Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Quy luật ấy được biểu hiện ở hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đảng ta xác định: Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng CNXH, chúng ta không một chút nơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, thế giới đang tồn tại những bất ổn, chứa đựng những yếu tố khó lường. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày càng nặng nề, phức tạp. Vì vậy, việc quán triệt, nhận thức đúng đắn chủ trương, quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức, mọi cá nhân, mà trước hết là cán bộ chủ chốt, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN trong mọi tình huống
Trang 1Thời lượng: 45 tiết
Bộ môn phụ trách: Bộ môn kinh tế học
Đối tượng: Sinh viên chính quy
Trang 22
MỤC LỤC Chương I: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của Kinh tế học 6
2.2 Đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của KTGD 11
3.2 Sự ra đời kinh tế học giáo dục tại Việt Nam 14
4 Các phương pháp nghiên cứu kinh tế học giáo dục 16
2.1 Vai trò của kinh tế đối với sự phát triển giáo dục 30
Trang 33
2.2 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế 33
3.3 Vai trò của giáo dục với sự tăng trưởng kinh tế 34
1.1.1 Nhu cầu, mong muốn, nhu cầu có khả năng thanh toán (cầu thị trường)
1.4.3 Các công cụ của Chiến lược danh mục thị trường/sản phẩm 45
2.1 Thị trường giáo dục và thị trường thông thường 45
2.3 Những đặc điểm của một nhà trường thành công 46 2.4 Chiến lược quản lý Marketing của tổ chức giáo dục 47
2.4.3 Thiết kế hệ thống Marketing - Mix của tổ chức giáo dục 48 2.5 Thước đo năng lực Marketing trong giáo dục 48
1 Khái niệm, tính chất và đặc điểm đầu tư giáo dục 50
Trang 44
2.2.1 Sử dụng, phát triển nguồn nhân lực giáo dục 53
2.2.3 Sử dụng, phân phối đầu tư xây dựng cơ bản 55
2.3.2 Nguyên tắc, phương pháp xác định tổng và tỉ lệ đầu tư giáo dục 56 2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư giáo dục 60
3.4 Nguồn, tỉ lệ và cơ cấu đầu tư cho giáo dục bắt buộc 63
3.4.4 Nguyên tắc đầu tư cho giáo dục bắt buộc 65
4.4 Chi phí khả biến (CPKB) và chi phí bất biến (CPBB) 67 4.5 Tổng chi phí, chi phí đơn vị, chi phí cận biên 67
5.2.1 Giá thành GD xã hội và giá thành GD cá nhân 67 5.2.2 Giá thành Giáo dục trực tiếp và giá thành Giáo dục gián tiếp 68 5.2.3 Giá thành GD vật chất và giá thành GD con người 69 5.2.4 Phương pháp tính giá thành giáo dục theo chi phí bất biến và chi phí khả biến
70
Trang 55
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục 81
2.4 Các phương pháp xác định hiệu quả kinh tế giáo dục 82
2.5.3 Tránh sự bất hợp lý trong phân bổ nguồn đầu tư 85
2.5.5 Cải tiến trường học và nâng cao trách nhiệm của giáo viên 86
Trang 66
CHƯƠNG I ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA KINH TẾ HỌC
GIÁO DỤC
1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 Kinh tế học
Từ "economics" (nghĩa là: kinh tế học) trong tiếng Anh (và các chữ tương
tự như: "économiques" trong tiếng Pháp, "Ökonomik" trong tiếng Đức) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với "oikos" là "nhà" và "nomos" là "quy tắc" hay "quy luật", nghĩa là "quy tắc quản lí gia đình" Trong tiếng Việt, từ "kinh tế" là một từ Hán Việt, rút gọn từ cụm từ "kinh bang tế thế" (nghĩa là: trị nước, giúp đời) và
từ "học" là một từ Hán Việt có nghĩa là "tiếp thu tri thức" thường được đi kèm
sau tên các ngành khoa học (như "ngôn ngữ học","toán học")
Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích
Kinh tế học là một nhánh của khoa học xã hội nghiên cứu sản xuất, phân phối
và tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ
Nội dung của khái niệm kinh tế đã mở rộng cùng với sự phát triển xã hội
và nhận thức của con người
Định nghĩa được xem là bao quát nhất cho kinh tế học hiện đại do Lionel Robbins đưa ra là: “Khoa học nghiên cứu hành vi con người cũng như mối quan
hệ giữa nhu cầu và nguồn lực khan hiếm, trong đó có giải pháp chọn lựa cách sử dụng” Theo ông, sự khan hiếm nguồn lực có nghĩa là tài nguyên không đủ để thỏa mãn tất cả mọi ước muốn và nhu cầu của mọi người Không có sự khan hiếm và các cách sử dụng nguồn lực thay thế nhau thì sẽ không có vấn đề kinh
tế nào cả
Do đó, kinh tế học, giờ đây trở thành khoa học của sự lựa chọn bị ảnh hưởng như thế nào bởi các động lực khuyến khích và các nguồn lực Chọn lựa cách sử dụng hiệu quả nhất các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm (hữu hạn) để sản xuất ra được nhiều hàng hoá và dịch vụ nhất đáp ứng nhu cầu của con người
1.2 Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội (Opportunity Cost) là những lợi ích mất đi khi chọn
phương án này mà không chọn phương án khác Phương án được chọn khác có thể tốt hơn phương án đã chọn
Ví dụ về chi phí cơ hội:
Trang 77
Giả sử bạn đang sở hữu một toà nhà mà bạn sử dụng làm cửa hàng bán lẻ Nếu cách sử dụng tốt nhất kế tiếp với toà nhà là cho ai đó thuê, chi phí cơ hội của việc sử dụng toà nhà đã dùng cho việc kinh doanh của bạn là tiền thuê mà bạn có thể nhận được Nếu cách sử dụng kế tiếp tốt nhất cho toà nhà là bán nó cho ai đó, chi phí cơ hội hàng năm của việc sử dụng toà nhà cho việc kinh doanh của bản thân bạn là lợi tức mà bạn có thể nhận được (ví dụ, nếu lãi suất là 10% và toà nhà có giá trị 1 tỷ VND), bạn từ bỏ 100 triệu VND lãi suất hàng năm do giữ toà nhà, giả sử là giá trị toà nhà vẫn không thay đổi trong năm - giảm giá hoặc tăng giá sẽ được tính vào nếu giá trị toà nhà thay đổi theo thời gian.)
Chi phí cơ hội của một lớp học tại trường đại học gồm:
- Học phí, chi phí cho sách vở và dụng cụ (chỉ tính chi phí ăn và ở nếu những chi phí này khác với mức chi phí phải trả cho sự lựa chọn tốt nhất kế tiếp của bạn),
- Thu nhập dự tính trước (thường là chi phí lớn nhất liên quan tới việc học đại học)
- Chi phí tinh thần (căng thẳng, lo lắng ? đi cùng do việc nghiên cứu, lo lắng về điểm, vân vân)
Nếu bạn đi xem một bộ phim, chi phí cơ hội bao gồm không chỉ chi phí của vé xem phim và đi lại mà còn chi phí thời gian cần để xem bộ phim
Một sinh viên đứng trước một quyết định phân bổ nguồn lực quý báu của mình là thời gian Anh ta có thể dành toàn bộ thời gian để nghiên cứu môn kinh
tế học, hoặc dành toàn bộ thời gian để nghiên cứu môn tâm lý học, và hoặc là phân chia thời gian giữa hai môn học đó Để có một giờ học môn này, anh ta phải từ bỏ một giờ học môn kia Để có một giờ học một trong hai môn kia, anh
ta phải từ bỏ một giờ đi chơi, xem ca nhạc hoặc đi làm để kiếm thêm thu nhập
Về chi tiêu của một gia đình nhiều thế hệ, họ có thể mua thực phẩm, hoặc quần áo, hoặc đưa cả nhà đi nghỉ Họ cũng có thể tiết kiệm một phần thu nhập cho lúc về già, hoặc cho con cái vào học đại học Khi quyết định chi tiêu thêm một đồng cho một trong các sản phẩm nêu trên, họ mất đi một đồng để chi cho sản phẩm khác
Do tính trừu tượng và tương đối của nó, cũng như việc nó chưa xảy ra nên chi phí cơ hội thường không xuất hiện trong các báo cáo của bộ phận tài chính, kế toán Tuy nhiên, đây luôn là vấn đề các nhà quản lý phải cân nhắc khi đưa ra một quyết định Gần như mỗi phương án sẽ liên quan đến ít nhất một chi phí cơ hội
Trang 88
Khi các nhà kinh tế thảo luận về chi phí và lợi ích đi cùng với những lựa chọn thay thế, thảo luận này thường tập trung vào lợi ích cận biên và chi phí cận biên Lợi ích cận biên thu được từ một hoạt động là lợi ích phụ trội có được khi mức độ hoạt động tăng lên một đơn vị Chi phí cận biên được định nghĩa là chi phí phụ trội nảy sinh khi mức độ hoạt động tăng lên một đơn vị Các nhà kinh tế cho rằng các cá nhân cố tối đa hoá lợi ích ròng thu được từ mỗi hoạt động
Nếu lợi ích cận biên vượt quá chi phí cận biên, lợi ích ròng sẽ tăng nếu mức độ hoạt động tăng Vì vậy, mỗi cá nhân lý trí sẽ tăng mức độ của bất kỳ hoạt động nào nếu lợi ích cận biên vượt quá chi phí cận biên Ngược lại, nếu chi phí cận biên vượt quá lợi ích cận biên, lợi ích ròng tăng khi mức độ hoạt động giảm Không có lý do nào để thay đổi mức độ của một hoạt động (và lợi ích ròng là tối đa) tại mức hoạt động có lợi ích cận biên bằng chi phí cận biên
1.3 Giới hạn khả năng sản xuất
Kinh tế học trả lời 3 câu hỏi cơ bản:
- Sản xuất cái gì, với số lượng bao nhiêu? (tiêu dùng hay đầu tư, hàng hóa tư nhân hay công cộng, thịt hay khoai tây )
- Sản xuất như thế nào? (sử dụng công nghệ nào? )
- Sản xuất cho ai? (sản xuất phải hướng đến nhu cầu người tiêu dùng, phân phối đầu ra cho ai? )
