Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện huyện - Quản lý chất thải rắn tại tất cả các bệnh viện chưa thực hiện đúng theo Quy chế quản lý chất thải của Bộ Y tế - Hầu hết các
Trang 1Thực trạng quản lý chất thải tại các bệnh viện huyện, tỉnh Yên Bái
Lê Thị Tài, Đào Ngọc Phong, Nguyễn Thị Thu, Vũ Thu Hằng
Quản lý chất thải là một vấn đề lớn cần quan tâm trong quá trình phát triển, đặc biệt đối với các chất thải nguy hại trong đó có chất thải y tế Để góp phần nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải y tế của nước ta, tháng 6/2004 chúng tôi đã tiến hành khảo sát tình hình quản lý chất thải tại 9 bệnh viện huyện tỉnh Yên Bái Kết quả thu được như sau:
1 Thực trạng chất thải rắn tại 2 BV huyện: Yên Bình và Văn Yên
- Tổng lượng chất thải y tế phát sinh/giường bệnh/1 ngày đêm: Văn Yên 0,37 kg, Yên Bình 0,78 kg, trong
đó khoa Ngoại sản chiếm tỷ lệ cao nhất
- Tỷ lệ chất thải lâm sàng: Văn Yên 11,5%, Yên Bình 13,6%, trong đó tỷ lệ chất thải lâm sàng sắc nhọn:
Văn Yên 5,5% Yên Bình 5,7%
2 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện huyện
- Quản lý chất thải rắn tại tất cả các bệnh viện chưa thực hiện đúng theo Quy chế quản lý chất thải của Bộ Y tế
- Hầu hết các bệnh viện huyện không xử lý nước thải trước khi thải vào hệ thống nước thải chung
- Đối với chất thải khí: có 4/9 bệnh viện huyện có hệ thống hotte hút hơi khí độc tại các khoa phòng xét nghiệm
- Nhân lực tham gia quản lý chất thải tại tất cả các bệnh viện hiện nay đều là y tá, hộ lý, kỹ thuật viên, không
có cán bộ chuyên trách được đào tạo về quản lý chất thải y tế
i đặt vấn đề
Quản lý chất thải là một vấn đề lớn cần quan
tâm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đặc
biệt đối với các chất thải nguy hại Chất thải y tế,
theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ là
một trong những loại chất thải nguy hại Hàng
ngày các bệnh viện đã thải ra một lượng lớn chất
thải có thể làm ô nhiễm môi trường (đất, nước,
không khí) và làm lan truyền mầm bệnh Nhưng
thực tế, đa số các bệnh viện được xây dựng từ thời
Pháp thuộc hoặc trong thời chiến nên khi xây dựng
bệnh viện không có hệ thống xử lý chất thải, hoặc
có hệ thống xử lý chất thải nhưng không hoạt động
và hoạt động nhưng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh
môi trường Đối với các bệnh viện tuyến huyện, cơ
sở hạ tầng xây dựng càng nghèo nàn, xuống cấp, trang thiết bị cho việc quản lý chất thải y tế hầu như chưa có gì Chất thải đang là mối lo cho mỗi bệnh viện và dân cư khu vực tiếp giáp bệnh viện Chính vì vậy nghiên cứu quản lý chất thải y tế là một vấn đề cấp thiết nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Đề tài của chúng tôi được tiến hành với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng quản lý chất thải y tế tại 9 bệnh viện huyện, tỉnh Yên Bái
