôn cảm thấy lẻ loi, mất điểm tựa với tất cả mọi thứ quanh mình để rồi tháng
ngày trôi qua bên ông luôn đằng đẵng “nỗi cô đơn hoàn toàn nỗi cô đơn khủng khiếp”, cả “trước và sau trong và ngoài cuộc đời và trang sách…”
(Mấy đoạn thơ)
Trang 25Không chỉ có Lưu Quang Vũ, nhà thơ Nguyễn Vỹ cũng viết về số phận
bi kịch của con người như trong bài: Sương rơi, Hoàng hôn, Tiếng chuông chùa, Hai con chó…
“Một đàn/ Cò con/ Trắng nõn/ Trắng non/ Bay về/ Sườn non/ Gió giục/ Mây dồn/ Tiếng gọi/ Hoàng hôn/ Buồn bã/ Nỉ non/ Từ giã/ Cô thôn…/ Còn con/ Cò con/ Trắng non/ Nào kia/ Lạc bầy/ Lại bay/ Vào mây/ Ô kìa!”
(Hoàng Hôn)
Khi so sánh với Nguyễn Vỹ, thì Lưu Quang Vũ chú trọng hơn vào nỗi
cô đơn của phận người Ông không miêu tả nhiều cảnh vật thiên nhiên nhưNguyễn Vỹ mà trực tiếp bộc lộ nỗi cô đơn của chủ thể Ông muốn thể hiệnnỗi cô đơn của mình và nhiều người khác trên hành trình truy tìm bản thể
Như trong bài “Hoa cẩm chướng trong mưa”: “Nỗi cô đơn tuyệt vọng…”
Nỗi cô đơn trong thơ của Lưu Quang Vũ thường được so sánh trực tiếp vớinhững vật hữu hình như “cuốn sách buồn”, “ống sậy cô đơn”, “giọt nướcmắt”,…Cách hữu hình hoá nỗi cô đơn giúp cho nhà thơ thể hiện kiệt cùng nỗituyệt vọng, cô đơn của đời người
Nỗi cô đơn được tác giả thể hiện như một ám ảnh vô thức thông qua
các hình ảnh hữu hình: “Một nhà ga cô quạnh/Một người đàn bà ướt lạnh/Đứng chờ anh” (Không đề I) Đó là người đàn bà ướt lạnh cô đơn đứng
chờ mãi một ai đó trước sân ga cô quạnh Nỗi buồn thân phận, sự cô đơn
dường như luôn xuất hiện trong những hình ảnh thơ của ông: “Cả cuộc đời là
ở sân ga/Trước chuyến đi vô tận/Cuộc lên đường tối tăm đơn độc/Người ta chết có một mình/Đó là điều buồn nhất” (Lời cuối) Nỗi cô đơn còn được đặt
trong những cuộc hẹn hò tưởng chừng viên mãn, nhưng chỉ toàn sự lặng im
và đầy ắp nỗi buồn “Anh có hẹn đâu, anh chả nói câu nào/Anh chỉ buồn thôi,
em chỉ buồn thôi, ai biết?” (Bầy ong trong đêm sâu), nên “Phải xa em anh chẳng còn gì nữa /Chẳng còn gì, kể cả nỗi cô đơn” (Em vắng)
Trang 26Nỗi cô đơn trong con người còn lan toả, bao trùm cả khung cảnh thiên
nhiên: “Tuổi thơ buồn như một mảnh vườn hoang /Nơi ấp ủ con dế mèn cô độc” (Đất nước đàn bầu) Hay “Chẳng có chi phía trước để mong chờ/Chỉ còn lại một màu hoa gay gắt/ Cái màu hoa cô độc/Nở âm thầm trong giá buốt heo may” (Những đêm hoa vàng) Bài thơ Lá thu có lẽ là sáng tác kết tinh cụ thể, tinh tế nhất niềm cô đơn gắn với nỗi đau thân phận: “Em u buồn em có nhận hay không/ Em gầy như huệ trắng xanh/Ngọn lửa nhỏ giữa hai vực thẳm/Em
tê dại em âm thầm kiêu hãnh/Em cô đơn như biển lạ lùng ơi”(Lá thu) Hay:
“Mai em đi mùa hạ cũng qua rồi/ Tôi ở lại một mình trên phố vắng (…) Đêm phòng không tiếng nổ vỡ khắp trời/ Thời đau khổ chung quanh đều đổ nát/ Nỗi cô độc đen ngòm như miệng vực/Tôi muốn đi tới vách cùng em” (Lá thu)
và cô đơn sợ hãi trước “miệng vực” cuộc đời: “Tôi tan nát tôi kinh hoàng sợ hãi/Em cô đơn rồ dại của tôi ơi” (Lá thu).