Một công cụ để phân tích vấn đề này là đường giới hạn khả năng sản xuất (viết tắt: theo tiếng Anh: PPF- production possibilities frontier)
Giả sử, một nền kinh tế chỉ sản xuất hai loại hàng hóa Đường PPF chỉ ra các sản lượng khác nhau của hai loại hàng hóa
Công nghệ và nguồn lực đầu vào (như: đất đai, nguồn vốn, lao động tiềm năng) cho trước sẽ sản xuất ra một mức giới hạn tổng sản lượng đầu ra Điểm A
Trang 99
trên đồ thị chỉ ra rằng có một lượng FA thực phẩm và một lượng CA máy tính được sản xuất khi sản xuất ở mức hiệu quả Cũng tương tự như vậy đối với một lượng FB thực phẩm và CB máy tính ở điểm B
Mọi điểm trên đường PPF đều chỉ ra tổng sản lượng tiềm năng tối đa của nền kinh tế, mà ở đó, sản lượng của một loại hàng hóa là tối đa tương ứng với một lượng cho trước của loại hàng hóa khác
Sự khan hiếm chỉ ra rằng, mọi người sẵn sàng mua nhưng không thể mua
ở các mức sản lượng ngoài đường PPF Khi di chuyển dọc theo đường PPF, nếu sản xuất một loại hàng hóa nào nhiều hơn thì sản xuất một loại hàng hóa khác phải ít đi, sản lượng hai loại hàng hóa có mối quan hệ tỷ lệ nghịch Điều này xảy ra là bởi vì để tăng sản lượng một loại hàng hóa đòi hỏi phải có sự dịch chuyển nguồn lực đầu vào để sản xuất loại hàng hóa kia Độ dốc tại một điểm của đồ thị thể hiện sự đánh đổi giữa hai loại hàng hóa Nó đo lường chi phí của một đơn vị tăng thêm của một loại hàng hóa khi bỏ không sản xuất một loại hàng hóa khác, đây là một ví dụ về chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội được miêu tả như là một "mối quan hệ cơ bản giữa khan hiếm và lựa chọn" Trong kinh tế thị trường, di chuyển dọc theo một đường có thể được miêu tả như là lựa chọn xem có nên tăng sản lượng đầu ra của một loại hàng hóa trên chi phí của một loại hàng hóa khác không
Với sự giải thích như trên, mỗi điểm trên đường PPF đều thể hiện hiệu quả sản xuất bằng cách tối đa hóa đầu ra với một sản lượng đầu vào cho trước Một điểm ở bên trong đường PPF, ví dụ như điểm U, là có thể thực hiện được nhưng lại ở mức sản xuất không hiệu quả (bỏ phí không sử dụng các nguồn lực đầu vào) Ở mức này, đầu ra của một hoặc hai loại hàng hóa có thể tăng lên bằng cách di chuyển theo hướng đông bắc đến một điểm nằm trên đường cong
1.4 Chuyên môn hoá và thương mại
Trong cuốn The Wealth of Nations (Của cải của các dân tộc), Adam Smith cho rằng tăng trưởng kinh tế xảy ra là kết quả của sự chuyên môn hoá và phân công lao động Nếu mỗi hộ gia đình sản xuất mọi hàng hoá mà họ sử dụng, tổng mức tiêu thụ và sản xuất của xã hội sẽ rất nhỏ Nếu mỗi cá nhân chuyên môn hoá vào trong mỗi hoạt động sản xuất mà họ "giỏi nhất", tổng sản lượng sẽ lớn hơn Chuyên môn hoá mang lại những thành tựu như vậy vì nó
- Cho phép các cá nhân chuyên môn hoá trong những hoạt động mà họ có tài năng hơn
- Các cá nhân trở nên thành thạo hơn với một nhiệm vụ mà họ thường xuyên thực hiên,
Trang 1010
- Ít thời gian bị mất khi phải chuyển từ nhiệm vụ này sang nhiệm vụ khác Adam Smith và David Ricardo cho rằng chuyên môn hoá và thương mại quốc tế mang lại những lợi ích tương tự Nếu mỗi nước chuyên môn những loại sản phẩm mà họ phù hợp nhất, tổng mức hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế thế giới sẽ tăng lên
Có hai phương pháp thường được sử dụng để quyết định liệu một cá nhân hay một quốc gia "thích hợp nhất" với một hoạt động cụ thể nào:
- Lợi thế tuyệt đối (absolute advantage)
Một cá nhân (một quốc gia) có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một mặt
hàng nếu cá nhân (quốc gia) đó có thể sản xuất nhiều hàng hoá hơn so với các cá nhân (hoặc quốc gia) khác sản xuất được
- Lợi thế so sánh (compartive advantage)
Một cá nhân (một quốc gia) có lợi thế so sánh trong sản xuất một loại
hàng hoá nếu cá nhân (quốc gia) đó có thể sản xuất hàng hoá với mức chi phí cơ hội thấp nhất
Lợi thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học phát biểu rằng mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác)
Tư bản hay vốn trong kinh tế học là khái niệm để chỉ những vật thể có giá trị, có khả năng đo lường được sự giàu có của người sở hữu chúng Tư bản là sở hữu thuộc về cá nhân hay tạo ra bởi xã hội
2 Kinh tế học giáo dục
2.1 Khái niệm
Kinh tế giáo dục là môn khoa học nghiên cứu bản chất và các quy luật tác động của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, với chất lượng cuộc sống của cá nhân và ngược lại
Trang 1111
2.2 Đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của Kinh tế giáo dục
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
KTHGD nghiên cứu về quan hệ tương hỗ giữa giáo dục và kinh tế, cũng như các hiện tượng kinh tế trong lĩnh vực giáo dục và các quy luật kinh tế trong
giáo dục
Cụ thể:
- Đặc điểm, biểu hiện và tính chất hoạt động của các quy luật kinh tế trong lĩnh vực giáo dục
- Chức năng và nhiệm vụ kinh tế của hệ thống GD, của từng phân hệ
- Sự vận động các nguồn vốn trong họat động GD
- Hiệu quả GD tác động đến sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Tại sao? Nguyên nhân?
2.2 Nhiệm vụ của kinh tế giáo dục
- Nghiên cứu mối quan hệ có tính quy luật giữa giáo dục và kinh tế trong từng giai đoạn phát triển
+ Nghiên cứu giá trị kinh tế của giáo dục
+ Nghiên cứu đặc điểm biểu hiện các quy luật kinh tế trong GD
+ Nghiên cứu quan hệ tương hỗ giữa giáo dục và tái sản xuất sức lao động
+ Nghiên cứu đầu tư và hiệu quả kinh tế GD
+ Nghiên cứu quan hệ giữa giáo dục với kinh tế thị trường
- Xây dựng cơ sở khoa học cho các chiến lược phát triển giáo dục nhằm thúc đẩy phát triển KT-XH
- Thiết lập phương pháp định lượng hiệu quả và hiệu suất đào tạo trong và ngoài
hệ thống giáo dục
3 Lịch sử phát triển môn học
3.1 Lịch sử phát triển môn học
3.1.1 Giai đoạn manh nha
Các tư tưởng giáo dục chứa đựng quan điểm kinh tế đã có từ rất sớm, nhưng thời gian hình thành manh nha kinh tế học giáo dục có thể noid là từ đầu những năm đầu 20 đến cuối những năm 50 của thế kỷ 20 Đánh dấu cho sự khởi đầu của môn kinh tế học giáo dục là sự ra đời cuốn “Ý nghĩa kinh tế của giáo dục quốc dân” năm 1924 của nhà kinh tế học nổi tiếng Liên Xô Strumilin Cuốn sách gồm 2 phần chính: Phần thứ nhất nói về quan hệ giữa lao động chân tay và công tác đào tạo trong nhà trường Phần thứ hai nói về quan hệ giữa lao động trí óc và
Trang 1212
trình độ giáo dục Nội dung cuốn sách chủ yếu trình bày ảnh hưởng và tác động của giáo dục đối với phát triển sản xuất và tăng trưởng kinh tế thông qua phân tích thống kê tuổi tác, thời gian công tác và trình độ giáo dục của người lao động,
so sánh thu nhập của người lao động với kinh phí giáo dục đã chi để xác định hiệu quả kinh tế mà việc đầu tư cho giáo dục mang lại Cuốn sách này rất có giá trị học thuật, nhưng vào thời gian này chưa gây được sự chú ý trong giới kinh tế Mãi đến năm 1963, trong một hội thảo do các nhà kinh tế học phương tây tổ chức, người ta mới phát hiện ý nghĩa quan trọng của cuốn sách Strumilin trong việc đặt nền tảng cho bộ môn kinh tế học giáo dục
Ở phương Tây, cuốn sách đầu tiên được các nhà kinh tế thừa nhận có liên quan đến kinh tế học giáo dục là cuốn “Quan điểm về vốn nhân lực” của Giáo sư J.R.Walsh thuộc Đại học Oxford (Mỹ) biên soạn năm 1935 Nội dung cuốn sách này là trình bày mối quan hệ giữa thu nhập và chi phí giáo dục đại học và giáo dục chuyên nghiệp mới mang tính chất và đặc trưng cơ bản, và mới mang lại lợi nhuận
Về sau đã có thêm nhiều tài liệu liên quan đến Kinh tế học giáo dục Theo thống kê của M.Blaug thì đến năm 1960 đã có 53 tập sách viết về Kinh tế học giáo dục
Giai đoạn manh nha của bộ môn Kinh tế học giáo dục có hai điểm nổi bật: Điểm thứ nhất là đã có các sách chuyên nghành với số lượng không ngừng tăng lên nhưng trong các tài liệu này chư đề cập đến danh từ Kinh tế học giáo dục Điểm thứ hai là các công trình nghiên cứu ở giai đoạn này mới dừng lại ở việc nghiên cứu giá trị và ý nghĩa kinh tế của giáo dục
3.1.2 Giai đoạn hình thành
Vào những năm 60 của thế kỷ 20, dưới ánh sáng của lý luận phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế, nhiều công trình nghiên cứu về Kinh tế học giáo dục đã được thực hiện, đặc biệt là ở Mỹ Năm 1963, Hội kinh tế học quốc tế đã tổ chức hội nghị chuyên đề về Kinh tế học giáo dục, UNESCO và Ngân hàng Thế giới đều có cử đại biểu tham dự hội nghị này Hội nghị đã quyết định xuất bản
“Tuyển tập Kinh tế học giáo dục” Năm 1962, J.E.Vaizey người Anh viết cuốn
“Kinh tế học giáo dục”