2 Xác định khối lượng, thành phần chất thải rắn tại hai bệnh viện huyện
2 đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trang 21 Thời gian, địa điểm, nghiên cứu:
- Thời gian: Tháng 6 năm 2004
- Địa điểm: tỉnh Yên Bái
2 Đối tượng nghiên cứu:
Các bệnh viện huyện: chất thải rắn tại hai bệnh
viện huyện, số liệu sẵn có về quản lý chất thải tại
các bệnh viện huyện thuộc tỉnh Yên Bái
3 Thiết kế nghiên cứu:
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
4 Mẫu nghiên cứu:
- Thực trạng quản lý chất thải: toàn bộ 9 bệnh
viện huyện
- Xác định khối lượng, thành phần chất thải
rắn: chủ định chọn hai bệnh viện huyện: bệnh viện
Yên Bình gần trung tâm tỉnh, bệnh viện Văn Yên
cách xa trung tâm
5 Nội dung nghiên cứu và kỹ thuật thu thập thông tin:
- Thực trạng quản lý chất thải tại các bệnh viện huyện: thảo luận, tập huấn cho cán bộ của các bệnh viện (mỗi BV 2 người: đại diện ban giám
đốc, y tá trưởng), phát biểu mẫu tự điền thông tin theo mẫu về các nội dung: thông tin chung về bệnh viện, tình hình quản lý chất thải rắn, chất thải lỏng,
xử lý hơi khí độc
- Khối lượng, thành phần chất thải rắn tại hai
bệnh viện huyện Văn Yên và Yên Bình: phân loại, thu gom chất thải rắn tại tất cả các khoa phòng/5 ngày để xác định: Tổng lượng chất thải rắn/GB/ngày đêm, tỷ lệ thành phần chất thải rắn Iii Kết quả
1 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện huyện
1.1 Thông tin chung Bảng 1 Một số thông tin liên quan đến quản lý chất thải
Bệnh viện Diện tích (DT) sử
dụng/DT mặt bằng (m2)
DTTB/
Giường bệnh
Tường rào bảo vệ
Vị trí so với khu dân cư tiếp giáp
Khoảng cách so với khu dân cư tiếp giáp
TP Yên Bái 5467/8025,9 = 68,1% 134 Có Trung tâm < 100 m Nghĩa Lộ 3608/24452 = 14,8% 148 Có Tây Bắc < 100 m Văn Yên 1350/7800 = 17,3% Có/không Tây < 100 m Yên Bình 1100/16148 = 6,8% Có/không Tây Nam < 100 m Lục Yên 2151/10561 = 20,4% 169 Có/không Nam < 100 m Văn Chấn 1616/22826 = 7,1% 760 Có Tây Nam < 100 m
Mù Cang Chải 1267/3720 = 34,1% 67 Có Đông > 100 m Trấn Yên 1440/14342 = 10,0% 358 Không Tây < 100 m Trạm Tấu 800/3418 = 23,4% 136 Có Đông nam < 100 m
Nhận xét: trừ BV Mù Cang Chải, các BV khác đều cách khu dân cư < 100m, hầu hết các bệnh viện
nằm ở hướng gió chính hoặc trung tâm so với khu dân cư tiếp giáp
Các nguồn nước bệnh viện hiện đang sử dụng: 3 bệnh viện: TP Yên Bái, Nghĩa Lộ, Trấn Yên sử dụng nước máy, 1 BV Văn Yên sử dụng nước giếng khoan, 5 BV còn lại: Yên Bình, Văn Chấn, Mù Cang Chải, Trạm
Tấu, Lục Yên sử dụng nước giếng khơi cho tất cả các hoạt động ăn uống, cọ rửa, hoạt động chuyên môn
Trang 31.2 Tình hình quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện huyện
Bảng 2 Tình hình phân loại chất thải rắn
Bệnh viện 4 loại 3 loại 2 loại Văn Chấn - Lâm sàng - Sinh
hoạt
- Phóng xạ - Hoá học Lục Yên - Lâm sàng - Hoá học - Sinh hoạt
TP Yên Bái, Yên Bình, Văn Yên, Trấn Yên,
Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Nghĩa Lộ