Bên cạnh đó, Lưu Quang Vũ còn thấu cảm được sự vô vọng của kiếpngười và đã chia sẻ trong thơ:
“Mưa cướp đi ánh sáng của ngày Đường chập choạng trăm mối lo khó gỡ Thức chẳng yên dở dang giấc ngủ
Hạnh phúc con người mong manh mưa sa”
(Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa) Khi sự hữu hạn của đời người mong manh, thì hạnh phúc cũng hoá nhạtnhoà như sương như khói Lưu Quang Vũ ý thức về sự hữu hạn của đời người
và dự cảm được về sự tàn phai nhanh chóng của hạnh phúc, thế nên, tác giảluôn lo sợ sự chóng vánh của tình yêu và chính điều đó đã giúp cho ông nhận
ra: “Chúng ta gặp nhau quá muộn trong đời/Tôi chỉ là cây trong nỗi buồn bão gió/Tự hiểu nhé với nụ cười bồn bã…”(Gửi…). Để rồi, ông tự lý giải: “Ta lớn lên cửa sổ thay màu/Nghe tiếng chim không thấy mùa nắng nữa/Con thuyền
Trang 27giấy nát nhàu sau trận gió/Thành phố nghèo hơn và cũng buồn hơn” (Gửi
2.1.1.2 Nỗi cô đơn trong chính bản thân nhà thơ
Khi làm thơ, Lưu Quang Vũ thường miêu tả con người luôn xuất hiệntrong tâm thế chênh vênh, không vững chắc như tâm hồn lạc loài, bơ vơ, côđơn, không điểm tựa của chính nhân vật, mà nỗi ám ảnh sâu sắc nhất trong
thơ ông đó là bi kịch thân phận nghệ sĩ cô đơn: “Em u buồn em có nhận hay không/ Em gầy như huệ trắng xanh/ Ngọn lửa nhỏ giữa hai vực thẳm/ Em tê dại em âm thầm kiêu hãnh/ Em cô đơn như biển lạ lùng ơi (…) Mai em đi mùa hạ cũng qua rồi/ Tôi ở lại một mình trên phố vắng (…) Đêm phòng không tiếng nổ vỡ khắp trời/ Thời đau khổ chung quanh đều đổ nát/ Nỗi cô độc đen ngòm như miệng vực/ Tôi muốn đi tới vách cùng em (…) Tôi tan nát tôi kinh hoàng sợ hãi/ Em cô đơn rồ dại của tôi ơi!” (Lá thu); “Phải xa em anh chẳng còn gì nữa/ Chẳng còn gì, kể cả nỗi cô đơn” (Em vắng) Nỗi cô
đơn trong lòng người nghệ sĩ đã bắt nguồn từ những ngày thơ ấu gắn liền vớimảnh đất Phú Thọ còn nhiều bom đạn Mỗi khi ngồi cạnh mẹ ông luôn cảmthấy cô đơn, lẻ loi Khi trong lớp học những con chữ đầu tiên, khi tham gia
cách mạng nhưng lại “cô đơn ở giữa trung đoàn” Tác giả nhận ra bản thân
cô đơn trong cuộc đời thực và cả trên những trang sách bởi chưa tìm đượcmột tri kỉ, người hiểu rõ tấm lòng văn chương và trăn trở bên trong của ông
Hay trong Có những lúc, tác giả cũng sử dụng những hình ảnh: “Chồng
gạch vụn”/ “đáy giếng cạn”/ “hốc mắt đen sì” là hình ảnh mang tính biểutượng ám gợi cõi sâu vô thức của một tâm thức hiện sinh u uất Trước mắt
Trang 28Lưu Quang Vũ – một thi sĩ giàu cảm xúc - luôn là thăm thẳm bóng tối buồnđau:
“Có những lúc tâm hồn tôi rách nát Như một chiếc lá khô như một chồng gạch vụn Một tấm gương chẳng biết soi gì
Một đáy giếng cạn không một hốc mắt đen sì”
từ quán rượu từ phố đông huyên náo
từ những câu thơ tuyệt vọng trở về
bị lừa dối bị lăng nhục hắn ngồi trước mặt em”
(Người con giai đến phòng em chiều thu )
Cuộc đời riêng với nhiều nỗi đa đoan dồn đẩy ông từ trạng thái rã rời,chán chường đến tuyệt vọng, bế tắc Còn nếm trải nào mà nhà thơ chưa từng
đi qua: “bị lừa dối, bị lăng nhục”, “rách rưới, bơ phờ, cô độc” Cái đáng lưu
ý ở đây là ngay trong những chuỗi ngày triền miên cay cực gian khó ấy LưuQuang Vũ càng thấm thía được nhiều điều và đặc biệt đó là sự khám phá,nhận thức được trong chính bản thân của mình: kiên cường, bản lĩnh và tậnhiến Dẫu biết rằng sẽ bị đời hủy hoại thì tôi vẫn là tôi, vẫn phải sống như làchính mình Khát vọng sáng tạo thôi thúc mãnh liệt song hành cùng cái tôi côđơn bấp chất, nổi loạn Ông như muốn phá tung mọi giới hạn của cuộc đời để
Trang 29được cháy hết mình nhưng thực tại lại quá đỗi ê chề "Em sập cửa lại rồi/ tôi
đã nhận bao cái tát/ của đời của bạn thân/ Em sập cửa lại rồi/ tôi còn gì mà đau khổ nữa/ …tôi còn gì mà đau khổ nữa em?" (Mấy đoạn thơ) Câu hỏi cho
đời, cho người và cho mình sao mà day dứt quá!