Người có đóng góp to lớn nhất cho sự ra đời bộ môn Kinh tế học giáo dục
là T.W.Schultz giáo sư Đại học Chicago (Mỹ), người đạt giải Nobel về kinh tế
năm 1979 Tác phẩm của ông gồm có: “Lý luận vốn nhân lực”, “Hình thành vốn
giáo dục” năm 1960, “Đầu tư vốn nhân lực” năm 1961, “Giáo dục và sự tăng trưởng kinh tế” năm 1961, “Giá trị kinh tế của giáo dục” năm 1961 Quan điểm
Trang 13tư bản con người
E.F.Denison cũng là một giáo sư kinh tế học thuộc Đại học Chicago (Mỹ)
đã viết cuốn “Tư liệu tăng trưởng kinh tế Mỹ và sự lựa chọn của chúng ta” vào
năm 1962, theo đó ông đã làm sáng tỏ và lượng hóa đóng góp của giáo dục trong tăng trưởng kinh tế
Đặc điểm phát triển của bộ môn Kinh tế học giáo dục giai đoạn này là đã xác lập danh từ chuyên môn Kinh tế học giáo dục, đã xác lập được cơ sở lý luận của môn học Phạm vi nghiên cứu của bộ môn Kinh tế học giáo dục cũng đã được
mở rộng ra nhiều vấn đề như quy hoạch giáo dục, tài chính giáo dục Đặc biệt đã hình thành một đội ngũ chuyên gia và học giả chuyên nghiên cứu về Kinh tế học giáo dục
3.1.3 Giai đoạn phát triển
Sau những năm 70 của thế kỷ 20, nghiên cứu Kinh tế học giáo dục trên thế giwosi chuyển sang giai đoạn phát triển ổn định Công trình nghiên cứu về Kinh tế học giáo dục đã tăng từ 800 giữa những năm 60 lên 2000 vào giai đoạn hiện nay Đã xuất hiện thêm nhiều nhà kinh tế nghiên cứu về Kinh tế học giáo dục ở Anh và Mỹ như J.Shechan, Bushlar Woodhall,
Đặc điểm phát triển Kinh tế học giáo dục ở giai đoạn này là:
- Thứ nhất, nội dung và phạm vi nghiên cứu của môn học đã có bước phát triển
lớn, như nghiên cứu tính chất sản xuất của giáo dục, dự báo nhu cầu xã hội đối với giáo dục, chi phí và hiệu quả giáo dục
- Thứ hai, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu mới về các vấn đề nhu cầu giáo
dục, quan hệ giữa dân số và giáo dục, phát triển kinh tế và nhu cầu về nhân lực trình độ cao
- Thứ ba, đã xuất hiện nhiều cơ quan, tổ chức quốc tế nghiên cứu về kinh tế học
giáo dục Ví dụ, UNESCO có Viện nghiên cứu kế hoạch hóa giáo dục quốc tế tại
Trang 1414
Paris; Một số trường đại học Pháp thành lập “Viện nghiên cứu kinh tế và giáo dục” Ở Trung Quốc năm 1984 đã thành lập Hội nghiên cứu Kinh tế học giáo dục
- Thứ tư, trong các công trình nghiên cứu Kinh tế học giáo dục đã sử dụng các
phương pháp lượng hóa, mô hình hóa như “Mô hình tính toán kinh tế của giáo dục”, “so sánh, phân tích số lượng tăng trưởng kinh tế và giáo dục của các quốc gia”
- Thứ năm, nhiều trường đại học trên thế giới đã mở chuyên ngành đào tạo về
kinh tế giáo dục, như Đại học Luân Đôn của Anh, Đại học Colombia của Mỹ
3.2 Sự ra đời kinh tế học giáo dục tại Việt Nam
3.2.1 Lược sử tư duy Kinh tế trong Giáo dục Việt Nam
- ĐH Đảng khóa VII (6-1991), Hiến pháp (1992): khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”
- Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là nền tảng tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao; là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH; là yếu tố cơ bản phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
- Vận dụng những quan điểm của K.Marx và V.Lenin vào hoàn cảnh thực tiễn nước ta, Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ: “mục tiêu của chế độ mới là làm cho đồng bào ta
ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Để đạt mục tiêu này, Người nêu ra nhiệm vụ: “một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao dân trí “ vì “mọi người Việt Nam phải cổ nhận thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà” để “giữ vững nền độc lập” để làm cho dân mạnh, nước giàu (HCM Về vấn đề GD, NXB GD HN 1977, tr.85)
Khi bước vào thời kỳ quá độ tiến lên CNXH, Bác chỉ rõ: không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì tới kinh tế, văn hoá Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu, tuy không có gì đột xuất, nhưng rất vẻ vang” (HCM Về vấn đề GD, NXB GD HN 1977, tr.85) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ vai trò của giáo dục đối với xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh Theo Chủ tịch, tri thức tạo nên sức mạnh của một quốc gia:
“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Vì vậy, phải diệt giặc tiết cùng với giặc đói và giặc ngoại xâm Giáo dục góp phần tạo nên đài vinh quang cho dân tộc Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường 1945, Hồ Chủ tịch đã viết:
“Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” Nhấn mạnh vai trò của
Trang 1515
giáo dục - đào tạo đối với việc mang lại lợi ích lâu dài cho xã hội và cá nhân, Bác
đã dạy: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”
- Cố Thủ tướng Phạm văn Đồng nói: “Giáo dục phổ thông là cơ sở, là nơi đào tạo chung cho mọi người công dân nước VNDCCH, những người lao động XHCN, những người xây dựng CNXH rồi đây xây dựng CNCS Sự nghiệp giáo dục phổ thông to lớn có ý nghĩa sâu xa quyết định đến sự nghiệp CM và tương lai của chúng ta
Đây là vấn đề chính trị, vấn danh, vấn đề kinh tế cực kỳ to lớn phải suy nghĩ, cố gắng và sáng tạo nhiều lắm mới làm nên sự nghiệp lớn lao này” (Phạm Văn Đồng - sự nghiệp giáo dục trong chế độ XHCN, NXB ST, HN, tr 156-157)
- Tiếp tục khẳng định vị trí to lớn của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Nghị quyết TW4 khoá VII và Nghị quyết TW2 khoá VIII, Nghị quyết TW6 khoá IX, Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu Đầu tư cho giáo dục là đấu tư chiều sâu, đầu tư cho sự phát triển bền vững của cá nhân và đất nước
- Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “Đổi mới căn bản, toàn
diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa
và hội nhập quốc tế” và “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”
3.2.2 Nghiên cứu kinh tế học giáo dục ở Việt Nam
- 1978: Thành lập Ban kinh tế và kế hoạch hóa giáo dục thuộc Viện Nghiên cứu
ĐH và THCN Trong 2 năm đầu, Ban này tập trung dịch các tài liệu về kinh tế học giáo dục của Liên Xô, CHDC Đức sang tiếng Việt
- 1980: Nghiên cứu đề tài cấp Bộ: Dự báo nhu cầu cán bộ chuyên môn của nền kinh tế quốc dân đến năm 2000 Đề tài được Bộ trưởng Bộ ĐH và THCN Nguyễn Đình Tứ tặng Bằng khen
- Từ năm 1990 trở lại đây thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu về các vấn đề: Chi phí giáo dục, đầu tư cho giáo dục, kế hoạch hóa giáo dục, quy hoạch giáo dục, hiệu quả kinh tế của giáo dục
- Education and Earnings in a Transition Economy – THE CASE OF VIETNAM (01-1998): nghiên cứu về sự chênh lệch trong thu nhập giữa nhóm ngươì có trình
Trang 1616
độ cao và nhóm có trình độ thấp dựa vào cuộc điều tra chất lượng cuộc sống năm
1992 - 1993 của Tổng cục thống kê và vụ kế hoạch
4 Các phương pháp nghiên cứu kinh tế học giáo dục
Các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường luôn luôn có quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc vào nhau Mặc dù giáo dục là một lĩnh vực hoạt động đặc thù nhưng nó là một hệ thống mở Điều đó có nghĩa là giáo dục không chỉ chịu sự tác động của môi trường bên ngoài mà bản thân giáo dục cũng có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến môi trường bên ngoài Cho nên, cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu hoạt động giáo dục dưới giác ngộ kinh tế học là duy vật biện chứng
Vì đối tượng tác động của giáo dục là con người, hiệu quả do tác động đó mang lại là phần tăng thêm về kiến thức và hành vi của con người, do vậy hiệu quả của các biện pháp áp dụng trong giáo dục được nghiên cứu không chỉ thuần túy dựa trên phương diện kinh tế Đặc điểm quan trọng của kinh tế học giáo dục
là sự kết hợp chặt chẽ những phương pháp phân tích kinh tế với những phương pháp nghiên cức giáo dục Muốn đánh giá đúng những kết quả kinh tế của biện pháp này hay biện pháp khác áp dụng trong giáo dục cần đặt chúng vào khung cảnh của những kết quả giáo dục
Phương pháp nghiên cứu cụ thể của bộ môn kinh tế học giáo dục thường
sử dụng phương pháp phân tích định tính và phương pháp phân tích định lượng Phương pháp phân tích định tính là một phương pháp khoa học trừu tượng mà hầu hết các bộ môn khoa học xã hội đều sử dụng Phương pháp phân tích định lượng là một phương pháp phân tích số học Phương pháp này vận dụng các dạng thức số học, các công thức tính toán, các chỉ tiêu số lượng để chỉ ra các quan hệ
số lượng trong lĩnh vực giáo dục Trong quá trình nghiên cứu kinh tế học giáo dục, hai phương pháp này thường được sử dụng kết hợp với nhau Ngoài ra, kinh
tế học giáo dục còn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