- Lâm sàng
- Sinh hoạt
Nhận xét: chỉ có BV Văn Chấn phân chất thải rắn làm 4 loại và BV Lục yên phân 3 loại, 7 BV còn lại
phân làm hai loại chất thải rắn: lâm sàng, sinh hoạt
Bảng 3 Tình hình phân loại, lưu giữ thải rắn
Bệnh viện Bảo quản tách biệt môi
trường
Nơi lưu giữ có súc vật/
côn trùng
Nước từ nơi lưu giữ chảy ra
môi trường
Nhận xét: trong các bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải thì tất cả các bệnh viện đều đảm bảo tách biệt
môi trường, không có nước từ nơi lưu giữ chảy ra Nhưng tại các nơi lưu giữ cả 9 bệnh viện đều có côn trùng, súc vật hoạt động
Bảng 4 Chất thải rắn được xử lý tại bệnh viện
Bệnh viện Loại chất thải Định kỳ xử lý Hình thức
TP Yên Bái Lâm sàng 1 ngày Đốt, chôn Nghĩa Lộ Lâm sàng 7 ngày Đốt, chôn Văn Yên Lâm sàng, Sinh hoạt 1 ngày Đốt, chôn Yên Bình Lâm sàng, Sinh hoạt 7 ngày Đốt, chôn Lục Yên Lâm sàng, Sinh hoạt 1 ngày Đốt, chôn Văn Chấn Lâm sàng, Sinh hoạt,
Phóng xạ, Hoá chất
1 ngày Đốt, chôn
Mù Cang Chải Lâm sàng, Sinh hoạt 1 ngày Đốt, chôn Trấn Yên Lâm sàng, Sinh hoạt 3 ngày Đốt, chôn Trạm Tấu Lâm sàng, Sinh hoạt 1 ngày Đốt, chôn
Trang 4Nhận xét: chất thải được xử lý tại các bệnh viện là chất thải lâm sàng, sinh hoạt, riêng BV TP Yên Bái,
Nghĩa Lộ chỉ xử lý chất thải lâm sàng, chất thải sinh hoạt thuê CTMTĐT xử lý; BV Văn Chấn xử lý 4 loại Định kỳ xử lý chất thải là 1 ngày (6 BV), BV TP Yên Bái và Nghĩa Lộ là 7 ngày, BV Trấn Yên 3 ngày Hình thức xử lý chất thải rắn tất cả bệnh viện đều đốt và chôn
1.3 Tình hình xử lý chất thải lỏng
Bảng 5 Hệ thống thoát nước thải và xử lý nước thải
Bệnh viện Hệ thống
thoát nước
Loại cống Nắp cống nổi Xử lý nước
thải
Nơi nước thải chảy vào
TP Yên Bái Chỗ có, chỗ
không
Nổi, ngầm Chỗ có, chỗ
không
Không Cống công cộng
Nghĩa Lộ Có Nổi, ngầm Chỗ có, chỗ
không
Không Cống công cộng
Văn Yên Có Nổi Không Không Ao
Yên Bình Có Nổi, ngầm Chỗ có, chỗ
không
Có Ao
Lục Yên Có Nổi Chỗ có, chỗ
không
Không Giếng tự hoại
Văn Chấn Có Nổi Chỗ có, chỗ
không
Không Ao
Mù Cang Chải Có Nổi Không Không Tự ngấm
Trấn Yên Có Nổi Không Không Cánh đồng
Trạm Tấu Chỗ có, chỗ
không
Nổi Chỗ có, chỗ
không
Không Ao
Nhận xét: có 7 BV có hệ thống thoát nước, 2 BV huyện chỗ có, chỗ không, 7 BV có hệ thống cống cống nổi, 2 BV có cả loại cống nổi và cống ngầm Các BV sử dụng hệ thống cống nổi có 3 BV không có nắp đậy và 6 BV chỗ có nắp chỗ không Nơi nước thải các bệnh viện đổ vào có 1 BV nước thải tự ngấm xuống khuôn viên BV, còn lại chảy ra hệ thống công cộng, cánh đồng hoặc chảy ra ao, hồ
1.4 Xử lý chất thải khí
Bảng 6 Số bệnh viện có hotte hút hơi khí
Bệnh viện Hotte hút hơi khí Bệnh viện Hotte hút hơi khí
TP Yên Bái Không Văn Chấn Có
Nghĩa Lộ Không Mù Cang Chải Có
Văn Yên Không Trấn Yên Có
Yên Bình Có Trạm Tấu Không
Lục Yên Có
Nhận xét: 5/9 bệnh viện có hotte hút hơi khí tại
các phòng xét nghiệm