Không còn hướng thoát nhà thơ chấp nhận lẻ loi “Điều tôi nói phải chăng là quá muộn/ Em u buồn em có nhận hay không/ Em gầy như huệ trắng xanh/ Ngọn lửa nhỏ giữa hai vực thẳm/ Em tê dại em âm thầm kiêu hãnh/ Em
cô đơn như biển lạ lùng ơi/ Đi tìm nhau suốt đời/ Sao bây giờ mới gặp/ Khi mặt đất mênh mông đầy biến loạn/ Khi bước chân lầm lạc/ Khi con người giết nhau/ Khi là thư không biết gửi về đâu/ Những hải cảng không có tàu cập bến/ Quen thất vọng tôi hồ nghi mọi chuyện/ Tìm trong mắt em náo động những chân trời/ Ngõ phố dài hôm ấy mưa rơi/ Đá xa vắng trên mặt đường ướt lạnh/ Tóc em rối và áo em đỏ thắm… Em đi tìm thế giới của riêng em/ Tình yêu và nỗi nhớ của riêng em/ Niềm tin lớn giữa cuộc đời vô lý/ Nghĩ về
em bao buổi chiều lặng lẽ/ Tìm trong em bao khát vọng không ngờ… Mai em
đi mùa hạ cũng qua rồi/ Tôi ở lại một mình trên phố vắng/ Hoa cúc rồi chiều xuân nào tôi đến/ Chẳng gặp em - chỉ màu hoa vàng rực/ Đêm nay về đốt lửa giữa tâm hồn tôi/ đêm phòng không tiếng nổ vỡ khắp trời/ Thời đau khổ chung quanh đều đổ nát/ Nỗi cô độc đen ngòm như miệng vực/ Tôi muốn đi tới đích cùng em/ Tôi phải đi tới đích cùng em/ Lòng tôi như buổi sớm vẫn nguyên lành/ Em nhận lấy, em đừng e ngại mãi/ Tôi tan nát tôi kinh hoàng sợ hãi/ Em cô đơn rồ dại của tôi ơi” (Lá thu).
Cõi sâu vô thức u ẩn của một tâm thức hiện sinh phát lộ trong nhữnghình ảnh “một đáy giếng cạn”, “một hốc mắt đen sì” và “đen ngòm miệngvực” Khi ám ảnh đau buồn, ẩn ức tâm lý không thể giải tỏa thơ Lưu Quang Vũ
sẽ kết đọng ở hình ảnh mang dấu hiệu của đổ vỡ, kiệt cùng tuyệt vọng Những
gì còn lại và duy nhất của sự tồn tại cá nhân lúc này trong vô thức là sự rệu rã,
đặc quánh sầu tư Chính vì vậy có thể nhận ra cảm quan cô đơn trong tuyển
Trang 30thơ Cuốn sách xếp lầm trang của Lưu Quang Vũ mang tâm thức hiện sinh đầy
u uất từ thẳm sâu vô thức, từ bất tận đổ vỡ và bi kịch riêng tư
Khi viết về Lưu Quang Vũ, nhà lí luận phê bình văn học Lưu Khánh
Thơ đã có những lời nhận xét: “Bản năng thi sĩ của ông giàu có trong những nỗi buồn, cô đơn, tuyệt vọng” [65; 7] Thơ của ông khắc hoạ trước nhất là đó
là sự cô đơn trong con người nghệ sĩ Khi tác giả đã tự nhận thức được nỗi côđơn bản thể của chính mình, để riêng mình gặm nhấm nỗi đau, để riêng mìnhhoài vọng, để riêng mình cảm thấy được tồn tại là cảm quan cô đơn có ý thứcsâu sắc của một hồn thơ suy tư đầy trách nhiệm với cuộc đời Với ông trêncương vị là một nhà thơ, với những xúc cảm, rung động mạnh mẽ với cuộcđời thì ông không thể chấp nhận mọi sự phi lý, phi nhân văn đang diễn ratrong cuộc sống Như vậy, khi ý thức đầy đủ nhất về thân phận con người,đồng nghĩa với ý thức sâu sắc về thân phận một dân tộc Lưu Quang Vũ rơivào cảm quan cô đơn là không thể tránh khỏi Giữa bao thất vọng hoài nghi,bao tan hoang đổ nát tiếng thơ ông dẫu lạc nhịp với “dàn đồng ca” thời đạisong vẫn chất chứa tinh thần nhân văn sâu sắc; bởi thẳm sâu trong trái tim rỉ
máu, ông vẫn cố nuôi dưỡng niềm tin ở phía tương lai “bên kia sông nhiều bướm nhiều hoa/ rồi cha con ta sẽ tìm được con đò sang đó” (Nói với con cuối năm) Và đọc thơ Lưu Quang Vũ, chúng ta có thể cảm nhận được nỗi cô
đơn bên trong tâm thức nhà thơ bởi chính ông luôn tự nhận thức được điều đótrên hành trình khám phá của bản thân
2.1.1.3 Nỗi cô đơn trở thành sức mạnh
Khi đi sâu vào địa hạt thơ của Lưu Quang Vũ, chúng ta có thể nhậnthấy dù khắc hoạ nỗi cô đơn cùng cực, nhưng tác giả vẫn cho mọi người thấy
rõ rằng cô đơn không phải điều quá đáng sợ, có khi nỗi cô đơn lại trở thànhsức mạnh giúp ta có đủ thời gian để nhận thức lại Cô đơn, nhìn theo hướngtích cực, sẽ trở thành khoảng không gian, thời gian để mỗi người sống đúngvới chính lòng mình và tìm lại chính mình, để từ đó thêm vào cuộc đời niềm
Trang 31tin yêu và hứng khởi sáng tạo Thế nên, đọc thơ của Lưu Quang Vũ, chúng tathấy rằng, tác giả không trốn chạy khỏi nỗi cô đơn hay tránh né, chối bỏ cuộcsống, mà khẳng định bản thân cô đơn và dũng cảm đối diện với sự cô đơn.Cảm thức cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ luôn hướng đến ánh sáng, sự tíchcực, lạc quan Đã trải qua bao thời gian, thi phẩm của Lưu Quang Vũ đã đượcchứng kiến bởi thời gian, và nó vẫn chứng tỏ “Ngọc đau buồn, nguyên khốivẫn chưa tan” Có thể coi cảm thức cô đơn trong thơ ông giống như một chấtngọc trong “khối sầu thiên cổ” của một thi sĩ.