1) Phương pháp phân tích kinh tế: tiến hành so sánh phân tích, phân tích cân
bằng và phân tích tổng hợp các hiện tượng kinh tế xã hội
2) Phương pháp nghiên cứu giáo dục: chủ yếu là thông qua con đường điều tra
GD và thực nghiệm GD để miêu tả, dự báo các biến lượng GD và quan hệ giữa chúng với các biến lượng khác
3) Phương pháp thống kê: để định lượng hoá môn học
4) Phương pháp so sánh: bao gồm so sánh trình độ, so sánh nhân tố, so sánh
tiêu chuẩn, so sánh giá trị trung bình…
Trang 1717 Việc áp dụng phương pháp này hay phương pháp khác tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu của vấn đề, mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Trang 1818
CHƯƠNG II QUAN HỆ GIỮA GIÁO DỤC VÀ KINH TẾ
1 Cung và Cầu Giáo dục
1.1 Cung và Cầu
1.1.1 Cầu
Cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng mong muốn
mua và có khả năng mua tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định với giả định các nhân tố khác không đổi
Trong khái niệm trên, hai nhân tố quan trọng nhất cần lưu ý là “mong muốn mua” và “có khả năng mua” Chỉ khi nào người tiêu dùng hội tụ đủ cả hai nhân tố này thì cầu của anh ta về hàng hóa hoặc dịch vụ mới xuất hiện Nói khác, chỉ khi nào người tiêu dùng muốn mua và có đủ tiền mua thì cầu mới xuất hiện Thiếu một trong hai nhân tố này thì sẽ không có cầu
Nhu cầu, trong kinh tế học thường được hiểu là nhu cầu tiêu dùng, đôi khi
gọi tắt là cầu, là sự cần thiết của một cá thể về một hàng hóa hay dịch vụ nào đó Khi nhu cầu của toàn thể các cá thể đối với một mặt hàng trong một nền kinh tế gộp lại, ta có nhu cầu thị trường Khi nhu cầu của toàn thể các cá thể đối với tất
cả các mặt hàng gộp lại, ta có tổng cầu
Lượng cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng mong
muốn mua và có khả năng mua tại mỗi mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định với giả định các nhân tố khác không đổi
Ví dụ: Xét thị trường bánh ngọt với 3 cá nhân A, B, C trong một khoảng thời gian nhất định như sau:
P (đồng/chiếc) Q DA (chiếc) Q DB (chiếc) Q DC (chiếc) Q DM (chiếc)
Trang 1919
Đường cầu có dạng dốc xuống từ trái sang phải, biểu diễn lượng cầu tại
các mức giá khác nhau (hay chính là đường biểu diễn cầu)
Luật cầu: Vì sao tại mức giá 2.000 đồng, người tiêu dùng mua 22 chiếc
bánh ngọt, còn khi giá tăng lên 6.000 đồng họ chỉ mua 10 chiếc bánh? Điều này được lý giải thông qua luật cầu Với giả định các nhân tố khác không thay đổi, số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cầu trong một khoảng thời gian nhất định sẽ tăng lên khi giá giảm và ngược lại, giảm khi giá tăng
Vì sao lượng cầu lại tăng lên khi giá giảm? Như đã biết, cầu được hình thành bởi 2 nhân tố là “mong muốn mua” và “có khả năng mua” Giả định thu nhập của người tiêu dùng không đổi, khi giá tăng lên, khả năng mua của người tiêu dùng bị hạn chế, anh ta sẽ mua được ít hàng hóa hơn nên lượng cầu giảm
Ngược lại, khi giá giảm, với một mức thu nhập như cũ, người tiêu dùng sẽ mua được nhiều hàng hóa hơn Ngoài ra, những người trước đây chưa mua hàng
do giá cao cũng bắt đầu gia nhập thị trường Điều này đã khiến cho lượng cầu tăng lên
Tóm lại, luật cầu chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá và lượng cầu Các nhân tố ảnh hưởng tới cầu:
- Giá cả của hàng hóa có liên quan chia thành 2 loại
+ Hàng hóa thay thế: hai hàng hóa được gọi là thay thế nếu việc tiêu dùng
hàng hóa này có thể được thay thế bằng việc tiêu dùng hàng hóa kia nhưng vẫn
Trang 20+ Hàng hóa bổ sung: hai hàng hóa được gọi là bổ sung nếu việc tiêu dùng
hàng hóa này thì phải đi kèm việc tiêu dùng hàng hóa kia nhằm đảm bảo giá trị sử dụng của hai hàng hóa Xăng và xe máy, gas và bếp gas là những cặp hàng hóa
bổ sung
Khi giá xe máy tăng thì cầu của xe máy sẽ giảm, kéo theo cầu của xăng cũng giảm Kết quả thu được sẽ ngược lại nếu xét trường hợp giá hàng hóa bổ sung giảm Nói tóm lại giữa giá hàng hóa bổ sung và cầu hàng hóa đang nghiên
cứu có mối quan hệ tỷ lệ nghịch
- Thu nhập của người tiêu dùng
Nếu thu nhập tăng làm cầu của người tiêu dùng đối với một hàng hóa nhất định tăng với mọi mức giá, hàng hóa đó gọi là hàng hóa bình thường
Nếu thu nhập tăng làm cầu giảm, hàng hóa hóa đó gọi là hàng hóa thứ cấp
- Thị hiếu của người tiêu dùng
Thị hiếu là sở thích hoặc sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với một hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định; nó không phụ thuộc vào giá cả hay thu nhập của người tiêu dùng
Thị hiếu chịu sự chi phối từ các nhân tố, tuổi tác, giới tính, tập quán tiêu dùng hay tôn giáo Khi thị hiếu thay đổi, cầu đối với hàng hóa hoặc dịch vụ đó cũng thay đổi theo Điều này thực sự quan trọng với các nhà sản xuất, nhà cung cấp vì nếu họ cung cấp đúng hàng hóa thị hiếu của người tiêu dùng, họ sẽ thành
công và ngược lại
- Kỳ vọng
Kỳ vọng là những dự đoán của người tiêu dùng về những thay đổi trong tương lai của các yếu tố giá cả, thu nhập, thị hiếu… làm ảnh hưởng tới cầu hiện tại
Nếu những thay đổi đó có lợi, cầu hiện tại sẽ giảm Ngược lại nếu những
diễn biến đó bất lợi, cầu hiện tại sẽ tăng
- Số lượng người tiêu dùng
Phản ánh quy mô tiêu dùng trên thị trường
Trang 2121
Thị trường có quy mô càng lớn thì cầu càng cao và ngược lại
1.1.2 Cung
Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng bán và
sẵn sàng bán tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định với giả định các nhân tố khác không đổi
Hai thuật ngữ cần lưu ý trong khái niệm trên là “sẵn sàng bán” và “có khả năng bán” Đây là hai nhân tố quyết định đến sự hình thành của cung Nếu thiếu một trong hai nhân tố này, cung sẽ không thể xuất hiện
Lượng cung là số lượng HH hoặc DV mà người bán có khả năng bán và
sẵn sàng bán tại mỗi mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định với giả định các nhân tố khác không đổi
Ví dụ: Xét thị trường bánh ngọt với 3 nguời bán D, E, F trong một khoảng thời gian nhất định như sau:
P (đồng/chiếc) Q SD (chiếc) Q SE (chiếc) Q SF (chiếc) Q SM (chiếc)
mỗi sự thay đổi giá cả
Đường cung có dạng dốc lên từ trái qua phải, biểu thị mối quan hệ giữa
P&Q, biểu diễn lượng cung tại các mức giá khác nhau
Trang 2222
Luật cung: Việc cả 3 người bán D, E, F bán ra 10 chiếc bánh ở mức giá
2.000 đồng và bán 28 chiếc bánh ở mức giá 8.000 đồng được giải thích bằng luật cung Luật cung được phát biểu như sau: “Với giả định các nhân tố khác không thay đổi, số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cung trong một khoảng thời gian nhất định sẽ tăng lên khi giá tăng và ngược lại, giảm khi giá giảm”
Khi giá tăng lên, với số lượng sản phẩm bán ra như cũ, người bán sẽ thu được khoản doanh thu lớn hơn Với giả định chi phí sản xuất không đổi, khi doanh thu tăng, lơi nhuận sẽ tăng Điều này sẽ khuyến khích người bán cung hàng ra thị trường nhiều hơn, cung sẽ tăng Ngược lại, khi giá giảm, doanh thu giảm làm giảm lợi nhuận Người bán sẽ giảm bớt số lượng bán ra hoặc rút lui khỏi thị trường làm cung giảm
Tóm lại, luật cung chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ thuận giưa giá và lượng cung Khi giá tăng, cung sẽ tăng và ngược lại
Các nhân tố ảnh hưởng tới cung:
- Giá các yếu tố sản xuất
Các yếu tố sản xuất trong quá trình sản xuất, cung ứng hàng hóa có thể là nguyên vật liệu, nhân công, nhà xưởng máy móc, đất đai, vốn Sự thay đổi của các yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, qua đó ảnh hưởng tới cung Nếu chi phí cho các yếu tố sản xuất (giá điện, giá xăng dầu, lãi suất vay ngân hàng ) tăng, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bị giảm, qua đó làm giảm động
cơ sản xuất của doanh nghiệp kéo theo cung giảm Tác động ngược lại sẽ xảy ra
khi giá các yếu tố sản xuất giảm
- Các chính sách của chính phủ
Trang 2323
Các chính sách của chính phủ bao giờ cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cung của hãng Những chính sách này có thể làm giảm cung (thuế) hay tăng cung (trợ cấp) Ngoài ra, ở những chính sách khác (qui định tiền lương tối thiểu, quy định
an toàn lao động, qui định vệ sinh môi trường ), tùy tính chất của từng chính
sách có thể dẫn tới tăng cung hoặc giảm cung
- Trình độ công nghệ
Trình độ công nghệ và kỹ thuật sản xuất có ảnh hưởng đến năng suất lao đọng, qua đó ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả của quá trình sản xuất Công nghệ tiên tiến, kỹ thuật sản xuất hiện đại sẽ giúp sản xuất ra nhiều sản phẩm với cùng một lượng yếu tố sản xuất như cũ; ngược lại, cung sẽ giảm Điều này giải thích vì sao các hãng đều quan tâm đến vấn đề đổi mới công nghệ sản xuất và ngân sách chi cho vấn đề này thường chiếm một khoản khá lớn trong chi phí của