Qua thảo luận với đại diện các bệnh viện và thảo luận nhóm với lãnh đạo và nhóm nhân viên
Trang 5quản lý chất thải của BV Văn Yên, Yên Bình
chúng tôi thu được kết quả sau:
Về nhân lực: chưa BV nào có cán bộ chuyên
trách được đào tạo về quản lý chất thải mà hầu hết
là cán bộ chuyên môn thực hiện quản lý chất thải,
trong đó chủ yếu là nữ nhân viên Nhân viên y tế
tham gia các khâu quản lý chất thải không được
tập huấn đầy đủ, thường xuyên
Về kinh phí: không có nguồn kinh phí cho hoạt
động quản lý chất thải, các bệnh viện phải tự điều
chỉnh trong nguồn kinh phí của bệnh viện
Về phương tiện dụng cụ: do kinh phí hạn chế,
nên thiếu, không đúng quy cách
Thực tế quản lý chất thải: do có chấm điểm thi
đua nên các bệnh viện đều thực hiện phân loại chất thải rắn nhưng sau khi phân loại đều đổ chung vào một hố để đốt thủ công Riêng các phủ tạng, cơ quan cắt bỏ thì chôn lấp ngay trong khuôn viên BV
2 Khối lượng, thành phần chất thải rắn tại
BV Yên Bình và Văn Yên
Bảng 7 Lượng chất thải phát sinh tại bệnh viện Yên Bình và bệnh viện Văn Yên
Tổng lượng chất thải
rắn/ngày đêm
Trung bình (kg/gb/
ngày đêm)
Tổng lượng chất thải lâm sàng/gb/ ngày đêm
Trung bình (kg/gb/ngày
đêm) Bệnh viện
Yên Bình 33,96 0,78 4,62 0,1 13,6
Văn Yên 21.94 0,37 2,52 0,03 11,5
Nhận xét: tổng lượng chất thải trung bình và chất thải lâm sàng (Kg/gb/ngày đêm) của BV Yên Bình
(0,78; 0,1) đều cao hơn BV Văn Yên (0,37; 0,03)
Bảng 8 Tỷ lệ thành phần chất chất thải rắn trung bình một ngày qua thực tế điều tra
Văn Yên Yên Bình Loại chất thải
Số lượng (Kg) % Số lượng (Kg) % Lâm sàng: 2,52 11,5 4,62 13,6
Lâm sàng sắc nhọn 1,2 5,5 1,94 5,7
Lâm sàng không sắc nhọn 1,32 6,0 2,68 7,9
Sinh hoạt 19,42 88,5 29,33 86,4
Rác, thức ăn thừa 6,92 31,5 8,74 25,7
Ngoại cảnh 11 50,1 17,88 52,7
Chất thải khó tiêu hủy 1,5 6,9 2,72 8,0
Tổng cộng 21.94 100 33,96 100
Nhận xét: trong tổng lượng chất thải rắn, phần
lớn là chất thải sinh hoạt (86,4 - 88,5%), chất thải
lâm sàng chỉ chiếm 11,5 - 13,6%
iv Bàn Luận
1 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện huyện
Chất thải Y tế được xếp vào loại chất thải nguy hại vì nó có chứa các chất độc và vi sinh vật gây bệnh Thực tế điều tra tại 9 BV huyện của Yên Bái (bảng 1), về vị trí, trừ BV Mù Cang Chải, các BV khác đều cách khu dân cư < 100m, hầu hết các
Trang 6bệnh viện nằm ở hướng gió chính hoặc trung tâm
so với khu dân cư tiếp giáp, các nguồn nước bệnh
viện hiện đang sử dụng cho tất cả các hoạt động ăn
uống, cọ rửa, hoạt động chuyên môn là nước giếng
khơi và giếng khoan Như vậy nếu chất thải bệnh
viện không được quản lý tốt sẽ dễ dàng phát tán ra
môi trường khu dân cư và ô nhiễm nguồn nước của
BV Như kết quả điều tra (bảng 3) ta thấy nơi lưu
giữ chất thải rắn của tất cả các bệnh viện (gồm cả
chất thải sinh hoạt và lâm sàng) đều không đảm
bảo tách biệt môi trường vì vẫn có côn trùng, súc
vật hoạt động Mặt khác, mặc dù các BV đều trả