Đọc thơ của ông, chúng ta nhận thấy nỗi cô đơn lại trở thành sức mạnh
để ông có khoảng lặng quý báu để nhận thức bản thân và sáng tạo Trái tim
mỏng manh dễ “vỡ” của thi sĩ đã không thể ngủ yên trước “cuộc sống anh không chấp nhận/ mà thương đến xót xa lòng” (Vẫn thơ tình về người đàn bà
không có tên II) Xuất phát từ tình yêu cuộc sống dào dạt, chất nghệ sĩ bêntrong Lưu Quang Vũ buộc ông phải lên tiếng, không thể mãi lặn vào bêntrong tâm khảm mà phải viết vì cuộc đời, sáng tạo thêm nhiều tác phẩm nóilên cõi lòng, trăn trở của chính mình Trước nhất, Lưu Quang Vũ dám chấpnhận và đối diện rằng tâm hồn thi sĩ của ông vô cùng cô quạnh:
“Bài thơ không đề Chép trên giấy bản
Em cần gì giếng lạnh Tâm hồn anh cô quạnh dưới lòng sâu”
(Không đề II)
Nỗi cô quanh trong lòng ông được đặc tả cụ thể thông qua các hình ảnh
hữu hình Từ đó, Lưu Quang Vũ luôn thành thật với chính mình: “Một con người khi không phải chỉ là một cái tên trong hộ khẩu/ Một con tốt trong bàn cờ/ Một viên gạch một cái đinh/Để treo biển hàng và đặt ghế/ Con người chưa được làm người/ Bao lệnh cấm đang đẻ lên thế giới/ Cấm yêu thương cấm khát vọng cấm tự do/Bao con chim bị nhốt trong tù/ Bao giải băng đen
Trang 32che kín mắt/Khi bạn bè gặp nhau có người theo dõi/Thầm thì không dám nói to”(Nếu đó là tội lỗi) Lưu Quang Vũ đã khẳng định nỗi cô đơn không thể
chiếm đóng mãi tâm hồn, không thể cấm yêu thương, khát vọng, tự do vàcũng không thể sống giống như cánh chim bị cầm tù hay có giải băng đen chemắt, mà phải sống có ý nghĩa, thoát khỏi nó để chứng minh sự tồn tại với thếgiới
Có thể thấy, dù cô đơn, tuyệt vọng nhất, thì người đọc vẫn cảm nhậnđược thơ ông dành sự cảm mến tinh tế và tình yêu thương hướng về con người
và cuộc sống Nỗi cô đơn bản thể đã cho Lưu Quang Vũ thêm sức mạnh đểsống và khẳng định chính mình Nhà thơ đã truyền thông điệp về cuộc sống,nhấn mạnh giá trị của cuộc sống tươi đẹp và mong muốn chúng ta phải biết yêu
quý, nâng niu, trân trọng:
“Dù tiếng tôi chỉ một người nghe Tôi phải đốt lên một cái gì Cho sáng rực giữa tranh vực thẳm Dẫu bao lần người làm tôi thất vọng Tôi vẫn yêu người lắm lắm người ơi Tình yêu tôi như một tiếng chuông dài…”
(Có những lúc)
Từ việc nhận thức được nỗi cô đơn của mình và biến chuyển nó thànhsức mạnh, Lưu Quang Vũ lại tiếp tục khẳng định giá trị của sự sống và hướngniềm tin vào những ước mơ, khát vọng:
“Tôi thức suốt trong nỗi buồn của đất Tôi nguyên chất tôi đi tìm đôi cánh
Để cuối cùng gặp được biển khơi Mặn xé lòng là muối biển đấy thôi Lên ghềnh đá chênh vênh tôi viết Dòng chữ không sóng nào xóa được
Trang 33Những dòng chữ như móng tay day dứt Trên vỏ dưa xanh thắng của mùa hè Cho kẻ không nhà mái lá chở che”
lòng mình Khi Lưu Quang Vũ tự hỏi: “Anh chẳng mang cho đời những tiệc vui
ảo ảnh/ Nỗi buồn chân thành đời chẳng nhận hay sao?” (Anh đã mất chi, anh
đã được gì?), hoặc chân thành bộc bạch: “Tình yêu trong lòng tôi chẳng ích lợi cho ai/ Còn những gì mọi người cần tôi chẳng thiết” (Có những lúc) Khi Lưu
Quang Vũ đã hiểu được thân phận xót xa, cô đơn, bị bỏ rơi, lạc lòng của ngườinghệ sĩ, nhà thờ càng chấp nhận đối diện với hiện thực cuộc sống Nỗi cô đơn,lạc lõng đó khi nghĩ rằng bản thân vô dụng, “không có ích lợi cho ai/ không aicần tới” như trở thành sức mạnh để chứng tỏ bản lĩnh nghệ sĩ của Lưu QuangVũ
Không chỉ Lưu Quang Vũ trong tập thơ “Lửa thiêng” của Huy Cận