doanh nghiệp
- Kỳ vọng
Kỳ vọng là những dự đoán của người bán về những diễn biến của các yếu
tố giá cả, thị hiếu… trong tương lai làm ảnh hưởng tới cung hiện tại Kỳ vọng
thay đổi sẽ làm thay đổi cung hiện tại tương ứng
- Số lượng người bán
Số lượng người bán phản ánh quy mô của thị trường Thị trường có quy
mô càng lớn, càng nhiều nhà cung cấp thì cung càng cao và ngược lại
1.1.3 Nguyên lý cung cầu
Phát biểu rằng:
Thông qua sự điều chỉnh của thị trường, một mức giá cân bằng (mức giá thị trường) và một lượng giao dịch hàng cân bằng (lượng cung cấp = lượng nhu cầu) sẽ được xác định
Trong thị trường tự do, trạng thái cân bằng được xác định thông qua tương tác của cung và cầu, tại đó không xuất hiện sức ép làm thay đổi giá thị trường và với mức giá này, lượng cung đúng bằng lượng cầu Mức giá đó được gọi là giá cân bằng và mức sản lượng chung của cả người mua và người bán được gọi là lượng cân bằng Nói cách khác trạng thái cân bằng này được hình thành hoàn toàn khách quan do quy luật cung cầu chứ không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất kỳ cá nhân nào trên thị trường
Quay lại với thị trường bánh ngọt ở ví dụ trong phần trước, khi ghép biểu cung với biểu cầu, chúng ta có thể tìm được mức giá tại đó, lượng cung bằng lượng cầu như sau:
Trang 24Trong thị trường bánh ngọt ở trên tại mức giá 4.000 đồng, người mua đồng
ý mua tại mức 16 chiếc, người bán cũng đồng ý bán tại mức 16 chiếc, vậy giá cân bằng sẽ là 14.000 đồng/chiếc, lượng cân bằng là 16 chiếc bánh Trường hợp tổng quát, điểm cân bằng thị trường có thể tìm được bằng cách tìm giao điểm của đường cung và đường cầu
2.2 Cung và cầu giáo dục
2.2.1 Cầu giáo dục
Nhu cầu giáo dục chỉ nhu cầu của cá nhân hay của xã hội có khả năng chi
trả cho giáo dục trong từng giai đoạn cụ thể
Nhu cầu giáo dục có thể được chia ra thành nhu cầu xã hội về giáo dục và nhu cầu cá nhân về giáo dục
1.2.1.1 Nhu cầu xã hội về giáo dục là nhu cầu có khả năng chi trả cho
giáo dục được phát sinh từ nhu cầu cần có nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn để phát triển kinh tế - xã hội cho một quốc gia trong một giai đoạn nhất
Trang 2525
định trong tương lai Nếu đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục này sẽ góp phần rất lớn cho sự ổn định, phồn vinh và tiến bộ của toàn xã hội
Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “Đổi mới căn bản,
toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” và “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”
Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu xã hội về giáo dục (3)
- Tình hình dân số: Do đối tượng của giáo dục là con người, chủ yếu là
trẻ em và thanh thiếu niên, nên tình hình cơ cấu dân số của một đất nước, bao gồm tốc độ tăng dân số và cơ cấu độ tuổi, sẽ quyết định xu hướng và quy mô nhu cầu xã hội về giáo dục
- Trình độ phát triển kinh tế và khoa học công nghệ: Yếu tố này tác
động đến nhu cầu xã hội về giáo dục dưới hai phương diện Một là, yếu tố này
tạo ra các tầng bậc khác nhau, các trình độ giáo dục khác nhau Kinh tế và khoa học công nghệ càng phát triển thì phân công ngành nghề và chuyên môn hóa càng sâu, đòi hỏi nhiều chủng loại nhân lực với trình độ chuyên môn khác nhau
Hai là, yếu tố này tạo ra tính liên tục của nhu cầu xã hội về giáo dục, tức là do
kinh tế và khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng nên ngành nghề cũng thay đổi theo Những ngành nghề đã được đào tạo nhanh chóng bị lạc hậu, cần học ngành nghề mới Do vậy, nhu cầu xã hội về giáo dục luôn luôn phát sinh, đòi hỏi cần được đáp ứng
- Chủ trương, chính sách của nhà nước: Chủ trương, chính sách của
Nhà nước về giáo dục như thế nào sẽ tác động trực tiếp đến quy mô nhu cầu xã hội về giáo dục
Ví dụ
- Nếu Nhà nước chủ trương phổ cập giáo dục 9 năm thì nhu cầu xã hội về giáo dục sẽ tăng lên so với khi chỉ tiến hành phổ cập giáo dục 5 năm
1.2.1.2 Nhu cầu cá nhân về giáo dục là nhu cầu có khả năng chi trả cho
giáo dục của một cá nhân được lựa chọn xuất phát từ những dự định về tri thức,
kỹ năng, thu nhập và địa vị xã hội trong tương lai
Động cơ của nhu cầu cá nhân về giáo dục bao gồm:
- Nhu cầu về cuộc sống tinh thần: Cùng với sự tiến bộ của xã hội, mức
thu nhập cao và thời gian rảnh rỗi của con người cũng nhiều hơn, việc đáp ứng được những nhu cầu về lòng ham hiểu biết, phong phú đời sống tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc sống ngày càng bức thiết
Trang 2626
- Nhu cầu về đời sống vật chất: Đây là động cơ chủ yếu về nhu cầu giáo
dục của đại đa số người dân Người ta muốn tiếp thu giáo dục, và mục tiêu kinh
tế là họ muốn có thu nhập cao và những lợi ích trong tương lai
- Nhu cầu về địa vị xã hội: Có được một địa vị cao trong xã hội là động
lực khá quan trọng để con người học hành Mỗi một người thuộc một giai cấp đều hy vọng nâng cao địa vị xã hội của mình, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, địa vị xã hội không phải là truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà là một sự giáo dục tốt sẽ là điều kiện tốt để nâng cao địa vị xã hội
Nhu cầu cá nhân về giáo dục chịu tác động của rất nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là các nhân tố sau ($)
- Khả năng bẩm sinh của mỗi người Đây là yếu tố quan trọng nhất ảnh
hưởng đến nhu cầu cá nhân về giáo dục Người có năng lực bẩm sinh cao thì có khả năng tiếp nhận trình độ giáo dục cao, do đó nhu cầu giáo dục của họ khá lớn
- Hoàn cảnh kinh tế - xã hội của gia đình Vì đi học phải đóng tiền, nên
những gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn thì chắc chắn tác động đến việc cho con em họ đi học Tại rất nhiều nước đang phát triển, nhiều trẻ đủ tuổi di học muốn tới trường mà không được và cũng không ít em phải bỏ học giữa chừng Một trong những nguyên nhân quan trọng của hiện tượng trên là gia đình học sinh không thể chi trả được học phí trong thời gian con họ đi học
- Mức học phí Học phí là giá cả giáo dục mà học sinh phải chi trả Nếu
học phí quá cao thì sẽ tác động đến khả năng chi trả của học sinh và do đó sẽ tạo
ra sức ép lên nhu cầu cá nhân về giáo dục (Nguyên lý cung – cầu)
Ví dụ
Do quy định học phí theo nhóm ngành nên nhiều trường đại học có mức thu phí khác nhau Năm học 2013 - 2014, Trường ĐH Mỏ - Địa chất quy định mức thu học phí đối với sinh viên ĐH, CĐ chính quy vừa theo niên chế vừa theo tín chỉ, cụ thể: đối với sinh viên học chương trình đào tạo theo niên chế, học kỳ 1, sinh viên hệ đại học chính quy, liên thông cao đẳng lên đại học chính quy, mức thu: 530.000 đồng/tháng/sinh viên, hệ Cao đẳng mức thu: 424.000 đồng/tháng/sinh viên Học kỳ II có tăng lên chút, cụ thể, sinh viên hệ cao đẳng, mức thu: 448.000 đồng/tháng/sinh viên Sinh viên hệ đại học chính quy, liên thông cao đẳng lên đại học chính quy, mức thu: 560.000 đồng/tháng/sinh viên Đối với sinh viên học chương trình đào tạo theo tín chỉ, sinh viên hệ đại học chính quy, liên thông cao đẳng lên đại học chính quy, mức thu, học kỳ I: 165.000 đồng/tín chỉ/sinh viên; Học kỳ II: 175.000 đồng/tín chỉ/sinh viên
Trang 2727
ĐH Nông nghiệp Hà Nội quy định mức học phí, ngành học và mã môn học Thú y, học Tín chỉ từ khóa K57 trở về trước là 190.000đ/tín chỉ; từ khoa K58 là 228.000đ/tín chỉ; Chương trình chất lượng cao là 410.000đ/tín chỉ Học niên ché là 685.000đ/tháng Ngành Sinh học, Thực phẩm, Chăn nuôi, học theo tín chỉ khóa K57 trở về trước là 161.000đ/tín chỉ, từ khóa K58 là 188.000đ/tín chỉ; Chương trình chất lượng cao là 338.000đ/tín chỉ; Học theo niên chế 565.000đ/tháng
Trường ĐH Ngoại thương quy định mức học phí năm học 2013 - 2014 đối với hệ đào tạo chính quy học theo niên chế mức thu hệ CĐ là 3,9 triệu đồng/năm; hệ Hoàn thiện kiến thức là 6,4 triệu đồng/năm Đối với hệ chính quy đàotạo theo hình thức tín chỉ, hệ cử nhân chính quy 130.000/tín chỉ; Hệ CĐ là 110.000 đồng/tín chỉ; Hệ hoàn thiện kiến thức là 180.000 đồng/tín chỉ…
