Nghiên cứu dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong bối cảnh toàn cầu hóa
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương I: Cơ sở lý luận về di cư và dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong bối cảnh toàn cầu hoá của Việt Nam 9
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI CƯ LAO ĐỘNG 9
1.1.1 Quan niệm về di cư 9
1.1.2 Loại hình di cư 11
1.1.3 Các mô hình về di cư 12
1.2 DÒNG DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ 16
1.2.1 Dòng di cư từ nông thôn ra thành thị 16
1.2.2 Bối cảnh toàn cầu hoá `và tác động của toàn cầu hóa đến dòng di cư nông thôn ra thành thị 25
1.2.3 Dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong bối cảnh toàn cầu hoá .28 1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ 30
1.3.1 Phát triển doanh nghiệp địa phương để thu hút việc làm và giảm sức ép đô thị 31
1.3.2 Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư ở các thành phố lớn 32
1.3.3 Phát triển nguồn nhân lực 32
Chương II: Tình hình di cư từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá 34
2.1 QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HOÁ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC NHÂN TỐ THÚC ĐẨY DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ 34
2.1.1 Quá trình Toàn cầu hoá tại Việt Nam qua các kênh chủ yếu 34
2.1.2 Toàn cầu hoá tác động tới các nhân tố thúc dòng di cư từ nông thôn ra thành thị tại Việt Nam 41
2.2 TÌNH HÌNH DI CƯ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ DUỚI TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU 60
2.2.1 Thực trạng dòng di cư 60
2.2.2 Những tác động của dòng di cư nông thôn ra thành thị tới các mặt đời sống kinh tế xã hội nói chung 70
2.3 CÁC CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRƯỚC THỰC TẾ DÒNG DI CƯ 78
2.3.1 Thời kì hạn chế dòng di cư 78
2.3.2 Thời kì nới lỏng việc di cư nông thôn ra thành thị 79
2.3.3 Thời kì chấp nhận dòng di cư và tạo điều kiện hỗ trợ cho người nhập cư .81
Chương III: Các kiến nghị chính sách với dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong bối cảnh toàn cầu hoá ở Việt Nam 87
Trang 23.1 XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN DÒNG DI CƯ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ 87 3.2 CÁC QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH VỚI VẤN ĐỀ DI CƯ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ 90
3.2.1 Coi di cư là tất yếu của quá trình phát triển 903.2.2 Cần có các chính sách để hỗ trợ cho cuộc sống của người di cư ở thành thị 923.2.3 Có chính sách phát triển nông thôn bền vững để hạn chế các dòng di cư 93
3.3 CÁC KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VỚI VẤN ĐỀ DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ 94
3.3.1 Nâng cao nhận thức về di dân thông qua đối thoại chính sách và chia sẻ thông tin 943.3.2 Lồng ghép di dân vào các chương trình phát triển và xóa đói giảm nghèo 953.3.3 Thực hiện điều tiết di cư qua các chính sách kinh tế - xã hội, áp dụng bàihọc “Ly nông bất ly hương” của Trung Quốc 963.3.4 Chú trọng hướng nghiệp và kỹ năng nghề nghiệp cho lao động di cư.1003.3.5 Hoàn thiện hệ thống thông tin - dịch vụ giới thiệu việc làm 1013.3.6 Tạo điều kiện ổn định cho người di cư và nâng cao khả năng tiếp cận các dich vụ xã hội cơ bản 1033.3.7 Tiến tới loại bỏ hệ thống đăng ký hộ khẩu và đơn giản hóa thủ tục 106
KẾT LUẬN 107
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TCTK Tổng cục Thống Kê
UNFA Quỹ dân số Liên hiệp quốc
TCH Toàn cầu hóa
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
CMTND Chứng minh thư nhân dân
NĐ-CP Nghị định – Chính PHủ
TT Thông tư
BCA Bộ Công An
ILO Tổ chức lao động quốc tế
CIEM Viện nghiên cứu Quản lý Kinh Tế Trung ươngWTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 4DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ
Bảng 2.1 Chỉ số toàn cầu hóa của Việt Nam năm 2007 so với các quốc gia khác
Hình 2.1 Mức độ mở cửa của nền kinh tế Việt Nam kể từ sau Đổi Mới
Hình 2.2 Lao động xuất khẩu qua các năm của Việt Nam, 1996-2006
Bảng 2.2 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số thành phố lớn năm 2007
Bảng 2.3 Phần trăm lao động di cư làm việc trong các khu vực kinh tế
Bảng 2.4 Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn ở các thành phần kinh tế
Bảng 2.5 Tỉ lệ lao động nhập cư phân theo lĩnh vực kinh tế tại thành phố Hồ
Chí MinhBảng 2.6 Diện tích đất thu hồi bình quân mỗi hộ theo loại đất
Hình 2.3 Nguyên nhân chính di cư nông thôn – thành thị
Hình 2.4 Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp từ năm 1986-2007
Hình 2.5 Tổng đầu tư xã hội cho toàn nền kinh tế và cho các ngành chính
Hình 2.6 Chi tiêu công cho nông nghiệp so với tổng GDP nông nghiệp ở một số
nướcBảng 2.7 Năng suất lao động xã hội phân theo một số ngành kinh tế
Bảng 2.8 Thu nhập bình quân chung của đô thị so với nông thôn các vùng địa lý
theo nhómBảng 2.9 Phân bố phần trăm người di cư theo nơi sinh và nơi cư trú hiện tại
Trang 5Bảng 2.10 Các dòng di cư từ nơi sinh đến nơi cư trú hiện tại và từ nơi cư trú
trước đây đến nơi cư trú hiện tại, chia theo khu vực nông thôn - đô thịHình 2.7 Xác suất di chuyển theo tuổi và loại hình di cư
Bảng 2.11 Tỉ suất xuất cư, nhập cư, di cư thuần giữa các vùng 2004, 2005, 2006
Hình 2.8 Phần trăm người di cư từ nông thôn phân theo độ tuổi
Bảng 2.12 Số năm đi học trung bình tại những thời điểm khác nhau trong cuộc
đời người di cư chia theo giới tínhHình 2.9 Phân bố nghề nghiệp người di cư qua các giai đoạn của chu trình sống
Bảng 2.13 Thu nhập bình quân tháng của người di cư chia theo các đặc trưng cơ bản
Hình 2.10 Lượng tiền gửi về nhà 12 tháng trước phân theo giới tính
Hình 2.11 Các cách sử dụng chính đối với tiền do lao động nhập cư gửi về
Hình 2.12 Đánh giá mức độ hài lòng của người di cư theo các tiêu chí khác nhau
Hình 2.13 Phần trăm chọn phương án điều trị trong lần ốm đau gần nhất chia
theo tình trạng di cư
MỞ ĐẦU
Trang 6Di cư là yếu tố tất yếu, là động lực tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xãhội, góp phần phân bổ lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao động, giải quyếtviệc làm, xoá đói giảm nghèo, là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội bền vững Kinh tế phát triển, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, chuyểnđổi cơ cấu nền kinh tế diễn ra nhanh chóng cùng với chính sách mở cửa, hội nhậpdẫn đến việc di cư nội địa và ra nước ngoài tăng lên Tuy nhiên, dòng di cư nóichung, trong đó có lao động di cư cũng là nhóm người dễ bị tổn thương và bị lạmdụng và cũng chịu ảnh hưởng của các sự kiện trong đời sống kinh tế xã hội Vớibối cảnh toàn cầu hoá, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn với thế giới, việctiếp cận thị trường thế giới tác động tới các ngành công nghiệp mới và tạo việclàm cho hàng triệu người, già và trẻ bước vào thị trường lao động mỗi năm Vớiđiều kiện khan hiếm diện tích đất ở nông thôn, đặc biệt là đất nông nghiệp và sựtăng trưởng dân số cao so với khu vực thành thị, vấn đề dư thừa lao động ngàycàng nổi cộm lên ở nông thôn và trở nên nghiêm trọng hơn trong suốt 20 năm qua.Thất nghiệp và bán thất nghiệp đã và đang trở thành vấn đề lớn vì khả năng tạo raviệc làm cho lao động ở nông thôn là rất yếu
Tất cả các nhân tố này cùng với khoảng cách về thu nhập giữa thành thị vànông thôn đã sinh ra các dòng di cư từ nông thôn ra thành thị Cùng với quá trìnhcông nghiệp hoá và đô thị hoá vẫn đang tiếp diễn ở Việt Nam, khu vực thành thị sẽtiếp tục được mở rộng và vùng nông thôn ngày càng bị thu hẹp lại Áp lực đối vớikhu vực nông thôn sẽ gia tăng và vì vậy, không thể tránh khỏi thực tế về các dòng
di cư lao động lớn từ nông thôn ra thành thị trong thời gian tới
Trang 7Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy giáo TH.S Vũ Cương và cáccán bộ thuộc Viện Kinh tế Việt Nam đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản chuyên đề thựctập này và với hạn chế của đề tài nghiên cứu chuyên đề thực tập, mong thầy giáohướng dẫn sẽ giúp đỡ tôi sửa và hoàn thành tốt đề tài này.
Câu hỏi nghiên cứu:
1 Tình hình và đặc điểm của dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong bốicảnh Việt Nam hội nhập sâu với thế giới
2 Ảnh hưởng của dòng di cư này đến đời sống kinh tế - xã hội và một số kiếnnghị để giải quyết vấn đề tồn tại trong đó
Phương pháp nghiên cứu:
- Cách thức giải quyết vấn đề: Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích vàđánh giá số liệu có được, phương pháp so sánh
Trong đó sử dụng chủ yếu số liệu của các cuộc điều tra Di dân năm 2004 và
2006 như: Điều tra di cư năm 2004, Di cư và liên hệ đời sống 2006, Chất lượngcuộc sống người di cư 2006 Mục tiêu của cuộc Điều tra là miêu tả và phân tíchđầy đủ tình hình di cư ở Việt Nam, cuộc Điều tra di cư năm 2004 với cỡ mẫu đủlớn là một nghiên cứu cấp quốc gia đầu tiên ở Việt Nam, thu thập thông tin về lịch
sử di chuyển và đặc điểm kinh tế xã hội khác diễn ra trong chu trình sống của đốitượng điều tra Năm 2005, Tổng cục Thống kê đã hoàn thành phân tích cơ bản dữliệu điều tra và công bố ấn phẩm tên là Điều tra Di cư Việt Nam năm 2004 và cácchuyên khảo có tiêu đề: Di cư trong nước và mối liện hệ với các sự kiện cuộcsống, Chất lượng cuộc sống người di cư là bước tiếp theo nhằm cung cấp thông tinsâu hơn về mối quan hệ di cư với các sự kiện khác trong cuộc sống người di cưvới sự hỗ trợ kĩ thuật của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và các cán bộViện Xã hội học thực hiện cho ra đời năm 2006
- Phạm vi xử lý đề tài: số liệu có được từ năm 1996-2008, đối tượng nghiên
cứu: dòng dân di cư có độ tuổi từ 19-59
- Kết quả dự kiến: cho thấy tình hình dòng di cư trong hiện tại và xu hướng
dòng di cư nông thôn ra thành thị trong tương lai với bối cảnh toàn cầu hoá ngày
Trang 8càng sâu rộng hơn và một số giải pháp đưa ra để giải quyết ảnh hưởng khôngmong muốn từ dòng di cư.