cũng đã mô tả một cách tài tình sự cô đơn giữa con người với con người Ôngkhông trốn chạy mà ông xem nó như một sức mạnh mang lại niềm tin giúp tatiên lên phía trước với hy vọng tương lai Cô đơn nhưng không đánh mất đi
bản thể Người mà cô đơn là để nhận chân chính bản thân, để khẳng định nhân
Trang 34vị của mình Hay như nỗi cô đơn trong thơ Hoàng Việt Hằng trong tập thơ
“Em đã đốt thơ tình anh tặng” ông đã viết lên tình yêu tha thiết trước nỗi cô
đơn trong thân phận con người “một mình xây nhà/ một mình sinh nở/ một
mình một thuyền trên cạn/ một mình đối mặt với vận hạn/ may ra còn câu thơ
nằm lòng (…)” đó là hình ảnh người mẹ đơn độc, cô đơn tưởng như tưởng
như có thể gục ngã, thế nhưng trong thơ của ông lại hiện lên một người phụ
nữ can đảm, lạc quan và khao khát sống, khao khát yêu, khao khát tận hiến
mà không hề có một sự tính toán, so đo như ta vẫn thường gặp trong cuộc
sống thường ngày
Nỗi cô đơn trong lòng chính thi nhân để được khái quát thành sức mạnh
để con người đối diện với nỗi sợ hãi, sự lạc lõng bên trong Tác giả đã khám
phá những ám ảnh trong lòng người bằng tấm lòng “tri âm”, đồng điệu, từ
đó, nhận thức được chính nỗi cô đơn của chính mình Giá trị nhân văn và sự
đồng sáng tạo giữa nhà thơ và độc giả càng được nâng cao, toả sáng lấp lánh
trong các áng thơ của Lưu Quang Vũ
2.1.2 Con người hoài nghi, tự vấn
Đi từ lý luận về chủ nghĩa hiện sinh, khi soi chiếu vào địa hạt nghệ
thuật của Lưu Quang Vũ, tác giả đã đặt câu hỏi chứa đầy tâm thức hiện sinh:
“Tôi đọc hoài không thể đoán ra Nghĩa lý sao, tại đâu lại thế
Do ở thợ in cẩu thả Hay anh đóng sách điên rồ?”
(Cuốn sách xếp lầm trang) Câu hỏi của nhà thơ về cuộc đời, về những nghĩa lý tồn tại giữa cõi
nhân gian Chúng ta rất dễ nhận thấy ở các bài thơ trong tập Cuốn sách xếp
lầm trang được viết như lời tự sự từ một kiếp người nếm trải hết mọi đắng
cay nhưng vẫn còn hoài nghi về cuộc đời Nhu cầu được bộc lộ cái tôi ẩn ức
lúc này mãnh liệt hơn bao giờ hết Có lẽ vì thế giọng điệu ở tập thơ này không
Trang 35mượt mà, không êm đềm mà đầy khắc khoải, xáo trộn Lưu Quang Vũ dườngnhư luôn đặt ra hàng loạt nghi vấn, hoài nghi không thể nào lí giải, cắt nghĩađược hết: Mọi niềm đau, trái ngang ở cuộc đời xuất phát từ đâu? vì ai?
Là một người với trái tim và tâm hồn ngạy cảm trước cuộc sống, Lưu
Quang Vũ luôn hoài nghi: “cái gì đang đợi ta ở cuối?” Đó là cái chết, là sự tàn phai, là hư ảo, hay là một vấn đề khác của tâm thức hiện sinh Thơ Lưu Quang Vũ như ghi dấu lại hành trình đi tìm và khám phá bản thể của chính nhà văn Khi đặt ra những câu hỏi về cuộc đời, tác giả cũng chính là đang đối
thoại với chính mình, nhận ra bản thân cũng cô đơn, lạc lõng giữa kiếp người
và đau đáu đi tìm ý nghĩa sự tồn tại của chính mình Lưu Quang Vũ như mơ
hồ nhận ra phi lí của cuộc tồn sinh, tri nhận “cái không biết” của bản thân.Ông đã hồ nghi tất cả những diễn ngôn thời đại và để tiếng thơ mình lạc điệubởi sớm nhận ra gương mặt hủy diệt của chiến tranh, thấm thía nỗi đau thânphận Ông đã từng ước mọng về một “con đường” có “hoa tầm xuân”, về một
“dòng sông cũ cánh buồm giăng trắng xóa” (Hoa tầm xuân) Đáng tiếc ước
vọng đó trước mắt quá mịt mù không ánh sáng, “cạn khôi trong cỏ dại ubuồn” nên Lưu Quang Vũ rơi vào trạng thái tuyệt vọng với “những khổ đaudằng dặc” và cô độc chơi vơi bởi mất điểm tựa tinh thần Ông đã phải chua
chát nhận ra rằng “Quen thất vọng tôi hồ nghi mọi chuyện” (Lá thu).