lời không có nước từ nơi lưu giữ chảy ra, nhưng vì
các hố chứa rác của BV đều là hố đào thô sơ
(không xây thành) nên nước từ hố rác sẽ ngấm vào
đất trong khuôn viên BV Hơn nữa tất cả các
phần/phủ tạng cắt bỏ cũng được chôn lấp ngay
trong BV Như vậy có thể nói môi trường đất của
BV đang bị ô nhiễm bởi chất thải của bệnh viện và
từ đó cũng có thể gây ô nhiễm nước ngầm
Tình hình quản lý chất thải rắn: như kết quả ở
bảng 2, chỉ có BV Văn Chấn phân chất thải rắn
làm 4 loại và BV Lục Yên phân 3 loại, 7 BV còn
lại phân làm hai loại chất thải rắn: lâm sàng, sinh
hoạt Tuy nhiên, việc thực hiện phân loại chất thải
rắn chỉ là đối phó Qua thảo luận với các bệnh viện
chúng tôi được biết sau khi phân loại các loại rác
vẫn được đổ chung một hố, xử lý như nhau Như
vậy chúng ta thấy các BV vẫn tốn kém một khoản
kinh phí cho việc phân loại chất thải rắn nhưng lại
không có tác dụng gì trong việc đảm bảo vệ sinh
Mặt khác các bệnh viện đều sử dụng túi Nilon để
đựng chất thải rắn theo quy định về xử lý chất thải
rắn của Bộ Y tế, chỉ có BV Mù Cang Chải vẫn còn
sử dụng thùng xô để đựng Tuy nhiên chỉ riêng BV
Nghĩa Lộ mua ở công ty, còn các BV khác các túi
này đều được mua ngoài chợ, do đó không đảm
bảo an toàn cho người thu gom, vận chuyển
Về xử lý chất thải rắn, bảng 5 cho thấy tất cả
các BV đều có xử lý chất thải rắn tại bệnh viện
Tuy nhiên, việc xử lý ở đây mới chỉ hoàn toàn là
chôn, đốt thủ công Các BV đều chưa tính đến việc
xử lý đó có đảm bảo an toàn hay không Mặt khác,
một số BV thời gian lưu giữ chất thải rắn tại hố rác chờ xử lý còn dài (TP Yên Bái và Nghĩa Lộ là 7 ngày, BV Trấn Yên 3 ngày) như vậy rác thải sẽ phân hủy, phát tán ra môi trường gây ô nhiễm môi trường Chúng tôi được biết, tất cả các BV huyện của tỉnh Yên Bái đều được trang bị một lò đốt bơm, kim tiêm chủng có công suất nhỏ, chi phí vận hành không đáng kể (chỉ cần giấy, báo, bìa cũ, hoặc lá cây cỏ khô đốt mồi) Với lượng chất thải lâm sàng phát sinh hàng ngày như hiện nay (bảng 7) các lò đốt này có thể đảm bảo đốt chất thải lâm sàng cho các BV
Đối với chất thải lỏng, trừ BV Yên Bình và có
hệ thông bể tự hoại thu nước thải còn lại các BV viện khác chưa có xử lý gì Trong khi đó, có 7 BV
có hệ thống thoát nước, 2 BV huyện chỗ có, chỗ không, 7 BV có hệ thống cống nổi, 2 BV có cả loại cống nổi và cống ngầm, trong các BV sử dụng hệ thống cống nổi có 3 BV không có nắp đậy và 6 BV chỗ có nắp chỗ không Mặt khác, ta cũng thấy nước thải của các bệnh viện đều đổ ra nơi công cộng (cống, cánh đồng hoặc chảy ra ao, hồ hoặc tự ngấm xuống khuôn viên BV (bảng 5) Như thế, chất thải lỏng của hệ thống BV huyện cũng đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường BV và môi trường xung quanh
Đối với chất thải khí, 5/9 bệnh viện có hotte hút hơi khí tại các phòng xét nghiệm, còn lại các bệnh viện khác chưa có