Bố cục của đề tài nghiên cứu
Chương I: Cơ sở lý luận về di cư và dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong
bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam
Chương II: Tình hình di cư từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam trong bối
cảnh toàn cầu hóa
Chương III: Các kiến nghị chính sách với dòng di cư từ nông thôn ra thành thị
trong bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam
Trang 9Chương I: Cơ sở lý luận về di cư và dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong bối cảnh toàn cầu hoá của Việt Nam
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI CƯ LAO ĐỘNG
1.1.1 Quan niệm về di cư
1.1.1.1 Khái niệm về di cư
Di cư là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc là quá trình conngười rời bỏ hoặc hội nhập vào một đơn vị hành chính - địa lý nhất định
Nói chung khái niệm di dân thường được các nhà nghiên cứu định nghĩa khônggiống nhau Theo tác giả Lee (1966) thì di cư là: “sự thay đổi cố định nơi cư trú”.Còn theo Mangalam và Morgan (1968) cho rằng di cư là “sự di chuyển vĩnh viễntương đối của người di cư ra khỏi tập đoàn đang sống từ một đơn vị địa lý khác” Mặt khác, theo tác giả Paul Shaw thì “di cư là hiện tượng di chuyển khỏi tậpthể từ một địa điểm địa lý này đến một địa điểm địa lý khác, trên cơ sở quyết địnhcủa người di cư, dựa vào một loạt các giá trị trong hệ thống các mối quan hệ qualại của người di cư”
Những định nghĩa nêu trên chỉ đề cập tới “không gian di trú” và hầu như chưanói lên được thời gian quá trình di cư, theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc; “didân hay di cư là sự dịch chuyển từ khu vực này sang khu vực khác, thường là quamột địa giới hành chính (hoặc là sự dịch chuyển theo một khoảng cách xác địnhnào đó) thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi
cư trú” Trong đó, di dân nội địa liên quan đến sự chuyển dịch nơi cư trú bên trongbiên giới của quốc gia
Đối với Việt Nam, “di cư được định nghĩa là sự di chuyển của con người từ nơinày đến nơi khác đó là chuyển đến một huyện khác, thành phố khác, một tỉnh kháchay một nước khác trong một khoảng thời gian nhất định” Trong phạm vi nghiêncứu này khái niệm về di cư được hiểu theo cách hiểu của Haughton Người di cưđược hiểu trong luận văn này là người di cư từ nông thôn ra thành thị với độ tuổi
từ 15 đến 59 tuổi trong vòng 5 năm và đã cư trú tại nơi đến từ 1 tháng trở lên
Trang 101.1.1.1 Các khái niệm liên quan đến di cư
a Người di dân
Là người đã thay đổi nơi thường trú của mình từ một khu vực này đến một khuvực khác, ít nhất là một lần trong khoảng thời gian nhất định Di dân có thể liênquan đến một hay nhiều cá nhân di chuyển, một gia đình hay thậm chí là cả mộtcộng đồng
b Di dân gộp
Là con số tổng cộng bao gồm cả những người đến và đi cùng một vùng, nó đolường toàn bộ số lượng dân số (cả số người đi và đến trong một cồng đồng dâncư)
c Di cư ròng
Đối với một vùng cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định đều luôn diễn racác quá trình tiếp nhận thêm một số lượng dân cư này và đồng thời lại mất đi một
số lượng dân cư khác do họ di chuyển đi tới vùng khác Sự chênh lệch giữa quy
mô dân cư chuyển đến và quy mô dân cư chuyển đi được gọi là di dân hay di dânròng
d Sự nhập cư và sự xuất cư
Đây là khái nịêm được sử dụng trong các quá trình di cư bên trong, hay nội bộcủa một quốc gia, một vùng:
- Sự nhập cư hay di dân vào là: quá trình di cư từ nơi nào khác đến nơi dự địnhsinh sống Đây là sự chuyển đến
- Sự xuất cư hay di dân ra là: quá trình di cư từ nơi đang sống sang vùng khác.Đây là sự chuyển đi
e Nơi xuất cư và nơi đến:
Nơi xuất cư là: nơi mà từ đó người di cư chuyển đi Ngược lại, nơi đến là nơi
mà người di cư từ nơi nào khác chuyển đến sống
f Sự di cư chênh lệch
Trong quá trình di cư luôn có hiện tượng chênh lệch giữa các nhóm di cư khácnhau về các yếu tố nhân khẩu, hoàn cảnh xã hội, kinh tế, văn hoá…Vì vậy, đối với
Trang 11những luồng di cư khác nhau sẽ có những sự khác nhau trong cơ cấu thành phầncủa dân cư về nhiều mặt Điều này cần được quan tâm đúng mức để có thể giảiquyết vấn đề di cư một cách hợp lý.
1.1.2 Loại hình di cư
Di cư diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau gồm: di cư trong nước và di cưquốc tế Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích luồng di cư nôngthôn ra thành thị hay di cư trong nước Do vậy, di cư được chia thành các loại hìnhtheo căn cứ sau:
a Theo pháp lý
Bao gồm: di cư có tổ chức hay di cư tự do hợp pháp và di cư không hợp pháp
- Di cư có tổ chức: diễn ra trong khuôn khổ chương trình của nhà nước, trongtrường hợp này những người di cư thường nhận một khoản trợ cấp hỗ trợ vàthường di chuyển nơi ở thường trú của gia đình
- Di cư tự do hợp pháp: là việc chuyển đến nơi sinh sống mới do bản thânngười di cư tự quyết định bao gồm cả việc lựa chọn địa bàn nhập cư, tổ chức dichuyển, cũng như trang trải mọi phí tổn và tìm việc làm…
- Di cư bất hợp pháp: là việc chuyển đến nơi ở mới giống như di cư tự do hợppháp, tuy nhiên người di cư lờ đi các quy định và cố gắng tránh liên lạc với cáccấp chính quyền
b Theo nơi đi và nơi đến
Dựa theo nơi đi và nơi đến có 4 loại hình: nông thôn – nông thôn, nông thôn –thành thị, thành thị - thành thị và thành thị - nông thôn
c Theo thời gian
Theo thời gian, di cư có thể chia thành: di cư lâu dài, di cư tạm thời và di cưtheo mùa vụ
- Di cư lâu dài: Là nhóm những người di cư đến một khoảng thời gian tươngđối dài và có ý định ở lại nơi đến
- Di cư tạm thời: những người tới một địa bàn trong một thời gian nhất định(để học tập, làm việc) trước khi có quyết định liệu có sống ở đó hay không
Trang 12- Di cư theo mùa vụ: Là trường hợp đặc biệt của di dân tạm thời Thuật ngữ
“mùa vụ” không nhất thiết mang nghĩa mùa vụ thu hoạch, mặc dù nó có thê là nhưvậy đối với người di dân Thuật ngữ này còn hàm ý những hoạt động mùa khácnhư mùa xây dựng hoặc mùa du lịch bao gồm cả loại hình đi làm ăn xa ở nôngthôn Có thể nói, di cư theo mùa vụ là những người ra thành phố trong những lúcnông nhàn để tìm kiếm việc làm, không có ý định cư trú lâu dài và sẽ quay về khi
có nhu cầu lao động và công việc gia đình ở quê hương
1.1.3 Các mô hình về di cư
Di cư là một hiện tượng phổ biến trong xã hội loài người Lý do tại sao conngười di cư thì rất khác nhau giữa người này với người khác trong cùng một cộngđồng, giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa vùng này với vùng khác…Chính sựphức tạp của quá trình di cư hay nguyên nhân của di cư mà không có sự thốngnhất giữa các nhà nghiên cứu về nguyên nhân của di cư
1.1.3.1 Mô hình của Lewis
Giả thích giản đơn nhất cho sự di cư từ nông thôn ra thành thị là người ta di cưđến thành thị khi lương của thành thị cao hơn ở nông thôn Lewis đã đưa ra lýthuyết này trong giải thích của ông về sự chuyển lao động từ nông nghiệp sangcông nghiệp ở một nước vừa mới công nghiệp hóa
Mô hình của Lewis là học thuyết chung cho quá trình phát triển của các nước
dư thừa lao động Trong mô hình này, Lewis đã mô tả sự vận động của 2 khu vựckinh tế được chia thành: (1) Khu vực kinh tế nông thôn truyền thống với số laođộng dưa thừa được đặc trưng bởi năng suất lao động cận biên rất thấp (gần nhưbằng 0) – do đó có thể rút lao động ra khỏi khu vực nông thôn truyền thống màsản lượng nông nghiệp không giảm và (2) là khu vực thành thị công nghiệp hiệnđại – khu vực này có năng suất lao động cao hơn, lao động khu vực này do laođộng khu vực nông thôn chuyển sang Trọng tâm của mô hình này là thể hiện quátrình chuyển giao lao động lẫn sự gia tăng sản lượng đầu ra - tỉ lệ thuận với tíchluỹ tư bản và gia tăng mức độ sử dụng lao động ở khu vực thành thị Sự gia tănglao động và mức độ chuyển giao lao động đều do sự gia tăng sản lượng đầu ra của
Trang 13khu vực (2) mang lại Trong khi đó, tốc độ của việc mở rộng đầu ra này được xácđịnh bởi nhịp độ đầu tư công nghiệp và tích luỹ vốn trong chính khu vực này.Khối lượng đầu tư này có được nhờ sự vượt trội của lợi nhuận trong khu vực kinh
tế thành thị hiện đại so với phần chi trả lương với giả thiết rằng toàn bộ lợi nhuậnđược đem đầu tư phục vụ mở rộng sản xuất Hơn nữa, mức lương ở thành thị vớigiả thiết là không đổi cho đến khi lao động ở nông thôn hết dư thừa (năng suất laođộng cận biên khu vực nông nghiệp không bằng không nữa, tuyến cung lao độnghoàn toàn không co giãn) và cao hơn ít nhất là 30% so với mức lương cố địnhtrung bình được ấn định trước đủ để duy trì cuộc sống ở khu vực truyền thống.Lúc này, đường cung lao động ở nông thôn cho khu vực thành thị được coi là hoàntoàn co giãn
Trong khu vực kinh tế truyền thống có 2 giả thiết cần lưu ý Một là, có laođộng dư thừa; và thứ hai, mức lương thực tế của nông thôn được xác định bằngnăng suất trung bình (chứ không phải bằng năng suất cận biên của lao động, nhưtrong khu vực kinh tế hiện đại) Còn trong khu vực kinh tế hiện đại, thị trường laođộng có tính chất cạnh tranh hoàn hảo
Do nguồn cung lao động ở nông thôn được coi là không có giới hạn nên khuvực kinh tế hiện đại có thể thuê bao nhiêu lao động ở nông thôn cũng được màkhông sợ phải nâng cao thêm mức lương Các chủ doanh nghiệp trong khu vựckinh tế hiện đại, do muốn tối đa hoá lợi nhuận, có thể thuê bao nhiêu lao động tớimức lương mà sản lượng đầu ra cận biên của họ tương đương với mức lương chitrả thực tế Do đó, quá trình tìm kiếm lợi nhuận, tích luỹ và tái đầu tư của khu vựccông nghiệp tiếp tục diễn ra và kết quả làm cho nền kinh tế ngày càng tăng trưởngnhanh
Quá trình hoạt động trên diễn ra liên tục cho đến khi tất cả lao động dư thừa ởnông thôn được thu hút vào ngành công nghiệp mới Đến lúc này, những lao động
bổ sung chỉ có thể rút ra khỏi khu vực nông nghiệp với chi phí cao hơn, năng suấtlao động cận biên của lao động nông thôn không bằng không nữa Như vậy, đườngcung lao động lúc này có độ dốc dương khi mức tiền lương và số việc làm của khu
Trang 14vực hiện đại tiếp tục tăng trưởng Quá trình chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế sẽdiễn ra với sự cân bằng các hoạt động kinh tế, chuyển từ kinh tế nông nghiệp sangnền kinh tế hiện đại.