Còn tại tỉnh Hải Dương, UBND tỉnh quy định về mức thu học phí tại các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, trung cấp chuyên nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm học 2013 - 2014 Theo đó, đối với trường Đại học Hải Dương, nhóm ngành: Khoa học xã hội, kinh tế, luật; nông, lâm, thuỷ sản, mức thu là 460.000đ/học sinh/tháng (hệ đại học), 370.000đ/học sinh/tháng (hệ Cao đẳng chuyên nghiệp); 320.000đ/học sinh/tháng (hệ trung cấp chuyên nghiệp) Nhóm ngành: Khoa học tự nhiên; kỹ thuật, công nghệ; thể dục thể thao, nghệ thuật; khách sạn, du lịch mức thu là 515.000đ/học sinh/tháng (hệ đại học) 400.000đ/học sinh/tháng (hệ Cao đẳng chuyên nghiệp); 345.000đ/học sinh/tháng (hệ Trung cấp chuyên nghiệp)
(Nguồn: 777268.htm)
http://tuyensinh.dantri.com.vn/tuyen-sinh/hoc-phi-dai-hoc-nganh-nao-gia-do Lợi ích trong tương lai của giáo dục đối với cá nhân (hay tỷ lệ đầu tư có hiệu quả của giáo dục) Chúng ta bỏ qua các cơ hội đầu tư khác để đầu tư vào
giáo dục cuối cùng cũng là để thu được nguồn lợi kinh tế dự tình hoặc các nguồn lợi khác Nếu lợi nhuận trong đầu tư giáo dục cao hơn, nhu cầu giáo dục của mọi người sẽ lớn hơn; nếu lợi nhuận trong giáo dục thấp hơn, hứng thú trong giáo dục của mọi người sẽ giảm; nếu mức lợi này là không, thậm chí phải chịu lỗ thì rất nhiều người sẽ bỏ cơ hội đi học, chọn lựa một ngành khác để đầu
tư
Lưu ý: Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu giáo dục cá nhân hoàn toàn
không gây tác dụng như nhau; đối với những quốc gia, khu vực khác nhau, với những người thuộc tầng lớp xã hội khác nhau thì các nhân tố gây tác dụng và mức độ nặng nhẹ của tác dụng mà các nhân tố gây ra là khác nhau
Trang 2828
1.2.2 Cung giáo dục
Cung giáo dục là những cơ hội mà cơ quan giáo dục các cấp của một
nước hoặc một khu vực có khả năng cung cấp cho người tiếp nhận giáo dục trong một thời gian nào đó
Cung giáo dục chịu ảnh hưởng của những nhân tố sau đây(4):
- Đội ngũ giáo viên
Giáo dục trong trường học được thực hiện thông qua giáo viên, giáo viên
là nguồn nhân lực quan trọng nhất trong nguồn đầu tư giáo dục Cung giáo viên bao gồm hai mặt là chất và lượng, tình trạng của hai mặt chất và lượng của cung giáo viên đều ảnh hưởng đến cung giáo dục cụ thể số lượng giáo viên ít, chất lượng giáo viên thấp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, và mức độ thấp kém của chất lượng giáo dục sẽ làm giảm nhu cầu xã hội về giáo dục
- Bố trí nguồn đầu tư cho giáo dục
Nguồn đầu tư giáo dục là cơ sở vật chất để cung cấp và phát triển giáo dục Chỉ có đầu tư đầy đủ cho giáo dục thì mới có thể cung cấp đầy đủ trường học, giáo viên và thiết bị cho người học, mới có thể không ngừng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nhằm làm mới kiến thức, đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng nhân tài Nhưng nguồn đầu tư luôn có hạn, mà mục tiêu phát triển thì lại rất nhiều, do vậy cần phải cân đối nguồn đầu tư có hạn giữa các ngành, nhằm tối ưu hóa lợi ích xã hội
- Giá thành đơn vị giáo dục
Giá thành đơn vị giáo dục chỉ giá thành bình quân tức là toàn bộ chi phí
để đào tạo và bồi dưỡng một loại học sinh nào đó thuộc cấp học nào đó Khi tổng lượng đầu tư cho giáo dục là một con số nhất định, giá thành đơn vị giáo dục cao, thì cơ hội giáo dục mà xã hội có thể cung cấp sẽ giảm do vậy giá thành đơn vị giáo dục cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến cung giáo dục
- Thái độ và nhận thức của xã hội về giáo dục
Trang 2929
Trong xã hội hiện đại, chi phí giáo dục là một khoản đầu tư có tính sản xuất, tác dụng của nó còn lớn hơn là đầu tư vật chất, nó không những góp phần trực tiếp vào sự tăng trưởng kinh tế thông qua nâng cao hiệu quả sản xuất của người lao động, nó còn có tác dụng ổn định xã hội, bảo đảm an ninh xã hội Nhận thức đúng hay sai về vai trò của giáo dục sẽ quyết định sự đúng đắn trong
sự lựa chọn đầu tư và ảnh hưởng vô cùng to lớn trong cung giáo dục Nếu một quốc gia nào nhận thức đúng đắn về vấn đề này sẽ làm tăng cơ hội giáo dục mà
xã hội đang cần
1.2.3 Điều tiết quan hệ cung cầu giáo dục
Giữa cung và cầu giáo dục luôn tồn tại mâu thuẫn Trong thực tế, nhu cầu của con người là vô hạn, nhu cầu của xã hội cũng là vô hạn Tuy nhiên điều kiện vật chất để đáp ứng các nhu cầu đó là hữu hạn, điều kiện vật chất này có thể là của xã hội, nhưng cũng có thể là của cá nhân Do vậy, ở đây xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu và điều kiện đáp ứng nhu cầu
Do mục tiêu theo đuổi và điểm xuất phát của nhu cầu giáo dục cá nhân và
xã hội không giống nhau trên các phương diện số lượng, chất lượng, loại hình, trình độ, ngành nghề và thời gian đáp ứng Mâu thuẫn này thường xuyên tồn tại đặc biệt ở các nước đang phát triển
Sự mất cân đối giữa cung và cầu giáo dục luôn luôn là vấn đề thách thức đối với mọi quốc gia, nhưng trạng thái mất cân đối hợp lý cũng chính là động lực của phát triển, tuy nhiên nếu sự mất cân đối này vượt quá giới hạn cho phép
sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế và giáo dục Do vậy, phải điều tiết mâu thuẫn giữa cung và cầu giáo dục Trên thực tế, Chính phủ các nước luôn tìm cách điều tiết sự mất cân đối giữa cung và cầu giáo dục bằng các hình thức sau:
- Điều tiết bằng thị trường, trong nền kinh tế hàng hóa, sản xuất và dịch vụ được bàn tay vô hình của thị trường điều tiết thông qua quy luật giá cả Đối với lĩnh vực giáo dục, học phí được xem là giá cả của giáo dục nó được hình thành từ cung cầu giáo dục, và nó sẽ quay trở lại điều tiết cung cầu giáo dục Học phí và cung cầu giáo dục có mối quan hệ tỷ lệ nghịch, học phí tăng, nhu cầu giáo dục giảm, cung giáo dục lại tăng và ngược lại, học phí giảm, nhu cầu giáo dục tăng, cung giáo dục lại giảm
- Điều tiết bằng Nhà nước Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước luôn đóng vai trò điều tiết và sẽ can thiệp để cân bằng các mâu thuẫn phát sinh trong quá trình phát triển của xã hội Nhà nước điều tiết các mâu thuẫn xã hội bằng các
Trang 302 Mối quan hệ giữa giáo dục và kinh tế
2.1 Vai trò của kinh tế đối với sự phát triển giáo dục
Bản thân ngành giáo dục không tự trực tiếp sản xuất ra sản phẩm vật chất Ngành giáo dục hoạt động dựa vào quỹ tiêu dùng trong tổng sản phẩm quốc gia Nói cách khác, quy mô phát triển giáo dục phụ thuộc vào tiềm lực của nền kinh
tế Và vai trò của kinh tế đối với sự phát triển giáo dục được biểu hiện ở những
phương diện sau đây:(4)
- Kinh tế là điều kiện cơ sở vật chất để phát triển giáo dục
Kinh tế là cơ sở vật chất của sự phát triển giáo dục, điều này nghĩa là kinh
tế không những cung cấp điều kiện vật chất kỹ thuật cho phát triển giáo dục mà còn cung cấp nhu cầu khách quan cho giáo dục Điều này được biểu hiện:
+ Dù ở thời đại nào, quốc gia nào khi tiến hành nền giáo dục như thế nào cũng cần phải có một điều kiện kinh tế nhất định, có nhân lực, vật lực và tài lực nhất định Trình độ phát triển vốn đồng hành cùng trình độ phát triển giáo dục
+ Trình độ phát triển kinh tế cũng làm xuất hiện nhu cầu khách quan với giáo dục Nhu cầu này vừa mang tính xã hội lại vừa mang tính cá nhân Nhu cầu
xã hội về giáo dục một mặt được nâng cao nhờ tăng cường thực lực kinh tế, một mặt phát triển theo đà tăng trưởng của sức sản xuất, những công nhân chuyên ngành và lao động thành thục đều dựa vào sự bảo đảm thực lực kinh tế và phát triển sức sản xuất; mà trong xã hội, nhu cầu về các mặt văn hóa, khoa học, giáo dục của mỗi cá nhân đều không ngừng được nâng cao và tăng cường theo sự tăng trưởng của thực lực kinh tế
- Kinh tế quyết định quyền lực, mục tiêu bồi dưỡng, nội dung và phương pháp giáo dục
Trong xã hội cổ đại, do sức phát triển chậm, lực lượng kinh tế còn yếu kém, những người trực tiếp sản xuất và tham gia hoạt động kinh tế không cần phải trải qua bồi dưỡng và huấn luyện giáo dục, nhà trường không chịu trách
Trang 31để có thể hiểu được máy móc và sử dụng máy móc một cách chính xác tức là họ phải có được những tri thức cơ sở khoa học và kỹ thuật sản xuất nhất định, và có được năng lực quản lý khoa học và sản xuất kinh doanh
Và chính nhu cầu khách quan trên làm mục tiêu giáo dục trường học thay đổi về chất, giáo dục cũng sẽ không có trách nhiệm chủ yếu là bồi dưỡng nhân tài chính trị nữa mà giáo dục phải bồi dưỡng người lao động, công nhân kỹ thuật, kiến trúc sư, nhà khoa học và nhân viên quản lý khoa học
Trong xã hội cổ đại nền kinh tế chưa phát triển, phương pháp giáo dục cũng vô cùng thấp kém Ngày nay cùng với sự phát triển của sức sản xuất, sự tăng cường về lực lượng kinh tế, nội dung giáo dục cũng có những thay đổi Cho đến nay, nội dung giáo dục đã tăng cường thêm nhiều nội dung về khoa học tự nhiên phương pháp giáo dục cũng dần được hiện đại hóa, đã sử dụng những thiết