Lưu Quang Vũ luôn trăn trở tự vấn, hoài nghi về chính bản thể củamình:
“Ta là ai
Ta đến làm gì?
Ta đến làm gì ta sẽ đi tới đâu?”
(Bài hát trong một cuốn phim cũ)
Như vậy, cảm thức hiện sinh được thể hiện qua những câu hỏi hòa nghi
trong thơ ông Và điều đó được thể hiện cụ thể qua bài thơ Không.
Trang 36“Không có làng quê nào để từ bỏ/Không có thành phố nào để đi đến / Không có vật quí nào để mất/ Không thư ai để chờ /Không hòn đảo nào để phát hiện/Không thành quách nào để chiếm lĩnh/…/Không có kẻ thù nào để ác?/ Không có tội lỗi nào để phạm/Không có cả một nỗi buồn để khóc/Cũng chẳng có chiến lũy nào để chết/Chúng ta làm gì cho hết buổi chiều nay?” (Không)
Trong bài thơ Không, từ “không” được lặp đi lặp lại 15 lần như là một
lời khẳng định của tác giả chắc chắn về sự trống rỗng trong không khí bài thơlẫn trong lòng tác giả Cảm thức hiện sinh đẩy thi nhân đến mức hoài nghi, tự
vấn và chối bỏ nguồn cội, cảm xúc: “không quê hương, không lý tưởng, không niềm tin, không buồn vui, không khổ đau - hạnh phúc, không có nơi nào để chạy trốn” Tác giả như lạc giữa biển đời lạnh lùng, không có chút niềm tin,
lý tưởng sống nào, cũng không thuộc về nơi nào để dựa dẫm, trốn chạy Baotrùm không gian thơ và nỗi cô đơn vô vọng, bị đẩy đến cùng cực của sự hoàinghi, tuyệt vọng Nhiều nhà thơ khác cũng đồng điệu với sự lạc lõng, hoài
nghi của Lưu Quang Vũ, chẳng hạn như Văn Cao với bài thơ Trôi: “Tôi thả con thuyền giấy/Con thuyền giấy trôi/Tôi thả một bông hoa/bông hoa trôi/Tôi thả một chiếc lá/chiếc là trôi/Tôi ôm em trong tay/em vẫn trôi.” (Trôi - thơ
Văn Cao) Cả hai tác giả đều đặt độc giả vào trạng thái phủ nhận, chối bỏ(Không) và thả trôi bản thân (Trôi) như một cách thể hiện sự lựa chọn của họkhi vẫn hoài nghi về cuộc đời Bởi, họ không muốn làm “chim trong lồng”,một “thứ búp bê trong tủ kính” Trước nhất, Lưu Quang Vũ hay Văn Cao đềunhận thức được tâm thế lạc lõng của mình, chưa thấy được ý nghĩa của sự tồntại Nhưng sau đó, họ phủ nhận những điều phi lý của cuộc sống để chọn chomình cách sống đúng đắn, tìm hiểu triệt để, tận cùng lý do tồn tại của bảnthân
Tác giả Lưu Quang Vũ luôn đau đáu với câu hỏi tự vấn: “Tồn tại haykhông tồn tại?”, ý nghĩa của việc tồn tại là gì, nhận thức hay không, hành
Trang 37động hay không,…Mọi câu hỏi nghi vấn về cuộc đời đều được nhà thơ thểhiện trong từng câu chữ Điều đó thể hiện sự hoài nghi của tác giả trước cuộcđời, về trách nhiệm của mình khi thức tỉnh trước hiện thực đời sống và tự vấnbản thân nên hành động hay thờ ơ “quay lưng’
Lưu Quang Vũ từ việc tự vấn đã hiểu được quy luật của vũ trụ: “Khổ đau hôm nay không như khổ cũ/Nỗi lo âu cũng khác hẳn xưa rồi” (Anh đã
mất chi anh đã được gì) Từ đó, nhà thơ hiểu rõ hơn ai hết về sự hiện hữucủa thân phận con người dù tồn tại vì mục đích gì, cuối cùng cũng về với tro
bụi: “Ôi nếu phải tan thành bụi cát/Thành hư vô, không khí trời, không ánh sáng/Chỉ rỗng không, câm lặng, vô hình ” (Bài hát ấy vẫn còn là dang dở).