Mô hình hai khu vực của Lewis đơn giản, hầu như phù hợp với các nướcphương Tây và với những giả định không gắn với thực tế phát triển kinh tế củahầu hết các nước đang phát triển hiện nay
Mô hình của Lewis có những hạn chế nhất định: Một là, mô hình này giả địnhrằng tỷ lệ lao động thu hút từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp tương ứngvới tỉ lệ vốn tích luỹ của khu vực này Có nghĩa là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế củakhu vực công nghiệp hiện đại càng cao thì dẫn đến tỷ lệ công ăn việc làm mớicàng nhiều Điều này chỉ đúng với công nghệ không thay đổi, song thực tế kĩ thuậtcông nghệ không ngừng thay đổi và việc trang bị kĩ thuật tiết kiệm lao động sẽlàm cho tỉ lệ tăng trưởng trong khu vực này tăng nhưng số lao động được sử dụnglại giảm, tỷ lệ công ăn việc làm giảm Hơn nữa, trong nền kinh tế mới, không có gìđảm bảo rằng nhà tư bản chỉ thu được lợi nhuận khi tái đầu tư trong nước; họ cóthể tìm nơi đầu tư có lợi nhất như đầu tư ra nước ngoài nơi có giá đầu tư rẻ hơn.Thứ hai, mô hình giả thiết khu vực nông thôn có dư thừa lao động còn khu vựcthành thị thì không trong khi đó thất nghiệp vẫn xảy ra ở thành thị trên thực tế.Thêm vào đó, khu vực nông thôn có thể giải quyết tình trạng dư thừa lao động màkhông cần lên thành phố Thứ ba, Lewis cho rằng khu vực công nghiệp khôngphải tăng lương cho số lao động từ nông thôn khi ở đây còn dư thừa lao động.Trên thực tế, ở các nước đang phát triển tiền công trong công nghiệp vẫn có thểtăng kể cả khi nông thôn có dư thừa lao động vì khu vực này đòi hỏi lao động cótay nghề cao hơn với mức tiền công cao hơn Thêm vào đó, một số nước hoạtđộng của tổ chức công đoàn rất mạnh, họ có thể tạo ra những áp lực đáng kể đòihỏi phải tăng lương cho người lao động
Có thể nói, mô hình hai khu vực của Lewis không chỉ giải thích nguyên nhân
có di cư lao động từ nông thôn ra thành thị mà còn là công trình đầu tiên về tiếntrình phát triển chỉ ra xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là phát triển công
Trang 15nghiệp trước, nông nghiệp sau và giải thích sự bất bình đẳng trong phân phối thunhập ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa
1.1.3.2 Mô hình của Harris – Torado
Mô hình John R.Harris và Micheal Torado hay còn gọi là mô hình Harris –Torado nghiên cứu hiện tượng di cư nông thôn – thành thị tăng tốc trong bối cảnhthất nghiệp ở thành thị vẫn tiếp tục gia tăng Cá nhân người di cư vẫn có thể di cưmặc dù có tình trạng thất nghiệp ở thành thị Trên giả thiết mô hình Torado chorằng việc di cư diễn ra là do có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn về thunhập dự kiến chứ không phải về thu nhập thực tế Người di cư có thể xem xét các
cơ hội khác nhau để lựa chọn nhằm tối đa hóa lợi ích dự kiến của họ Lợi ích nàyđược tính toán bằng hiệu số giữa thu nhập thực tế ở thành thị và nông thôn, có tínhđến khả năng (xác suất) kiếm được việc làm ở khu vực thành thị (Torado – năm1970)
Nếu như hầu hết người di cư là trẻ tuổi (dưới 25 tuổi) nên có thể giả thiếtkhoảng thời gian để quyết định di cư dù lâu hơn vẫn thực tế Người di cư có thểxem xét thu nhập trong suốt cuộc đời họ hay quyết định di cư của họ sẽ dựa trêntính toán tổng thu nhập của một thời kỳ dài hạn hơn Nếu người này thấy rằng lúcđầu anh ta có xác suất để có việc thấp nhưng qua thời gian các quan hệ được mởrộng dần, khả năng tìm được việc làm mới với tiền lương đều đặn sẽ tăng lên, thì
di cư vẫn là hợp lý, thậm chí ngay cả trong trường hợp thu nhập dự kiến ở thànhthị trong thời gian đầu có thể thấp hơn thu nhập ở khu vực nông thôn Khi mà giátrị hiện tại của luồng thu nhập ròng dự kiến ở thành thị, tính trong “kỳ kế hoạch”của người di cư vượt trội hơn giá trị tương ứng của thu nhập dự kiến ở nông thônthì quyết định di cư vẫn là lựa chọn xác đáng
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của ILO chỉ ra rằng sự di cư theo mô hình Toradokhông nối được khoảng cách lương dự kiến giữa thành thị và nông thôn Có thể lýgiải khoảng cách đó bằng cách bổ sung thêm một khu vực nữa vào khu vực nôngthôn và khu vực thành thị chính quy của Harris – Torado Những người di cư cóthể không làm việc ở những khu vực chính quy mà làm những công việc không
Trang 16chính quy như: các nhà buôn nhỏ, cửa hàng nước trà, người bán hàng rong, bántrên hè phố, người quét rác, người sửa chữa, người làm hàng mây tre, và nhữngngười tự hành nghề tạo ra việc làm và thu nhập cho bản thân họ trong hoạt độngvới rất ít vốn, kỹ năng và hàng rào cạnh tranh Những nhà buôn và chủ doanhnghiệp nhỏ này có chi phí bắt đầu và chênh lệch lợi nhuận thấp, thoả thuận ngoài
hệ thống luật pháp chính thức và thuê nhân công ở mức thấp hơn mức lương quyđịnh tối thiểu Cung cấp lao động cho khu vực không chính quy chịu tác động chủyếu của tăng lương và dân số ở nông thôn Điều này giải thích lý do quá trình di
cư vẫn tiếp tục khi vẫn có thất nghiệp thành thị và tỉ lệ thành phần kinh tế tư nhân,mặc dù tỉ lệ thất nghiệp này khá cao Nhiều người di cư vừa bị thất nghiệp lại vừakhông nhận được mức lương ở khu vực chính quy mà làm những công việc trongkhu vực không chính thức, điều đó tạo điều kiện cho họ bước chân vào nền kinh tếthành thị
Mô hình Torado vẫn có những hạn chế, hạn chế rõ nhất trong lý giải nguyênnhân di cư là do sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị là giải phápkhông đầy đủ với vấn đề thất nghiệp Có thể dẫn tới nghịch lý càng mở rộng việclàm ở thành thị, càng tăng cao tiền lương ở thành thị thì càng khuyến khích tốc độ
di cư cao lên, làm thất nghiệp ở thành thị tăng lên và đồng thời dẫn đến giảm sútsản lượng nông nghiệp Mặc dù vẫn còn những hạn chế nhưng mô hình Harris -Torado được ứng dụng nhiều trong thực tế để dự báo vấn đề di cư từ các vùngnông thôn – thành thị cũng như di cư giữa các nước
1.2 DÒNG DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ
1.2.1 Dòng di cư từ nông thôn ra thành thị
1.2.1.1 Khái niệm di cư từ nông thôn ra thành thị
Di cư từ nông thôn ra thành thị là sự di chuyển của con người từ nông thôn rathành thị trong một khoảng thời gian nhất định (xét theo yếu tố nơi đi và nơi đếncủa loại hình di cư)
Trang 17Các nhà kinh tế học cho rằng: di cư từ nông thôn ra thành thị là một quá trình
di chuyển của lao động từ khu vực kém phát triển hơn đến khu vực phát triển hơn.Trong đó:
Nông thôn: là chỉ vùng đất mà người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp.Thành thị:
- Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sựphát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên tỉnh,vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phốtrực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện
- Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nôngnghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạtđộng của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quyhoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là 4000 người
và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km²
1.2.1.2 Những nhân tố quyết định đến di cư từ nông thôn ra thành thị
Di cư vừa là nguyên nhân và là hệ quả của quá trình phát triển Di cư đã vàđang trở thành sự lựa chọn của người dân nhằm cải thiện kế sinh nhai và tạo cơhội làm ăn cho mình Di dân đã trở thành một cấu thành không thể thiếu được củaquá trình phát triển đặc trưng cho mối quan hệ qua lại giữa vùng miền và lãnh thổ
a Các nguyên nhân dẫn đến di cư nông thôn ra thành thị
Di cư nói chung và di cư nông thôn ra thành thị nói riêng là quá trình làm cânbằng các nguồn lực kinh tế để tạo lập một bước tiến mới trong sự phát triển kinh
tế Có nhiều nguyên nhân theo các nhà nghiên cứu dẫn đến di cư từ nông thôn rathành thị, quá trình di cư nông thôn ra thành thị ở Việt Nam có thể chia làm cácnguyên nhân sau đây:
Một là, nguyên nhân về áp lực dân số và việc làm: Những năm gần đây, dân số
Việt Nam tăng trưởng trong sự kiểm soát khá chặt chẽ với tốc độ tăng dân sốkhoảng 1.5% / năm Nhưng những thập kỉ trước đó, Việt Nam có tốc độ tăng
Trang 18trưởng dân số rất cao đặc biệt trong những năm 1970 đến đầu những năm 1990 lànăm mà dân số bùng nổ với tốc độ tăng trưởng 2% / năm Tốc độ tăng trưởng dân
số cao như vậy đặt áp lực rất lớn lên nền kinh tế về việc tạo ra đủ công ăn việc làm
và áp lực này càng tăng lên khi những năm gần đây phần trăm những người đếntuổi lao động tìm việc tăng lên Điều này có nghĩa là số người tham gia vào lựclượng lao động hàng năm có xu huớng ngày càng lớn