bị như tivi, điện ảnh, máy tính điện tử Chúng ta thấy rõ ràng rằng việc dùng công nghệ trong sản xuất đã ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp giáo dục Chỉ có chuẩn bị tốt phương pháp công nghệ sản xuất hiện đại thì mới có được phương pháp giáo dục công nghệ hiện đại
- Kinh tế quyết định quy mô, tốc độ phát triển giáo dục
Trình độ phát triển của kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và tốc
độ phát triển của giáo dục Vì vậy tốc độ và trình độ phát triển của thực lực kinh
tế quyết định đến số lượng và chất lượng của việc bồi dưỡng người lao động Có bốn lý do như sau:
+ Trình độ phát triển kinh tế và số dân được giáo dục trong xã hội có quan
hệ phụ thuộc lẫn nhau Mức phát triển kinh tế sẽ quyết định số lượng những người dân nhận được sự giáo dục Vì thế khi trình độ phát triển kinh tế, hay sức sản xuất bị giảm sút, xã hội không thể có nhiều lao động cung cấp cho những vị trí công tác trong ngành giáo dục hay tiếp nhận giáo dục, quy mô giáo dục sẽ thu nhỏ lại, tốc độ phát triển cũng chậm đi
+ Trình độ phát triển kinh tế, trình độ giáo dục và số năm hạn chế trong ngành giáo dục có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Cụ thể một xã hội kém phát
Trang 3232
triển hay sức sản xuất kém đương nhiên không thể có thực lực kinh tế hùng hậu
để kéo dài số năm giáo dục hay nâng cao trình độ giáo dục ở cấp trung học chuyên nghiệp, đại học cao đẳng hay các học viện chuyên ngành
+ Mức phát triển kinh tế và số tiền đầu tư cho giáo dục có mối quan hệ phụ thuộc với nhau Những quốc gia phát triển có sức sản xuất cao, thực lực kinh tế mạnh thường đầu tư nhiều tiền cho giáo dục và giáo dục chiếm tỷ trọng khá cao trong chỉ tiêu kinh tế của họ Và rõ ràng rằng chi phí đầu tư trực tiếp quyế định đến quy mô và tốc độ phát triển của giáo dục
+ Trình độ phát triển kinh tế và quy mô, tốc độ của việc thiết lập các môn trong ngành giáo dục có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Ví dụ, ngành nào đang chiếm ưu thế, ngành nào có khả năng đào thải mạnh, ngành nào có tiềm năng, ngành nào có quy mô lớn, tốc độ phát triển nhanh…tất cả những nhân tố này đều
có quan hệ phụ thuộc chặt chẽ với thực lực kinh tế của mỗi quốc gia Khi kinh tế chưa phát triển, sức sản xuất còn kém đã vội vã mở rộng quy mô giáo dục, tùy tiện mở thêm những ngành đào tạo sẽ đi ngược với quy luật phát triển, tất sẽ không thu được những kết quả cao
- Kinh tế quyết định hệ thống, cấu trúc của giáo dục
Hệ thống giáo dục cổ đạiđã xuất hiện các trường sơ đẳng, trung đẳng và cao đẳng Chỉ riêng sơ đẳng đã có các trường giáo hội, hành hội, thương nghiệp, thành thị; trung đẳng có văn pháp; cao đẳng cũng đã xuất hiện đại học Nhưng do điều kiện kinh tế lúc đó chưa phát triển mạnh, sức sản xuất kém nên mặc dù giáo dục đã phân trường tư, trường công, thời gian đào tạo dài ngắn đều có xong về cơ bản hệ thống giáo dục chưa có mối liên hệ gắn kết, tất cả đều riêng rẽ, các trường chủ yếu vẫn đào tạo theo cơ chế “cả ngày”, giữa các cấp học thiếu mối tương quan và kết cấu hoàn chỉnh
Tới thời kỳ văn hóa phục hưng và cho tới khi cuộc cách mạng công nghiệp
nổ ra, xã hội bước vào thời kỳ sản xuất công nghiệp với hai đặc trưng cơ bản: áp dụng máy móc và sản xuất vận dụng triệt để các nguyên lý khoa học Chính vì thế sức sản xuất trong xã hội có bước phát triển lớn về chất, kinh tế tăng trưởng mạnh chưa từng thấy Và rõ ràng, giáo dục cũng thay đổi về hệ thống lẫn kết cấu Giáo dục gia đình chuyển hướng sang giáo dục xã hội Giáo dục từ chỗ chỉ dành cho thiểu số thống trị đã được phổ cập hóa hướng tới toàn xã hội Đồng thời, khi kinh tế và sức sản xuất phát triển, phạm vi giáo dục không còn bó hẹp ở mức chính quy mà trên cơ sở của cơ chế và hệ thống cũ giáo dục không ngừng được hoàn thiện, mở rộng thêm, bằng chứng là việc hình thành cấp giáo dục theo chiều ngang, dọc với nhiều loại hình đào tạo chuyên ngành, kỹ thuật, nghiệp vụ…
Trang 3333
2.2 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế
Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế được biểu hiện ở những khía cạnh sau:
- Giáo dục là phương pháp và nội dung quan trọng nhất tái sản xuất sức lao động và sức sản xuất Tái sản xuất sức lao động bao gồm hai nội dung và hai quá trình đó là quá trình phát triển tự nhiên của con người, nhiệm vụ chủ yếu của quá trình này là hình thành thể lực cho con người và được gọi là quá trình sống Thứ hai là quá trình giáo dục và huấn luyện nhằm hình thành năng lực lao động trí óc
và lao động chân tay cho con người, tức là nhằm tái sản xuất sức lao động cho con người
- Giáo dục là con đường chủ đạo vừa rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong xã hội vừa nâng cao hiệu suất lao động Thời gian lao động tất yếu trong xã hội chịu ảnh hưởng bởi hai nhân tố: thứ nhất là điều kiện sản xuất bình thường cũng tức là nhân tố khách quan Thứ hai là mức độ lành nghề của những người tham gia sản xuất của cải vật chất, chính là điều kiện chủ quan Giáo dục nhằm huấn luyện, bồi dưỡng, nâng cao trình độ khoa học, kỹ xảo cho người lao động và
là phương pháp chính để đẩy nhanh tốc độ lao động Và do đó giáo dục góp phần rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong xã hội
- Giáo dục là con đường chủ đạo sản xuất ra khoa học, tái sản xuất ra khoa học, chuyển khoa học thành kỹ thuật sản xuất trực tiếp, bởi vì giáo dục có chức năng kinh tế xã hội là truyền đạt thông tin, tích lũy, phát triển và tái sản xuất khoa học công nghệ, ngoài ra nó còn là khâu trung gian??? biến khoa học thành kỹ thuật sản xuất Theo đà phát triển của thời đại, của tiến bộ khoa học, vai trò quan trọng của giáo dục ngành càng được bộc lộ rõ nét
- Giáo dục là điều kiện quan trọng để nâng cao trình độ quản lý kinh tế Trong bối cảnh kinh tế và sản xuất được hiện đại hóa như hiện nay, quản lý kinh
tế có khả năng thúc đẩy sản xuất và kinh tế xã hội tăng trưởng Vai trò của giáo dục đối với quản lý kinh tế được thể hiện ở ba phương diện sau:
+ Giáo dục có thể bồi dưỡng một đội ngũ quản lý đông đảo Cán bộ quản
lý kinh tế được đề bạt trong số nhân viên kỹ thuật lao động sản xuất trực tiếp hoặc được lấy từ trường đào tạo, cũng có thể dựa vào nhà trường để bồi dưỡng và đây là phương pháp chính để đào tạo cán bộ quản lý kinh tế
+ Giáo dục có thể nâng cao trình độ quản lý kinh tế Có hai phương pháp
để nâng cao trình độ cán bộ, một là dựa vào thực tiễn, hai là dựa vào huấn luyện Trong điều kiện sản xuất hiện đại như hiện nay, bồi dưỡng cán bộ chủ yếu dựa vào giáo dục
Trang 3434
+ Giáo dục có khả năng nâng cao trình độ quyết định chính sách và trình
độ quản lý cho cán bộ, tham gia vào quá trình khoa học hóa quyết sách
3 Giáo dục với sự tăng trưởng kinh tế
3.1 Các khái niệm
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định
Tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia được hiểu là sự tăng trưởng GDP
(còn thước đo khác như GNP, tăng về tuyệt đối và tương đối, GDP/người ) Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hay chậm do tác động của nhiều yếu tố mà trước hết và trực tiếp nhất là các yếu tố sản xuất hay các nguồn lực của sản xuất
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản
sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính)
Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính
bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng
Giáo dục không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực của sự phát triển kinh
tế Trong thời đại ngày nay nguồn gốc của sự giàu có không chỉ là tài nguyên
Trang 3535
thiên nhiên, vốn, kỹ thuật mà yếu tố ngày càng quan trọng và quyết định là nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người Nhờ có giáo dục mà mỗi con người có năng lực trí tuệ, hiểu biết kỹ năng nghề nghiệp, tạo nên tư bản trí tuệ và được sử dụng trong suốt cuộc đời lập nghiệp của mỗi cá nhân Nói rộng ra, quốc gia nào có khối lượng tri thức hàm chứa trong lực lượng lao động của mình nhiều hơn, cao hơn thì quốc gia đó có cơ hội lớn hơn trong việc dẫn đầu phát triển kinh tế
Ngày nay, tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào
sự thay đổi một cách thường xuyên từ trình độ công nghệ thấp lên trình độ công nghệ cao Sự thay đổi này lại được quyết định bởi lực lượng lao động có trình
độ cao và lành nghề
Tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào năng suất lao động Ngoài yếu tố công nghệ, năng suất lao động phụ thuộc rất nhiều vào trình độ học vấn của người lao động Người ta đã xác định được rằng sản phẩm của một người lao động làm ra trong cùng một thời gian sau khi kết thúc một khoá đào tạo bao giờ cũng nhiều hơn so với trước khi chưa qua khoá đào tạo