Khi nhận thức được vòng tròn sinh lão bệnh tử của đời người, đó là hiện
sinh của niềm an ủi, sự giải thoát và sự cứu rồi: “Khi cánh cửa cuối cùng khép lại/Chẳng còn gì ngoài cõi hư vô?/Cha thường yêu những dòng sông không ngừng chảy” (Buổi chiều ấy) Và sự đó là hiện hữu của những biến đổi: “Ai biết ngày mai sẽ có những gì/Người đổi thay năm tháng cũng qua đi/ Giữa thế giới mong manh và biến đổi.” (Và anh tồn tại)
Đi từ sự hoài nghi đến giác ngộ, ông càng ý thức được sự hiện hữu của
mình và của tha nhân: “Thành phố đầy bụi bặm/ Những mặt người lì nhẵn chen nhau/Tôi biết làm gì tôi biết đi đâu…/ Tôi đi một mình trong phố vắng ban đêm” (Có những lúc) Từ đó, nhà thơ nhìn thẳng vào hiện thực, hiểu được
sự tồn tại bé nhỏ của mình chỉ như chiếc lá, tấm gương soi: “Có những lúc tâm hồn tôi rách nát/Như một chiếc lá khô như một chồng gạch vụn/ Một tấm gương chẳng biết soi gì/ Một đáy giếng cạn không một hốc mắt đen sì/ Trời chật chội như chiếc lồng trống rỗng” (Có những lúc) Lưu Quang Vũ đã nhìn
hiện thực cuộc sống bằng đôi mắt hoài nghi, tự vấn Nhà thơ tự hỏi sự tồn tạicủa mình có ý nghĩa gì, hoài nghi về sự hiện hữu của cuộc đời rồi sau chót,khi đã tỉnh ngộ, ông hiểu được vòng xoay hữu hạn của đời người, nhận thứcđược sự tồn tại của bản thân dù nhỏ bé nhưng lại mang giá trị riêng Trên
Trang 38hành trình đi từ hoài nghi đến giác ngộ đó, Lưu Quang Vũ đã chứng minhđược tài năng, tấm lòng của một nghệ sĩ đích thực rung cảm trước cuộc đời.
2.1.3 Con người với khát vọng tình yêu
Ngoài cái đẹp là điều kiện không thể thiếu của nghệ thuật, thì tình yêukhông bao giờ vắng bóng trong gia tài tác phẩm của bất cứ nhà văn nào Cókhi tình yêu là chủ đề chính của tác phẩm, nhưng trong nhiều tác phẩm hướngđến những nội dung khác, nhà văn cũng lồng vào đó những câu chuyện tình
Và nó như một sự bổ sung cần thiết tạo nên vẻ đẹp cho tác phẩm Lưu Quang
Vũ được tiếp cận một nền giáo dục nhân bản, khai phóng, kết hợp với nguồncảm xúc dồi dào của một tâm hồn nghệ sĩ, nên đề tài về tình yêu xuyên suốttrong toàn bộ sáng tác của ông và khai thác nhiều cung bậc của tình yêu Nókhông bó hẹp trong tình yêu đôi lứa mà còn là tình yêu quê hương đất nước,yêu những con người cùng khổ,…
Trong thơ của ông, con người khát khao tình yêu được miêu tả ở nhiềucảm xúc khác nhau như: hạnh phúc, chờ mong, ngóng đợi, ghen tuông, sayđắm, đắng cay, khổ hận…Mọi cung bậc cảm xúc đó đều gắn với tình yêu vàcuộc đời thực của chính tác giả Đó là những rung động trong trẻo của tìnhyêu đầu đời thể hiện hình ảnh con người khát khao tình yêu mà tác giả chính
là kẻ khát khao tình cảm đó nhất
Biểu hiện đầu tiên thể hiện Lưu Quang Vũ chính là con người khaokhát tình yêu bậc nhất chính là khi nhà thơ dành cho người mình yêu nhữnglời miêu tả hoa mĩ nhất Trong mắt của kẻ si tình, người con gái hiện lên với
đầy đủ vẻ đẹp của một nàng thơ: “Em là một nhành mai xanh biếc…là con sóc hiền, là chùm dẻ mùa đông, là sông êm ả một dòng, là lụa, là lửa, là bóng cây, là âm nhạc của đời anh… Anh yêu đến quên mình và luôn ngỡ ngàng bởi
vẻ đẹp bí ẩn của người con gái “Em” xuất hiện với vẻ đẹp đời thường, nhưng
vẫn rực rỡ, làm bừng sáng cả không gian: “Chân bước vội em về từ phố rộng/Mang mùa hè xanh biếc trên vai/Chiều mênh mông gió lớn thổi từ
Trang 39trời/Em bỏ nón tóc lòa xòa trên má” (Chiều chuyển gió) Vẻ đẹp của người
thiếu nữ ấy còn xuất hiện trong mối giao tình với không gian thiên nhiên nên
thơ: “Nhớ vai em chập chờn hoa gạo đỏ/Nhớ vằng trăng xé nửa lúc xa xôi” (Từ biệt), “Ôi vai em mềm ấm biết bao nhiêu/Em ngoảnh lại nhìn buổi chiều lộng gió/Tim anh đập như quả chuông bé nhỏ/Dưới hồi chuông vô tận của trời xanh” (Chiều chuyển gió) Trong thơ Vũ, chúng ta không khó bắt gặp
việc miêu tả hình tượng người con gái với vẻ đẹp tuyệt trần, thanh khiết từ đôimắt, bàn tay, đến mái tóc, bờ vai…Chính vì tác giả là kẻ si tình nhất, khátkhao tình yêu nhất, nên mới có thể miêu tả cụ thể vẻ đẹp thuần khiết của
những người phụ nữ Á Đông trong những dòng thơ tình Bắt đầu từ “cô bé con
có đôi mắt mở to” mộng mơ, trong trẻo của tuổi học trò “Sau của gương là đôi mắt thương yêu” (Chiều chuyển gió) rồi đến đôi mắt của người từng trải “Mắt
em buồn hoang vắng” (Mưa dữ dội trên đường phố trên mái nhà).