Sự bùng nổ dân số làm mất cân bằng các nguồn lực kinh tế Trong vòng mộtthế kỉ, nền kinh tế đặc biệt là kinh tế nông thôn khá ổn định trong sự cân bằng giữanguồn lực con người và đất đai, nhưng sự bùng nổ dân số đã làm cho nguồn lựcđất đai càng trở nên khan hiếm cùng với trình độ công nghệ không được cải thiệnthích đáng để giải quyết sự không cân bằng này và kết quả là một bộ phận sẽ trởthành thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp Sự bùng nổ dân số cùng với mật độ dân sốdầy đặc ở một số vùng đã làm cho tình trạng trên trở nên tồi tệ hơn, cư dân ở cácvùng đó rơi vào tình trạng thiếu đất, họ không thể đủ sống chỉ dựa vào sản xuấtnông nghiệp Những người này vừa là nông dân và cũng không phải là nông dân,
họ tìm mọi phương thức sinh kế để kiếm sống Trong hoàn cảnh này thì vịêc di cư
từ nông thôn ra thành thị là không thể tránh khỏi
Hai là, cuộc cải cách kinh tế hay “Đổi mới” và sự thay đổi về chính sách liên
quan đến người di dân đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tình hình didân Thứ nhất, về sản xuất nông nghiệp đã giải thể sản xuất tập thể và cho ra đời
cơ chế khoán Do đó, người nông dân không còn bị ràng buộc với đất đai củamình Hơn nữa, xu hướng thương mại hoá sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng vàviệc thay thế sức lao động thủ công bằng vốn đầu vào đã có tác động rất đáng kểtrong việc phân bố lại lực lượng lao động nông thôn và hối thúc họ rời quê hương
đi làm ăn xa Thứ hai, trong lĩnh vực sản xuất công nghệ và đầu tư công nghệ mới,
sự hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế chung của toàn cầu đã thu hút đầu tưtrực tiếp nước ngoài; lao động di cư được thu hút đến khu vực đầu tư nước ngoài
và những trung tâm công nghiệp Ở đô thị, các quy định về đăng kí hộ khẩu, hộtịch cho dù còn tồn tại cũng không còn hạn chế nhu cầu về nhu yếu phẩm hay tìm
Trang 19việc làm ngoài thị trường lao động như trước đây Thứ ba, song song với quá trìnhnày, mạng lưới xã hội dựa trên cơ sở cộng đồng ngày càng mở rộng và thúc đẩyviệc di chuyển của người dân (Đặng Nguyên Anh, 1998) Sự phát triển của mạnglưới giao thông vận tải với chất lượng tốt hơn, dễ dàng hơn và mạng lưới viễnthông liên lạc, các phương tiện thông tin đại chúng giữa các vùng khác nhau đã tạođiều kiện thuận lợi cho việc di chuyển về không gian và tăng cường sự giao thoa
và các quan hệ xã hội giữa nông thôn và thành thị
Ba là, Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hoá phát triển nhanh chóng tại
Việt Nam trong những năm gần đây đã tác động đáng kể tới dòng di cư từ nôngthôn ra thành thị Tỉ lệ của ngành công nghiệp và dịch vụ đóng góp trong GDP có
xu hướng tăng và tỉ lệ ngành nông nghiệp có xu hướng giảm Quá trình côngnghiệp hóa chủ yếu diễn ra ở các khu vực thành thị do có lợi thế so sánh nhưngsau đó sự khan hiếm về đất đai và cơ sở hạ tầng đã hình thành nên các khu côngnghiệp gần các thành phố lớn – các khu công nghiệp này thu hút một lượng khổng
lồ vốn đầu tư nước ngoài cũng như một lượng lớn công nhân và công nhân khôngtrực tiếp (làm việc trong các khu vực mà sản xuất có liên quan đến khu côngnghiệp) Sự phát triển của công nghiệp hóa và các thành phố lớn thúc đẩy quátrình đô thị hoá ở Việt Nam, đô thị hóa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế
và quá trình này phát triển rất nhanh trong thời kì công nghiệp hóa Tốc độ tăngdân số ở đô thị lớn hơn so với tốc độ tăng dân số của cả nước và điều này có nghĩarằng quá trình di cư nông thôn ra thành thị đã tạo nên một sự thay đổi không thểphủ nhận trong cấu trúc dân số của Việt Nam
Bước chuyển mình theo hướng kinh tế thị trường đã thay đổi bộ mặt của nềnkinh tế, cải thiện mức sống của người dân nói chung và những người nghèo nóiriêng Nhưng việc giảm nghèo không có nghĩa là giảm khoảng cách chênh lệchgiữa người giàu và người nghèo Sự bất bình đẳng không chỉ là hiện tượng giữangười giàu và người nghèo mà còn thấy được giữa nông thôn và thành thị Sự pháttriển mất cân đối giữa các vùng lãnh thổ trong nền kinh tế thị trường và sự khơirộng khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền cũng như giữa các tỉnh thành
Trang 20trong tăng trưởng kinh tế thời mở cửa chính là sự khác biệt căn bản được xem lànguyên nhân chính đối với di cư nông thôn ra thành thị.
b Quy luật của quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị
Di cư từ nông thôn ra thành thị nói riêng và di cư nói chung là một hiện tượng
tự nhiên của quá trình phát triển kinh tế bởi nó xảy ra để thích nghi những cơ hội
về kinh tế cũng như phi kinh tế Việc phân bố lại dân cư sẽ tiếp diễn cho đến khinhững cơ hội này đồng đều giữa các vùng, miền Trong quá trình này, di cư từnông thôn ra thành thị là phổ biến nhất đặc biệt khi các nước bước vào quá trìnhcông nghiệp hóa - hiện đại hóa đi kèm với nó là quá trình đô thị hóa không thểtránh khỏi, với đại bộ phận dân số sống ở nông thôn và kế sinh nhai của họ là làmnghề nông, khi quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa bắt đầu thì chuyển dịch cơcấu kinh tế cũng diễn ra mạnh mẽ hơn Tỉ trọng lao động trong ngành nông nghiệp
có xu hướng ngày càng giảm trong khi đó tỉ trọng lao động trong các ngành côngnghiệp, dịch vụ, thương mại ngày càng tăng Di cư từ nông thôn ra thành thị gópphần mang lại sự cân bằng về lao động, cân bằng giữa cung và cầu lao động ở cảnông thôn và thành thị Do đó, quá trình di cư là tất yếu trong giai đoạn đầu củaquá trình công nghiệp hoá
Quá trình di cư luôn chịu tác động của yếu tố “nhân tố đẩy” và “nhân tố kéo”hay quá trình di dân xảy ra khi có sự khác biệt về đặc trưng giữa hai vùng: vùng đi
và vùng đến Nhân tố đẩy là những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội,chính trị, văn hóa…ở vùng xuất phát đang gây khó khăn cho người dân ở đó nhưlà: do điều kiện sống khó khăn, ít công ăn việc, thiếu đất đai làm nên người ta phải
di cư rời bỏ quê hương tìm đến một nơi khác để cư trú và làm việc kiếm sống,trong đó khu vực thành thị với nhiều lợi thế là những nhân tố kéo người nông dânrời bỏ nông thôn và đến đó lập nghiệp – đây là “nhân tố đẩy” (Mô hình nhân tốđẩy và kéo – Ernest Ravenstein 1989); thứ hai, do các nhân tố hút ở nơi đến nhưnhững điều kiện, yếu tố thuận lời về tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa…cùng với sự hấp dẫn về việc làm, cơ hội thu nhập cao và mức sống ở nơi đến, đây
là “nhân tố kéo”
Trang 21Quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn tiếp diễn trong khi thất nghiệp ởthành thị là khá cao (có thể làm việc ở các khu vực không chính thức); với sốlượng việc làm được đưa ra ở thành thị thì số người di cư từ nông thôn ra đô thị cóthể lớn hơn bởi vì họ không nhất thiết đòi hỏi phải làm việc trong những khu vựcchính thức mà có thể làm ở những khu vực không chính thức: bán hàng rong, thợthủ công, thợ đánh giầy, người sửa chữa, quét rác, giúp việc trong gia đình với hivọng qua thời gian sẽ tìm được một công việc ở thành thị với mức lương cao hơn
ở khu vực nông thôn – đây là cách mà họ có thể dần bước chân vào nền kinh tếthành thị Trường hợp này cũng phù hợp với những người di dân mùa vụ - nhữngngười không hẳn là thất nghiệp mà tìm cách làm việc trong thành thị với thời gianngắn trong lúc nông nhàn, mùa vụ xây dựng hay du lịch…để có thêm thu nhập
c Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư
Đối với quá trình di cư trên thế giới nói chung đều phải tính toán đến một sốnhân tố có ý nghĩa quan trọng, kể đến như là: khoảng cách di chuyển, cơ hội tìmkiếm việc làm tốt hơn ở nơi đến, khả năng thu nhập, các thông tin cần thiết về nơiđến…Nhìn chung, các nghiên cứu về di cư đều đi đến thống nhất là quyết định di
cư phụ thuộc vào một số nhân tố ảnh hưởng xét về phía cá nhân của người di cưnhư:
* Nạn thất nghiệp cũng như không hài lòng về công việc đóng vai trò là nhân
tố “đẩy” đối với sự di cư Những người mới di cư đến một vùng và sau đó khôngtìm được việc làm ở nơi đó thì họ có thể lại di chuyển tiếp sang vùng khác hoặcnhững người bị thất nghiệp thường trở thành những người di cư
* Những người thất nghiệp, những người đang tìm kiếm việc làm thường dễphản ứng với các vấn đề kinh tế có liên quan như khả năng thu nhập, mức lương,
và nói chung họ thường muốn khả năng kiếm sống tăng cao hơn nữa Điều này tráingược với những người đang thoả mãn với công việc của mình đang có
* Những gia đình đã nhiều lần di cư thường có khuynh hướng di chuyển nhiềuhơn so với các gia đình chỉ di cư một lần hoặc chưa có lần nào di cư trong thờigian gần đây Có thể xem họ là những người di cư mãn tính hay kinh niên
Trang 22Trong những cuộc di cư của các hộ gia đình thì vai trò của người vợ có ý nghĩaquan trọng trong việc quyết định di cư, họ không phải là những người thụ động.