Để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa giáo dục và đào tạo với tăng trưởng kinh tế, dựa trên cơ sở số liệu năm 2003 về chỉ số phát triển giáo dục và chỉ số phát triển kinh tế do PGS.TS Đặng Quốc Bảo cùng nhóm nghiên cứu về chỉ số phát triển con người tính toán, đã xây dựng hàm tương quan giữa hai chỉ số này
ở Việt Nam như sau: (Với hệ số tương quan R= 0,71)
Y= 0,597X – 0,04
Trong đó:
Y là chỉ số phát triển kinh tế
X là chỉ số phát triển GD-đào tạo
Hàm tương quan trên cho thấy rằng mối quan hệ giữa chỉ số phát triển giáo dục với chỉ số phát triển kinh tế là mối quan hệ thuận và chặt Nếu tăng chỉ
số GD lên 0,01 thì chỉ số phát triển kinh tế tăng lên 0,00597
Chúng ta thường nghĩ chất lượng dân số được hình thành do hai nguồn: tài năng vốn có và những năng lực tìm kiếm được Giáo dục là một nguồn nà từ
đó năng lực kiếm được Tài năng vốn có giữa người dân Trung Quốc và người dân Mỹ khác nhau không đáng kể Vốn tư bản con người trong một người dân của Trung Quốc bé hơn ở Mỹ
Chúng ta biết rằng, sự gia tăng thu nhập quốc dân lớn hơn sự gia tăng về đất đai, các tư bản vật chất tái chế, và giờ lao động Chúng ta cũng biết rằng,
Trang 3636
đầu tư vào tư bản con người là một lý do giúp giải thích sự gia tăng thu nhập quốc dân, điều này mà trước đây chưa giải thích được
Thuộc tính dễ nhận thấy rằng giáo dục là tư bản con người thể hiện qua
các đặc tính năng lực liệt kê dưới đây:
- Vốn tư bản con người của một cá nhân không thể mua bán được, cũng không thể chuyển nhượng cho ai khác Vốn đó theo từng cá nhân đi bất cứ đâu Nếu 1
cá nhân nào đó di tản ra nước ngoài thì Chính phủ không thể tịch thu vốn tư bản con người của cá nhân đó
- Khoảng thời gian tồn tại giá trị tư bản con người của một cá nhân không thể vượt quá quãng đời của cá nhân đó
- Khi tìm kiếm tư bản con người, ai cũng phải đầu tư thời gian cùng với các nguồn lực khác của mình
- Hiệu quả nhất là đầu tư vào tư bản con người vào thời kỳ còn trẻ
Trang 3737
CHƯƠNG 3 MARKETING GIÁO DỤC
1 Giới thiệu về marketing
1.1 Các khái niệm cơ bản về marketing
Cho đến nay nhiều người vẫn đồng nhất marketing với quảng cáo, nhưng thực
tế quảng cáo chỉ là một khâu trong hoạt động marketing Nếu sản phẩm của doanh nghiệp không đáp ứng được đòi hỏi của khách hàng thi dù có nỗ lực thuyết phục đến mấy thì việc họ mua chúng cũng rất hạn chế Ngược lại, nếu sản phẩm thực sự phù hợp với nhu cầu, mong muốn của khách hàng thì tự bản thân nó sẽ tạo được sự hấp dẫn, thu hút đối với khách hàng và việc bán hàng sẽ thuận lợi, thậm chí khách hàng có thể tự tìm mua sản phẩm của doanh nghiệp
mà chưa cần quảng cáo
Có nhiều quan điểm khác nhau về marketing, tuy nhiên theo cách tiếp cận của
marketing hiện đại, khái niệm marketing được hiểu như sau: “Marketing là quá
trình làm việc với thị trường để thực hiện những cuộc trao đổi nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người Cũng có thể hiểu, Marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.”1
Nói cách khác, marketing là quá trình mà tổ chức xác định được khách hàng, phát hiện ra những nhu cầu của họ để từ đó đưa ra những sản phẩm nhằm thỏa mãn tối đa những nhu cầu ấy thông qua trao đổi
Như vậy, vấn đề quan trọng đối với hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động marketing nói riêng là phải nắm rõ được những khái niệm cốt lõi của marketing, ý nghĩa của từng khái niệm đó và biết cách ứng dụng trong mỗi tình
huống cụ thể Những khái niệm cơ bản đó là: Nhu cầu, mong muốn, nhu cầu có
khả năng thanh toán (cầu thị trường); giá trị, chi phí và sự thỏa mãn; trao đổi; thị trường
1.1.1 Nhu cầu, mong muốn, nhu cầu có khả năng thanh toán (cầu thị trường)
• Nhu cầu tự nhiên
1 Trần Minh Đạo, 2009, Giáo trình marketing căn bản (tái bản lần 2), NXB Đại học Kinh tế quốc dân, trang 10
Trang 38Nhu cầu tự nhiên phản ánh sự đòi hỏi về một chủng loại sản phẩm, mong muốn phản ánh sự đòi hỏi về một dạng cụ thể trong một chủng loại sản phẩm nào đó Nói cách khác, nhiều người có thể có cùng một nhu cầu nhưng lại có nhưng mong muốn khác nhau để thỏa mãn nhu cầu đó Ví dụ, “ăn” là một nhu cầu tự nhiên của con người khi cảm thấy đói nhưng có người mong muốn ăn cơm, có người muốn ăn phở, cháo, bún…
• Nhu cầu có khả năng thanh toán
Nhu cầu có khả năng thanh toán là nhu cầu tự nhiên và mong muốn phù hợp với khả năng mua sắm
Nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người là vô hạn, nhà kinh doanh không chỉ cần phát hiện và tạo ra những sản phẩm để thích ứng với chúng như
là những thứ cho không má cần phải thông qua trao đổi để vừa thỏa mãn lợi ích cho người tiêu dùng, vừa mang lại lợi ích cho nhà kinh doanh, do vậy nhà kinh doanh cần đặc biệt chú ý đến khả năng chi trả của người tiêu dùng cho những sản phẩm đáp ứng được mong muốn của họ
1.1.2 Sản phẩm, giá trị tiêu dùng, chi phí và sự thỏa mãn
Trang 3939
Chi phí đối với một sản phẩm là tất cả những phí tổn mà người tiêu dùng phải
bỏ ra để có được những lợi ích tiêu dùng do sản phẩm đó mang lại Chi phí có
thể là tiền bạc, sức lực, thời gian, cơ hội…
• Sự thỏa mãn
Sự thỏa mãn là mức độ trạng thái của người tiêu dùng từ việc so sánh kết quả thu được do tiêu dùng sản phẩm với những kỳ vọng của họ Nếu lợi ích họ cảm
nhận được khi tiêu dùng sản phẩm càng gần hoặc vượt qua so với kỳ vọng của
họ thì sự thỏa mãn đạt được càng cao, và ngược lại
Khi đạt được sự thỏa thuận trong trao đổi thì người ta nó rằng một giao dịch đã
hoàn thành Giao dịch là đơn vị đo lường của trao đổi Giao dịch là một cuộc
trao đổi mang tính chất thương mại những vật có giá trị giữa hai bên
Một giao dịch chỉ diễn ra khi thỏa mãn các điều kiện: ít nhất có hai vật có giá trị; những điều kiện thực hiện giao dịch đã thỏa thuận xong; hệ thống pháp luật
và các chuẩn mực đạo đức là cơ sở ràng buộc cho các giao dịch được thực hiện
1.1.4 Thị trường
Dưới góc độ marketing, thị trường bao gồm tất cả những khách hàng
tiềm ẩn có cùng một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó
Như vậy, thuật ngữ thị trường thường được dùng để ám chỉ một nhóm khách hàng có cùng một nhu cầu và mong muốn nhất định, đồng thời sẵn sàng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó, bao gồm cả những người mua hàng hiện có
và sẽ có, điều này sẽ quyết định quy mô của thị trường Do vậy, quy mô của thị trường không phụ thuộc vào số người đã mua hàng hoặc số người có nhu cầu và mong muốn khác nhau
1.1.5 Vai trò của Marketing trong các hoạt động của tổ chức kinh doanh
Trang 4040
Marketing có vai trò quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường – nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh
1.2 Quản trị marketing
1.2.1 Khái niệm quản trị marketing
Theo Philip Kotler, “Quản trị marketing là việc phân tích, lập kế hoạch,
thực hiện và kiểm tra việc thi hành các biện pháp nhằm thiết lập, củng cố, duy trì và phát triển những cuộc trao đổi có lợi với những người mua đã được lựa chọn để đạt được những mục tiêu đã định của doanh nghiệp”
Như vậy, quản trị marketing có liên quan trực tiếp đến việc:
- Phát hiện và tìm hiểu cặn kẽ nhu cầu và ước muốn của khách hàng;
- Gợi mở nhu cầu của khách hàng;
- Phát hiện và giải thích nguyên nhân của những thay đồi tăng hoặc giảm mức
cầu;
- Phát hiện những cơ hội và thách thức từ môi trường marketing;
- Chủ động để ra các chiến lược và biện pháp marketing để tác động lên mức
độ thời gian và tính chất của nhu cầu sao cho doanh nghiệp có thể đạt được
các mục tiêu đã đặt ra từ trước
1.2.2 Các quan điểm quản trị marketing (5)
Sự phát triển của marketing và quản trị marketing là một quá trình diễn ra theo năm giai đoạn tương ứng với năm quan điểm khác nhau
• Quan điểm hướng vào sản xuất
Quan điểm định hướng vào sản xuất cho rằng người tiêu dùng chỉ quan tâm và
ưa thích các sản phẩm thông thường, phổ biến, giá cả thấp Vì vậy, những nhà quản trị doanh nghiệp cần phải tập trung mọi nguồn lực của mình vào việc nâng cao khả năng sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm, hạ giá thành (lợi thế nhờ quy mô)
và mở rộng hệ thống phân phối
Quan điểm này thích hợp trong điều kiện: cầu lớn hơn cung, có khả năng hạ giá thành sản phẩm, sản phẩm mang tính đồng nhất cao, sản xuất đại trà, thị trường không phân đoạn
• Quan điểm hướng vào sản phẩm