Có lúc chân dung người nữ xuất hiện với đôi vai mềm ấm, nữ tính và
gợi cảm: “Em của anh, đôi vai ấm dịu dàng/Người nhóm bếp mỗi chiều, người thức dậy lúc tinh sương” (Và anh tồn tại); hay hiện lên với vẻ phong sương, gầy guộc vì cuộc đời: “Em gầy đi đấy đôi vai nhỏ/Lẫn với bờ cây, lẫn với thuyền” (Thu) Hình ảnh mái tóc của người con gái cũng được miêu tả với nhiều hình dung khác nhau: “Tóc em dài như một ngày mệt mỏi” (Bầy ong trong đêm sâu) “Tóc em đây lời nói của em đây” (Em - tình yêu những năm
đau xót và hi vọng) Mái tóc ấy có khi không còn là suối tóc mềm mại mà là
“tóc rối” rất thực mà cũng rất gợi cảm: “Và gió thổi quanh em, tóc rối/ Những bông hoa đã mất vụt bay về ” (Hoa tầm xuân)…
Đặc biệt nhất có lẽ hình ảnh xuất hiện nhiều nhất trong thơ ông đó làhình ảnh “ngực em” Khi đề cập đến hình ảnh này, tác giả đã thể hiện khátkhao tình yêu đến cháy bỏng Đó là sự khác biệt trong thơ ông khi hình ảnh
này rất hiếm gặp trong các sáng tác của các nhà thơ cùng thời: “Ngực em sáng như mặt trời sắp lặn/Tôi đầm đìa sương lạnh của bờ đê” (Đất nước đàn
Trang 40bầu) Dưới ngòi bút tinh tế của “anh”, hình ảnh “em” còn hiện lên căng trànsức thanh xuân Vẻ đẹp đó còn được gắn liền với nét đẹp Á Đông Nó gợi lên
vẻ đẹp trong trắng, thuần khiết:
“Cô giáo cười, áo trắng dài tung bay Hoa phượng đỏ lòa xòa nghiêng trước ngực”
(Giấc mộng đêm)
Và ấn tượng hơn nữa đó là vẻ đẹp nữ tính, đầy đặn, căng tràn nhựasống Có thể thấy Lưu Quang vũ đã tìm ở “em” một tình yêu hạnh phúc vôtận, như là nguồn cội của sức sống, là “sức lực của đời anh”
Chính cảm xúc khao khát tình yêu rạo rực, say mê trong lòng thi nhân
đã giúp Lưu Quang Vũ tạc nên hình tượng người phụ nữ vô cùng xinh đẹp
trong thơ Và cùng chính nhờ những người nữ đẹp thật ở ngoài đời đã truyền
cảm hứng tạo ra vẻ đẹp rất riêng trong thơ tình Lưu Quang Vũ Vẻ đẹp ấy lạiđược cảm nhận thông qua đôi mắt thi sĩ nam nhân nên không chỉ tâm hồn màthân thể còn hiện lên rất rõ: “mắt em”, “bàn tay em”, “ngón tay em”, “vaiem”, “tóc em”, “ngực em”… Chính việc miêu tả vẻ đẹp thân thể của ngườiphụ nữ càng chứng minh sự quan sát chi tiết, cụ thể cùng tình yêu khát vọngtáo báo, đầy lãng mạn trong thơ tình Lưu Quang Vũ
Biểu hiện thứ hai của con người khao khát tình yêu đó là tác giả đồngcảm với tiếng gọi của những khát khao đòi hỏi chia sẻ, là tiếng kêu đau đớncủa sự lẻ loi Tình yêu bỗng trở thành một niềm tin cứu cánh, một thế giớidiệu kỳ mà đấng tạo hóa ban cho loài người Đối với thi nhân mang trongmình dòng máu của chủ nghĩa hiện sinh mới dám dấn thân bước đi trên đườngbiên của thiên đường và địa ngục, của hai bờ đam mê và tuyệt vọng Tình yêuđến với họ mong manh rồi ra đi trong sự kiêu hãnh bất diệt
Cảm thức lo âu về sự mất mát trong tình yêu là cảm thức chung củanhiều nhà thơ miền Nam trước năm 1975 “Lo âu, xao xuyến, một cảm tínhđặc biệt hiện sinh cũng được nhiều nhà văn ở Sài Gòn khai thác Giống bất cứ