* Tuổi tác và học vấn không giữ vai trò quyết định trong việc ảnh hưởng đếnquyết định di cư của các cặp vợ chồng
Ngoài ra, nhân tố quan trọng hay cũng coi là nguyên nhân quan trọng tác độngtới vịêc ra quyết định của người di cư như: điều kiện việc làm, thu nhập, các điềukiện về kinh tế xã hội, văn hóa giáo dục ở khu vực thành thị luôn tốt hơn so với ởnông thôn Hơn nữa, sự thay đổi nhận thức trong chính sách của chính phủ vớingười di cư từ việc hạn chế, nới lỏng cho đến công nhận và tạo điều kiện hỗ trợnhiều hơn cho cuộc sống người di cư là những nhân tố kéo người di cư ra khỏilàng quê của mình để tìm cuộc sống tốt đẹp hơn Một nhân tố nữa do ông ĐặngNguyên Anh đưa ra đó là: “mạng lưới xã hội” được hình thành từ quá trình di dângọi là: “mạng lưới di dân”, những người di cư lâu năm và đã có cơ ngơi ổn địnhtại thành thị thường mời và “hỗ trợ” người thân ở quê khi họ muốn di cư Nhữngmối quan hệ này thường liên quan đến đến việc người dân mới đến thuê trọ, tạmứng tiền bạc hoặc vay nợ người quen để bắt đầu tìm kiếm việc làm, tự tìm việchoặc được người quen giúp chọn công việc có thu nhập thường xuyên Do vậy,người di cư có đầy đủ thông tin về nơi đến qua họ hàng, điều này sẽ góp phầngiảm những rủi ro do thiếu thông tin và tăng cơ hội thành công của quá trình didân Do đó, “mạng lưới di cư” là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy quá trìnhchuyển cư
1.2.1.3 Tác động kinh - tế xã hội của dòng di cư từ nông thôn ra thành thị và vai trò can thiệp của chính phủ.
a Tác động kinh tế - xã hội của dòng di cư từ nông thôn ra thành thị:
* Tác động tích cực của dòng di cư nông thôn – thành thị tới đời sống kinh tế
-xã hội:
Càng ngày, việc dịch chuyển dân cư và sự điều chỉnh lực lượng lao động đónggóp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Việt Nam Dân di cưđóng góp vào sự phát triển kinh tế thông qua:
Trang 23Một là, dòng lao động di cư đã bổ sung lực lượng lao động đáng kể trong cáclĩnh vực kinh tế ở thành thị, giúp các nhà tuyển dụng tiếp cận nguồn lao động mộtcách có hiệu quả, nhưng giá thấp bởi vì sự cung cấp lao động cần phải duy trì mứclương cạnh tranh cho các nhà tuyển dụng.
Hai là, những người di cư chấp nhận những công việc khác nhau kể cả nhữngcông việc mang tính chất tạm thời (như: gom phế liệu, nguyên liệu tái chế, bốcvác, giúp việc gia đình…) ở những mức lương thấp mà người thành thị không làmnếu không được bảm đảm các phúc lợi xã hội như bảo hiểm y tế và xã hội tốnkém Do vậy, di cư đã tạo ra một thị trường năng động mà trước đây chưa có
Ba là, sự di cư trong nước hay từ nông thôn ra thành thị giúp giảm nghèo đói
cụ thể là: tăng khả năng kiếm tiền đáng kể so với thu nhập của người không di cưtại nông thôn; có ảnh hưởng tích cực với kinh tế địa phương tại những nơi đến vìcác khoản chi tiêu của người di cư; gửi tiền về quê hương để đầu tư cho các hoạtđộng tăng thu nhập, đầu tư kinh doanh, trả nợ, chi trả tiền chữa bệnh, tiền tiêudùng của gia đình, tiếp cận các kĩ năng làm việc và hiểu biết thông tin về thịtrường, nắm bắt kĩ năng kỹ thuật về áp dụng tại quê hương
Bốn là, dòng di cư này cũng giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước dànhcho các dịch vụ tại những nơi họ rời đi, trong khi đến nơi sinh sống họ lại khôngđược chính quyền hỗ trợ và đồng thời giúp chính quyền nơi đến giảm bớt các chiphí quản lý các dịch vụ ở thành thị thông qua việc thu nhặt, vận chuyển phế liệu vànhư vậy những người di cư tham gia vào dây chuyền sản xuất tái chế
* Tác động tiêu cực của dòng di cư nông thôn – thành thị đến kinh tế - xã hội
- Lao động di cư - đối tượng ít được bảo vệ nhất trong thị trường làm việc mớigia nhập Họ thường không có bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nghềnghiệp hay tai nạn lao động do bản chất công việc của họ là tạm thời và khôngđược đăng kí hộ khẩu thường trú, người lao động di cư không thể tự bảo vệ mìnhkhỏi những rủi ro về sức khoẻ, họ không tự tổ chức được những cuộc thươnglượng tập thể để đòi hỏi một đồng lương xứng đáng và yêu cầu được bồi thườngtrong trường hợp bị thương tật hoặc đau ốm
Trang 24- Những người di cư cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế và
xã hội Họ không phải là đối tượng được quan tâm nhiều đến việc nâng cao khảnăng tiếp cận các dịch vụ y tế, nhà ở, xã hội cho người nhập cư, họ có lương thấpnhưng nhu cầu tiết kiệm lại cao do vậy lao động di cư thường sống chui rúc trongcác khu nhà trọ đông đúc, thiếu thốn các tiện nghi cơ bản và an toàn Bên cạnh đó,tình trạng dễ tổn thương đói với nhóm phụ nữ di cư thường do bị xâm hại tình dục
và bạo lực, thậm chí gây nên các rủi ro lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đườngtình dục và HIV/AIDS Những vấn đề này ảnh hưởng rõ nét đến an ninh xã hộicũng như vấn đề về môi trường ở các đô thị đông đúc người di cư
- Cơ sở hạ tầng ở thành thi được cung cấp tốt hơn so với các vùng nông thônnhưng chỉ đảm bảo cho một khối lượng người cụ thể mà thôi Khi có dòng di cưquá lớn từ các vùng miền khác ra thành thị, cùng với điều này là khối lượngphương tiện giao thông sử dụng cũng tăng lên đáng kể sẽ tác động tới yếu tố hạtầng như: đường xã, đất đai, nhà ở đều trở nên quá tải ở thành thị
b Vai trò can thiệp của chính phủ:
* Nhận định: Việc di dân từ những vùng nông thôn lên thành thị là một thực tếcần được chấp nhận và di dân nội địa là một động lực của phát triển đô thị Thay
vì hạn chế việc di cư hoặc chối bỏ sự có mặt của người nông thôn ở thành phố, cácquốc gia nên coi đây là một cơ hội để phát triển Hầu hết kinh nghiệm của cácquốc gia trên thế giới cho thấy, việc cố gắng hạn chế dòng di cư từ nông thôn lêncác thành phố lớn bằng các biện pháp hay rào cản trực tiếp hay gián tiếp, ngấmngầm hoặc công khai thực sự không hiệu quả bởi nó không chặn đứng được dòng
di cư mà còn gây ra sự xung đột không cần thiết và gây ra cái giá phải trả vềnhững cơ hội bị bỏ lỡ về tăng trưởng kinh tế và sự hội tụ mức sống (Báo cáo pháttriển thế giới năm 2009), vì vậy thay vì chống lại sức hút những người di cư rờilàng quê của họ, chính phủ nên cố gắng xóa bỏ những nhân tố đang xô đẩy ngườidân ly hương Những chính sách nhằm kiềm soát di dân sẽ gây ra hậu quả phản tácdụng và cần được loại bỏ, không nên xem di chuyển nội địa tự nguyện hay chủyếu là di cư nông thôn – thành thị là mối đe dọa, thực tế là di cư nội địa mang lại
Trang 25cho các xã hội cơ hội để tăng trưởng kinh tế và hội tụ phúc lợi xã hội Bên cạnh
đó, sự di cư quá tải sẽ dẫn đến tình trạng không thể kiểm soát và gây ảnh hưởngtiêu cực tới đời sống kinh tế - xã hội Do vậy, cần có sự can thiệp của nhà nướcvào vấn đề này một cách phù hợp và đúng đắn để đạt được sự bền vững về cả kinh
tế, xã hội và văn hoá
* Vai trò của chính phủ:
Một là, lồng ghép di dân vào các chương trình phát triển và xoá đói giảmnghèo, đặc biệt là những chương trình có mục tiêu giảm nghèo Chính phủ cần
nắm rõ thông tin nhiều hơn về tình hình di cư để có sự can thiệp kịp thời: hỗ trợ về
nhà cửa, việc làm và tiếp cận vốn vay ngân hàng, dịch vụ y tế, giáo dục, nắm bắtđược nhu cầu của từng nhóm di cư khác nhau trong tổng số lao động phổ thông Hai là, cần có sự phân bố đồng đều quyền lợi ở thành phố chứ không phải nớirộng khoảng cách giữa giàu và nghèo, tăng cường việc làm ở khu vực nông thôn
và tạo ra công nghệ lao động
Ba là, Nhà nước cần có các chính sách để hạn chế tổn thất cho người di cư khi
họ đến nơi ở mới, tạo điều kiện ổn định cho người di cư và nâng cao khả năng tiếpcận các dịch vụ xã hội cơ bản
1.2.2 Bối cảnh toàn cầu hoá `và tác động của toàn cầu hóa đến dòng di
cư nông thôn ra thành thị.
1.2.2.1 Khái niệm toàn cầu hóa
Theo từ điển Bách khoa: Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thayđổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổingày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá,kinh tế, v.v trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoáhầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóathương mại hay "tự do thương mạị" nói riêng Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉthấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại,
kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn hoá
Trang 26Theo quan niệm của Ủy ban Châu Âu cho rằng: “Toàn cầu hoá có thể địnhnghĩa như là một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nướckhác nhau đang trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do có sự năng động của việcbuôn bán hàng hóa và dịch vụ cũng như có sự lưu thông tư bản và công nghệ Đâykhông phải là hiện tượng mới mà là sự tiếp tục của một tiến trình đã được khơimào từ khá lâu” Theo quan niệm trên thì thực chất toàn cầu hóa là toàn cầu hóakinh tế.
Theo IMF, “Toàn cầu hoá là sự gia tăng của quy mô và hình thức giao dịchhàng hóa, dịch vụ xuyên qua sự lưu thông vốn quốc tế với việc truyền bá rộng rãinhanh chóng của kĩ thuật làm tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau của nền kinh tế cácnước trên thế giới.”
Theo nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc IX thì: “Toàn cầu hoá là sự tự do hóathương mại, thị trường Toàn cầu hóa đó là tiến trình toàn cầu hóa về kinh tế,chính trị, văn hóa – xã hội được đẩy mạnh bởi công nghệ tin học và viễn thông”
Dù có nhiều định nghĩa khác nhau về toàn cầu hóa, song tất cả những địnhnghĩa được đề cập đến trong các nghiên cứu chủ yếu là toàn cầu hóa về kinh tế Cóthể nói, toàn cầu hóa về kinh tế vẫn là một đề tài chiếm vị trí trọng tâm, nhữnglĩnh vực khác của toàn cầu hóa cũng đều xuất phát từ những nguyên nhân và lý dokinh tế, những mối quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội vượt ra khỏi biên giới quốcgia một nước Vì vậy, có thể nói: “Toàn cầu hóa ngày nay có bản chất chủ yếu làtoàn cầu hóa kinh tế, với những tác động sâu rộng của nó đến các mặt đời sống xãhội như: quân sự, chính trị, văn hóa, môi trường…và việc giải quyết các vấn đềnảy sinh trong các lĩnh vực này không thể không liên quan đến toàn cầu hóa kinhtế”
1.2.2.2 Các kênh tác động nói chung trong bối cảnh toàn cầu hoá
Toàn cầu hóa đã và đang mang lại những biến đổi to lớn và sâu sắc, tác độnghầu như mọi lĩnh vực của cuộc sống, do vậy, các kênh tác động và nội dung ảnhhưởng của toàn cầu hóa cũng rất đa dạng Do phạm vi nghiên cứu của đề tài nênphần này tôi sẽ chỉ trình bày kênh tác động của toàn cầu hóa có liên quan đến quá
Trang 27trình di cư nói chung và di cư nông thôn – thành thị nói riêng (sẽ được trình bày ởmục sau đó) Các kênh tác động của toàn cầu hoá đến nền kinh tế các quốc gia nóichung trên thế giới: tự do vốn đầu tư, xuất nhập khẩu, tự do thương mại, chuyểngiao công nghệ, kĩ năng quản lý, tự do di chuyển lao động toàn cầu.
- Kênh tự do hoá thương mại: Tự do hoá thương mại thúc đẩy việc mở rộngphân công và hợp tác lao động giữa các nước, làm cho việc phân bố và sử dụngcác nguồn tài nguyên, nguồn nhân lực và các nguồn lực khác của các nước hợp lýhơn Tự do hoá thương mại thúc đẩy cạnh tranh về giá cả, chất lượng hàng hóa vàcác tiểu chuẩn khác về quy trình sản xuất, quản lý, môi trường lao động, quan hệlao động…Do vậy, yêu cầu đối với đào tạo, huấn luyện nguồn nhân lực ngày càngcao và có tác động đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các doanhnghiệp Tự do hóa thương mại cũng làm cho các nước mở rộng thị trường laođộng, thêm được cơ hội việc làm do xuất khẩu hàng hóa, nguồn lao động đượcphân bổ hợp lý hơn và thu hút nhiều lao động hơn vào các khu vực chế xuất và sảnxuất phục vụ xuất khẩu, đã giải quyết một khối lượng công ăn việc làm rất lớn chonhững lao động phổ thông Mặt khác, tự do hoá thương mại còn là một thách thứclớn đối với các nước đang phát triển, do hàng hóa có hàm lượng tri thức cao củacác nước này chiếm tỉ lệ thấp, trình độ sản xuất hạn chế, hàng hóa không có khảnăng cạnh tranh được với hàng hóa của các nước phát triển nên tình trạng biếnđộng trong sản xuất kinh doanh, việc làm, lao động dư dôi…có thể xảy ra trongquá trình mở cửa thương mại
- Kênh tự do hoá vốn đầu tư: Di chuyển vốn thường kèm theo di chuyển côngnghệ, kiến thức kinh doanh, quản lý Do vậy, kích thích phát triển giáo dục đào tạolao động lành nghề và lao động có trình độ cao để đáp ứng sự phát triển của cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trên cả ba lĩnh vực, tay nghề, năng lựcquản lý và tác phong làm việc, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường
có những tác động tích cực, làm tăng chất lượng lao động, đẩy nhanh quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động Năng suất lao động của các nướcđang phát triển bị ảnh hưởng lớn bởi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài thể
Trang 28hiện là năng suất lao động có xu hướng tăng lên đi kèm với quá trình chuyển giaocông nghệ, kiến thức kinh doanh, điều này làm cho cơ cấu lao động cũng dịchchuyển theo, lao động sẽ đi tới đâu mà có năng suất cao hơn tương ứng với mứclương cao hơn hay từ khu vực thành thị ra khu vực nông thôn Một thực tế là dòngvốn đầu tư nước ngoài vào các nước đang phát triển tạo ra nhiều việc làm, baogồm cả việc làm trực tiếp và gián tiếp, nâng cao chất lượng nguồn lao động.
- Kênh tự do hóa lao động toàn cầu: Nhân tố di chuyển lao động trong quátrình toàn cầu hoá được đặc trưng bởi các dòng chủ yếu là: xuất khẩu lao động từcác nước ít phát triển tới các nước phát triển hơn, tới những nước có nhiều việclàm và tiền công cao hơn; di chuyển lao động chuyên môn kỹ thuật của các nướcphát triển hơn vào các nước tiếp nhận công nghệ (các chuyên gia khoa học côngnghệ) Ngoài dòng di chuyển lao động ra nước ngoài còn có dòng di chuyển trongnước Những cơ hội việc làm được tạo ra ở những trung tâm đô thị đã tạo nêndòng di chuyển lao động trong nước từ những vùng nông thôn ra thành thị, từ khuvực nông nghiệp chuyển sang khu vực công nghiệp, từ nơi thu nhập thấp đến nơi
có thu nhập cao hơn
Các định chế kinh tế khu vực và toàn cầu trong đó có các chính sách về pháttriển nguồn nhân lực, chính sách tự do hoá thương mại, xuất khẩu lao động, quản
lý lao động tiêu chuẩn lao động và quan hệ lao động có tác động mạnh mẽ tớiphát triển nhân lực, việc làm và các vấn đề lao động của mỗi nước trogn quá trìnhtham gia vào toàn cầu hóa
1.2.3. Dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong bối cảnh toàn cầu hoá
Toàn cầu hóa là một tiến trình phức tạp, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, có mặtthuận và mặt nghịch, có cơ hội và thách thức Do vậy, toàn cầu hóa đem lại nhữngthách thức và cơ hội cho các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nóiriêng Những cơ hội đó là: Có một thị trường rộng lớn để có thể tiêu thụ sản phẩmđược sản xuất ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thu hút vốn đầu tư
từ các nhà đầu tư nước ngoài, các nguồn viện trợ phát triển của các nước và cácđịnh chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế
Trang 29(IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) ; có điều kiện tiếp nhận công nghệsản xuất và công nghệ quản lý thông qua các dự án đầu tư Những thách thức đólà: áp lực cạnh tranh của tổng lực nền kinh tế, sức cạnh tranh của quốc gia, sự bắtkịp của các nước đang phát triển trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệdiễn ra như vũ bão, áp lực về khủng hoảng môi trường, chảy máu chất xám, sự giatăng bất bình đẳng giữa các quốc gia và giữa các vùng miền, đặc biệt giữa đô thị
và nông thôn và kết quả của những chênh lệch vùng miền đó
Bối cảnh toàn cầu hóa đã làm thay đổi cơ cấu lao động và cũng làm thay đổicấu trúc dân số ở các nước đang phát triển thể hiện qua các nhân tố sau đây:
Trên phạm vi toàn cầu, quá trình toàn cầu hoá làm tăng lưu lượng giao dịchtrên cả ba thị trường hàng hoá - dịch vụ; tài chính và lao động Trên thị trường laođộng thế giới, tổng cầu về lao động, tức là số việc làm mới được tạo ra nhiều hơnnhưng cũng kèm theo sự dư thừa tức là sự thất nghiệp do cạnh tranh và sự phân bổlại các nguồn lực dưới tác động điều chỉnh của thị trường toàn cầu Đặc biệt vớichính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài gắn với việc tạo ra khối lượngcông ăn việc làm lớn, mở rộng thị trường lao động phi nông nghiệp và hướng vàoxuất khẩu; kết hợp của kênh tự do vốn đầu tư và tự do thương mại đó là khốilượng việc làm to lớn nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài, các khu vực chế xuất vàxuất khẩu, thu hút lực lượng lao động đông đảo ở các khu vực trung tâm, trong khicác khu vực này không đủ lao động để đáp ứng và được bổ sung lớn từ lao độngnông thôn Phần lớn các cụm công nghiệp, khu chế xuất và các cơ sở kinh tế thuhút vốn đầu tư nước ngoài đều tập trung ở những nơi có điều kiện tốt hơn về mọimặt hay có lợi thế so sánh là những vùng đô thị hay cận kề đô thị, sự phát triển củacác vùng này kéo theo sự gia tăng quy mô đô thị và biến động dân cư phản ánhnhu cầu sức lao động gia tăng ở thành thị Quá trình toàn cầu hóa và việc tạo ranhiều việc làm hơn ở khu vực thành thị làm cho các nhân tố kéo ảnh hưởng rõ rệthơn đến người di cư; nghề nông với họ là chủ yếu nhưng thiếu việc làm vào nhữngngày nông nhàn trong khi ở thành thị với thời gian đó họ có thể kiếm thêm thunhập và có cơ hội tìm được việc làm tốt hơn
Trang 30Toàn cầu hoá cũng làm tăng quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá ở các nướctheo xu hướng giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp, đất nông nghiệp ngày một giảm
do quá trình này, cùng với tốc độ tăng trưởng dân số ở nông thôn cao hơn thànhthị dẫn đến thất nghệp và bán thất nghiệp ở nông thôn Quá trình toàn cầu hóa còn
đi kèm với việc dỡ bỏ rào cản thương mại và sự bảo hộ với những ngành lao động
rẻ và chất lượng thấp tạo nhân tố bất lợi cho sản xuất nông nghiệp; cùng với sựthiếu thu nhập ổn định và tình trạng mất đất - những nguyên nhân chủ yếu dẫn đếnđói nghèo ở nông thôn Những nguyên nhân này làm cho lao động nông thôn gặpkhó khăn nhiều hơn thúc đẩy khát vọng tìm lên thành thị để có cuộc sống tốt đẹphơn
Mặt khác, toàn cầu hoá làm tăng sự chênh lệnh, bất bình đẳng về kinh tế - xãhội giữa nông thôn – thành thị, lao động giản đơn như nông dân ngày càng giảm ýnghĩa trong sản xuất và cạnh tranh mang tính toàn cầu trong sự phát triển như vũbão và không ngừng của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, con người - với nănglực và trình độ của mình ngày càng đóng vai trò trung tâm trong mọi hoạt động,mọi quyết định của quá trình sản xuất và cạnh tranh Quá trình toàn cầu hoá làmcho những người giàu càng giàu do biết tận dụng cơ hội hơn, còn người nghèo thìvẫn đứng ngoài vòng toàn cầu hóa điển hình là người nông dân Chênh lệch thunhập, điều kiện sống và đặc biệt sự tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục cũng là mộtyếu tố thúc đẩy dòng di cư ở nông thôn ra thành thị
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ
Hiện nay, di cư từ nông thôn ra thành thị đang là một vấn đề mà nhiều nướcđang phát triển đang phải đối mặt, đặc biệt với các nước đang trong giai đoạn đầuquá trình công nghiệp hóa như Việt Nam Trung Quốc được xem như là bài họckinh nghiệm một phần vì những tư liệu sẵn có và điều quan trọng hơn là có nhữngđiều kiện tương đối giống Việt Nam theo nghĩa đang trong quá trình công nghiệphóa, nền kinh tế có nông nghiệp và công nghiệp, có những thành phố được coi là
Trang 31đầu tầu của nền kinh tế và đang phải đối mặt với vấn đề dư thừa lao động, thiếuviệc làm của lực lượng lao động nông thôn; hơn nữa Trung Quốc cũng như ViệtNam đã dùng hệ thống hộ khẩu để theo dõi dân cư.
Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất thế giới, tốc độ đô thị hóa cũngdiễn ra nhanh chóng Diện tích đất canh tác hạn chế trong khi dân số đông làm cho
tỷ lệ thất nghiệp ở các vùng nông thôn ngày càng tăng Hiện nay, ước tính TrungQuốc có từ 100 – 200 triệu lao động nông thôn không có việc làm, hàng năm lạităng thêm từ 6 – 7 triệu người (Zhan Shaohua, năm 2005)
Với lực lượng lao động dư thừa này, hàng năm có đến hàng triệu người nhập
cư vào thành thị Thực trạng này đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý đôthị về các mặt: quản lý dân cư, lao động việc làm, an ninh, sức khoẻ, kế hoạch hóagia đình, giáo dục và nhiều vấn đề xã hội khác Trong những năm qua, mặc dù vẫncòn tình trạng di cư đến các đô thị lớn, nhưng với các biện pháp hữu hiệu, TrungQuốc đã đạt được những thành tựu trong việc hạn chế sức ép về việc làm đô thịtrong quá trình đô thị hóa Để đạt đựơc những thành công đó Trung Quốc đã tậptrung vào các vấn đề sau:
1.3.1 Phát triển doanh nghiệp địa phương để thu hút việc làm và giảm sức ép đô thị
Các chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước thúc đẩy sự phát triển củacác doanh nghiệp địa phương đã được chính phủ Trung Quốc quan tâm Nhờ vậy,chỉ số tăng trưởng công nghiệp cao nhất của Trung Quốc là tỉ lệ tăng về số lượngcác doanh nghiệp địa phương Từ đầu năm 1990, khoảng cách chênh lệch giữa tốc
độ tăng trưởng của công nghiệp địa phương và công nghiệp đô thị ngày càng rộng
ra Trong năm 1991 và 1992, tốc độ tăng trưởng công nghiệp khu vực thành thịtương ứng là 12.9% và 21.2%, trong khi đó của doanh nghiệp địa phương là 25%
và 52.2% Giá trị sản lượng công nghiệp của doanh nghiệp địa phương chiếm9.1% tổng giá trị sản lượng quốc gia năm 1978, 16.3% năm 1984, 23.88% năm
1989, 30.8% năm 1991 và 36.8% năm 1992
Trang 32Tốc độ tăng trưởng cao của các doanh nghiệp địa phương đã tạo ra rất nhiều cơhội việc làm cho lực lượng lao động dôi dư ở khu vực nông thôn Số lao động làmviệc trong các doanh nghiệp địa phương so với tổng số lao động công nghiệp năm
1987 là 43.3% và 1991 hơn 50% (Islam Nazrul, 1995) Khuyến khích xây dựngcác doanh nghiệp địa phương là một trong những giải pháp quan trọng của TrungQuốc nhằm giải quyết vấn đề việc làm ở các đô thị lớn Đây là một bài học bổ íchcho Việt Nam với giai đoạn đô thị hoá mạnh đang diễn ra hiện nay
1.3.2 Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư ở các thành phố lớn
Sự phát triển các đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn cùng với công nghiệp hoánông thôn sẽ là một giải pháp để thu hút lao động dư thừa, góp phần tối đa việcphân bổ các nguồn lực ở các khu vực và thu hẹp khoảng cách giữa các thành phố
và vùng nông thôn
Các đô thị mới được thành lập ở các vùng nông thôn thúc đẩy về nhu cầu pháttriển công nghiệp nông thôn và là nền tảng cho quá trình chuyển đổi bộ mặt xã hộicủa nông thôn Vai trò của các thành phố nhỏ là phân bổ các sản phẩm nôngnghiệp và các sản phẩm phụ, trong vòng 10 năm trở lại đây, các đô thị nhỏ đã trởthành trung tâm sản xuất, dịch vụ, giải trí cũng như giáo dục và thông tin Do vậy,người nông dân không còn phải quan tâm nhiều đến quy mô của đô thị là lớn haynhỏ như trước kia
1.3.3 Phát triển nguồn nhân lực
Trung Quốc coi phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực là yếu tốtrung tâm trong chiến lược công nghiệp hóa Chính phủ Trung Quốc đã tập trungvào các lĩnh vực:
- Kế hoạch hóa phát triển dân số, tránh cho không để sự bùng nổ dân số đặcbiệt là ở các đô thị lớn
- Phát triển mạnh giáo dục phổ thông, nâng cao kiến thức văn hoá chung chomọi người dân
Trang 33- Cải tiến hệ thống đào tạo đại học và dạy nghề để đáp ứng những nhu cầu củaquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tăng cường đầu tư cho giáo dục và đàotạo.
Từ kinh nghiệm của Trung Quốc chúng ta có thể rút ra một số bài học cơ bản
có thể ứng dụng cho Việt Nam đó là: để hạn chế các dòng di cư từ nông thôn rathành thị cần đẩy mạnh giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn, xây dựng các
đô thị vệ tinh các thành phố lớn, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để
họ có thể tham gia và thị trường lao động
Trang 34Chương II: Tình hình di cư từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá
2.1 QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HOÁ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC NHÂN TỐ THÚC ĐẨY DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ 2.1.1 Quá trình Toàn cầu hoá tại Việt Nam qua các kênh chủ yếu.
2.1.1.1 Quá trình tự do hoá thương mại
Tự do hoá thương mại được thể hiện qua các mốc hội nhập kinh tế quốc tế củaViệt Nam thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại song phương, đaphương, và khu vực
Năm 1991, “Hiệp định mậu dịch Việt Nam - Trung Quốc” được ký kết và đếnnăm 1992 là “Hiệp định hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc” giữa hai quốcgia tạo bước ban đầu cho mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và nền kinh tế bênngoài
Với quá trình mở cửa nền kinh tế, Việt Nam cũng có những hiệp định thươngmại với Cộng đồng châu Âu (EU), như Hiệp định buôn bán hàng dệt may ViệtNam - EU ngày 15/12/1992, Hiệp định hợp tác giữa Việt Nam và Uỷ ban châu Âuđược ký năm 1995 và có hiệu lực năm 1996
Năm 1995, Việt Nam đã trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á (ASEAN) và bắt đầu tham gia thực hiện Khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA) năm 1996
Năm 1998, Việt Nam đã chính thức được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tếchâu Á - Thái Bình Dương (APEC) Gia nhập APEC đem lại nhiều cơ hội chophát triển kinh tế của Việt Nam nói chung và của doanh nghiệp nói riêng; tậptrung vào việc tăng cường tiếp cận và mở cửa thị trường, cắt giảm và dần dần tiếntới loại bỏ hoàn toàn các rào cản thuế quan và phi quan thuế đối với thương mại vàđầu tư cho các nước thành viên trong khu vực Năm 2000, Việt Nam ký Hiệp địnhThương mại với Mỹ và Hiệp định có hiệu lực kể từ ngày 10/12/2001 Hiệp định
Trang 35này được đánh giá là hiệp định mang tính chất tổng thể và bao quát nhất và đượcđàm phán dựa trên cơ sở các nguyên tắc của WTO Trên thực tế, Hiệp định thươngmại này không chỉ đề cập đến thương mại hàng hoá mà còn đề cập tới cả nhữngđiều khoản về thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Hoa
Kỳ
Năm 2003, Việt Nam ký kết Hiệp định Tự do, Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tưvới Nhật Bản Hiệp định đầu tư này đã quy định một cách toàn diện về đối xửquốc gia, tối huệ quốc và nguyên tắc cấm đưa ra nghĩa vụ đối với các nhà đầu tưcủa cả hai nước Năm 2006, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổchức Thương mại Thế giới nhưng phải đến ngày 11/01/2007 thì các cam kết củaViệt Nam với tổ chức WTO mới chính thức có hiệu lực Sau khi trở thành thànhviên chính thức của WTO, Việt Nam phải thực hiện các cam kết đa phương và cáccam kết mở cửa thị trường đã ký kết
Qua mỗi lần Việt Nam tiến hành ký kết một hiệp định thương mại songphương hoặc đa phương thì hoạt động thương mại của Việt Nam lại có được sựtăng trưởng mạnh mẽ
Trên thực tế, tại các thời điểm sau khi Việt Nam tham gia chính thức vào Diễnđàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương vào năm 1992, rồi tiếp theo làHiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ vào năm 2000, các hiệpđịnh đầu tư với Nhật Bản vào năm 2003, tổ chức Thương mại Thế giới WTO vàonăm 2007,…đều không chỉ là những điểm bắt đầu cho thời kỳ tăng tốc mới củakim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang các thị trường này mà còn là điểm bắt đầucủa làn sóng đầu tư mới của nước ngoài vào Việt Nam Điều này một phần có thểđược xem như là kết quả tích cực của quá trình cải cách thể chế ngày càng đượcthực hiện liên tục hơn Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu của nềnkinh tế Việt Nam sẽ được thể hiện phần nào qua xu thế biến động của độ mở kinh
tế trong giai đoạn 1986-2007
Trang 36Hình 2.1 Mức độ mở cửa của nền kinh tế Việt Nam kể từ sau Đổi Mới
Economic openness of Vietnam (%)
50.8
135.4 108.4
91.5 72.4
61.4 54.3
8.4 47.5
-China- Vietnam
ASEAN
Nguồn: TCTK, năm 2007
Lưu ý: Độ mở của nền kinh tế được tính đại diện bởi tỷ số giữa kim ngạch
thương mại (tổng xuất khẩu và nhập khẩu) và GDP (giá danh nghĩa)
2.1.1.2 Quá trình tự do hoá đầu tư
Luật Đầu tư Nước ngoài của Việt Nam được ban hành năm 1987 và đã đượcsửa đổi, bổ sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996,
2000 và được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo luật đầu tư khá thông thoáng,hấp dẫn, cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế
Luật Đầu tư Nước ngoài sửa đổi năm 1992 đến năm 1995 đã tạo ra những thay
đổi căn bản sau: về thời gian nhận được giấy phép đăng kí, trách nhiệm của đối tác
đầu tư, mức thuế ưu đãi với dự án vào các lĩnh vực đặc biệt ưu tiên…
Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1996 đến năm 1999 đã tạo ra những thayđổi căn bản sau: các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có quyền tựlựa chọn các loại hình đầu tư, địa bàn, các đối tác đầu tư và mức tỷ lệ vốn góptrong liên doanh liên kết với các đối tác đầu tư trong nước
Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 đến 2004 đã tạo ra những thay đổichủ yếu sau đây: Việc ban hành danh mục các doanh nghiệp có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài được đăng ký kinh doanh đã được thực hiện, bỏ chế độ thu phíđăng ký đầu tư kinh doanh, đa dạng hóa các hình thức đầu tư bởi các doanh nghiệp
Trang 37có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, họ được phép mua cổ phần của các doanhnghiệp nội địa…
Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2005 đến nay đã tạo ra những thay đổi cănbản, đã thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước,việc ban hành Luật đầu tư chung năm 2005 đã đóng góp một phần quan trọng vào
sự thành công của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, với việc ViệtNam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007.Sau khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại Việt – Mỹ năm 2001, đầu tư từ Mỹ
đã tăng đáng kể trong vài năm gần đây, hiện chiếm khoảng 4,5% tổng số dự án và4% tổng vốn đăng ký
Trong số 64 tỉnh và thành phố trong cả nước thì đầu tư trực tiếp nước ngoàivào thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về tỷ trọng dự án đầu tưđăng ký (chiếm 30,3% tổng số dự án FDI cả nước) và tỷ trọng vốn đầu tư đăng ký(chiếm 22,9% tổng vốn đăng ký của cả nước) trong giai đoạn 1998-2006 Tiếptheo sau là thủ đô Hà Nội (tương ứng là 11,5% và 16,1%) và ở vị trí thứ 3 là tỉnhĐồng Nai (với các tỷ lệ tương ứng là 10,5% và 13,3%) Nếu phân theo vùng kinh
tế thì Đông Nam Bộ được đánh giá là vùng có tỷ trọng dự án đầu tư và vốn đầu tưlớn nhất (tương ứng là 62,0% và 54,1%) tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng(tương ứng là 21,5% và 25,9%)
Một chỉ số được đánh giá cao về mức độ tin cậy là chỉ số toàn cầu hóa dựa trên
12 chỉ tiêu như: vốn FDI, thương mại, các cuộc gọi quốc tế, du lịch nước ngoài,kiều hối…Năm 2007, lần đầu tiên Việt Nam được đưa vào trong danh sách cácnước được tính chỉ số toàn cầu hóa Vị trí 48/72 của Việt Nam như vậy là khá cao
và thực sự có ý nghĩa vì nền kinh tế Việt Nam hội nhập khá muộn so với đa số cácnước được xếp hạng, hơn thế nữa, các số liệu được tính toán trong bảng xếp hạngchủ yếu là các số liệu năm 2005, khi Việt Nam chưa vào WTO, nghĩa là nếu sửdụng số liệu 2006 hoặc 2007 vị trí xếp hạng của Việt Nam chắc còn cao hơn Cònkhá sớm để có một cái nhìn đầy đủ về TCH ở Việt Nam, bởi nếu tính từ thập niên
90 (thế kỷ XX) thì Việt Nam mới chỉ đi được những bước đầu tiên vào hội nhậptoàn cầu Tuy vậy, vị trí 48/72 trong bảng xếp hạng chỉ số TCH là một khích lệ lớn
Trang 38đối với mọi hoạt động kinh tế - xã hội.Do vậy, mức độ toàn cầu hóa của Việt Namđược đánh giá ở những bước đầu tiên và đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO.Sau đây là bảng chỉ số toàn cầu hóa năm 2007 của một số quốc gia:
Bảng 2.1 Chỉ số toàn cầu hóa của Việt Nam năm 2007 so với các quốc gia
khác
(Đơn vị: thứ hạng trong 72 quốc gia/vùng lãnh thổ Viết tắt: Sin: Singapore, Est: Estonia, ĐL: Đài Loan, VN: Việt Nam, TL: Thái Lan, TQ: Trung Quốc, Indo: Indonesia.
Sin Mỹ Est Đức ĐL VN TL Nga TQ Indo Hội nhập
Tham gia các tổ chức quốc tế
Tham gia các hoạt động gìn giữ
hoà bình của Liên hợp Quốc
Tham gia các thỏa ước quốc tế
khác
42 14
40
1 26
68
20 44
14
5 12
40
72 71
61
56 69
41
29 59
61
29 33
55
42 41
61
29 67
40 1 51
10 21 15
34 16 19
25 18 72
50 52 57
57 49 68
60 46 52
67 56 65
68 58 62 Xếp hạng 2007
Thay đổi so với năm 2006
1 7 10 22 37 48 53 62 66 69
0 -4 -4 -2 -8 -15 -15 -9
Nguồn: Tạp chí Foreign Policy, Hãng A T Kearney, năm 2008
2.1.1.3 Quá trình tự do hoá lao động
Di chuyển lao động nước ngoài vào Việt Nam: Với việc mở cửa và hội nhập
sâu vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang là một điểm đến lý tưởng của nhiều tổ
Trang 39chức, công ty và các tập đoàn nước ngoài Tuy nhiên, nguồn nhân lực có trình độ
đủ để đáp ứng nhu cầu của các công ty và tập đoàn nước ngoài của Việt Nam lạihạn chế, điều đó đã dẫn đến nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài tăng lên, đòi hỏiphải có một dòng chảy lao động nước ngoài vào Việt Nam để đáp ứng sự thiếu hụtnhân công có trình độ trên thị trường
Theo số liệu của Bộ Lao động thương binh và xã hội, tính đến đầu năm 2007,trong số 34.117 lao động nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam, người làm côngviệc quản lý chiếm 31,8%, lao động chuyên gia kỹ thuật chiếm 41,2% và lao độngkhác chiếm 27% Số lao động nước ngoài đến Việt Nam làm việc tăng trung bình60% mỗi năm giai đoạn 2000-2006 chủ yếu là người mang quốc tịch Nhật Bản,Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Anh, Pháp Nếu theo châu lục thì lao độngmang quốc tịch châu Á chiếm khoảng 57%, châu Âu chiếm khoảng 29% (CIEM,2008)
Di chuyển của lao động Việt Nam ra nước ngoài (chỉ xét xuất khẩu lao động):
Trong những năm gần đây xuất khẩu lao động của Việt Nam đã mở rộng góp phầngiảm áp lực về tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động gia tăng hàngnăm Theo số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2008), năm 1992chúng ta mới xuất khẩu lao động sang 12 nước và vùng lãnh thổ, thì năm 1999tăng lên 36 nước và vùng lãnh thổ, sang năm 2006 con số này đã là hơn 40 nước
và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề
Trang 40Hình 2.2 : Lao động xuất khẩu qua các năm của Việt Nam, 1996-2006
Đơn vị: Nghìn người
12.7
18 12.2
21.8
30 36.2
Lao động xuất khẩu
Nguồn: Lê Xuân Bá và cộng sự (2001)
Trong giai đoạn 1996-2006, Việt Nam đã đưa được 468,6 nghìn người đi laođộng ở nước ngoài Riêng trong năm 2006, chúng ta xuất khẩu được 78,8 nghìnlao động, chiếm khoảng 1,8% số lao động có việc làm
Di chuyển của lao động trong nước: Nghiên cứu của Lê Xuân Bá và các cộng
sự (2001), và CTK (2005) đều kết luận rằng di chuyển lao động trong nước củaViệt Nam theo hai hướng: Từ nông thôn ra thành thị và từ miền Bắc di cư vào
miền Nam Điều này là do: Thứ nhất, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa diễn
ra hết sức mạnh mẽ, kéo theo đó là quá trình đô thị hóa, điều này làm cho diện tíchđất canh tác nông nghiệp suy giảm, đẩy một số lượng lớn lao động ở nông thônvào tình trạng không có việc làm, những người này buộc phải di cư ra thành thị để
kiếm cơ hội việc làm mới ở đây Thứ hai, sự bùng nổ của các khu công nghiệp khu
chế xuất ở vùng Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra nhiều cơ hộiviệc làm, chính điều này đã tạo ra sức hút lao động ở các khu vực khác đến làmviệc ở đây, tạo ra luồng di chuyển thứ hai của lao động, từ miền Bắc vào làm việc
ở các khu công nghiệp, khu chế xuất ở miền Nam