Kết quả thảo luận với đại diện các bệnh viện và thảo luận nhóm với lãnh đạo và nhóm nhân viên quản lý chất thải của BV Văn Yên, Yên Bình chúng tôi cúng thấy rõ thêm các BV đều gặp khó khăn lúng túng trong việc quản lý chất thải Một mặt phải thực hiện theo quy chế của Bộ đề ra, mặt khác, để thực hiện quy chế đó các BV lại chưa đủ
điều kiện cần thiết về chuyên môn, trang thiết bị, nhân lực, kinh phí
2 Tình hình chất thải rắn tại BV Yên Bình
và Văn Yên
Tổng lượng chất thải (bảng 7) trung bình và chất thải lâm sàng (Kg/GB/ngày đêm) của BV Yên Bình (0,78; 0,1) đều cao hơn BV Văn Yên (0,37;
Trang 70,03) Kết quả này phù hợp với kết quả khảo sát tại
các bệnh viện tuyến huyện của Bộ Y tế năm 1998
[3] và cũng phù hợp với thực tế hai BV: lượng chất
thải rắn ở BV Yên Bình cao hơn BV Văn Yên là do
Yên Bình là BV gần trung tâm thành phố, nhu cầu
sinh hoạt và sử dụng dịch vụ cao hơn so với huyện
xa trung tâm vì vậy lượng chất thải phát sinh cũng
cao hơn
vi Kiến nghị
1 Các BV cần kiểm tra sức khoẻ định kỳ cho cán bộ quản lý chất thải đặc biệt là nữ nhân viên
2 Có thể tận dụng lò đốt hiện có tại bệnh viện huyện để xử lý chất thải lâm sàng
3 Sở Y tế cần hỗ trợ để các bệnh viện huyện xây bể xử lý chất thải lỏng trước khi đổ ra hệ thống chung
Mặt khác, bảng 3.8 còn cho thấy, trong tổng
lượng chất thải rắn, phần lớn là chất thải sinh hoạt
(86,4 - 88,5%), chất thải lâm sàng chỉ chiếm 11,5
- 13,6% Như vậy, nếu đảm bảo phân loại chính
xác thì lượng chất thải lâm sàng cần xử lý sẽ thấp
không gây lãng phí cho BV trong việc xử lý, đồng
thời vẫn đảm bảo an toàn cho môi trường
4 Lãnh đạo BV, các khoa/phòng thường xuyên giám sát, động viên BV mình thực hiện quy chế quản lý chất thải như là một hoạt động chuyên môn
5 Trong kinh phí hoạt động của bệnh viện nên
có phần kinh phí riêng cho quản lý chất thải
Tài liệu tham khảo
v Kết luận
1 Bộ Y tế (1997), Quy chế bệnh viện, Nhà xuất
bản Y học
1 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các
bệnh viện huyện
2 Bộ Y tế (1999), Quy chế quản lý chất chất
thải y tế, Nhà xuất bản Y học, Tr 7, 8, 38, 40
- Việc quản lý chất thải: tất cả các khâu quản lý
chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí đều chưa
thực hiện đúng theo quy chế của Bộ Y tế 3 Bộ Y tế (2000), Tài liệu hướng dẫn thực
hành quản lý chất thải y tế, NXB Y học
- Nhân lực: tại tất cả các BV đều không có cán
bộ chuyên trách được đào tạo về quản lý chất thải,
cán bộ tham gia quản lý chất thải hiện tại chưa
được đào tạo tập huấn những kiến thức cần thiết về
quản lý chất thải
4 Nguyễn Tất Hà, Lê Đình Minh và cộng sự
(1997), Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học "Bước
đầu điều tra hiện trạng quản lý chất thải ở một số bệnh viện tuyến huyện ở Hà Nội”
- Tất cả các BV đều không đảm bảo điều kiện
kinh phí, phương tiện, dụng cụ cho quản lý chất
thải theo quy chế của Bộ Y tế
5 Lê Thị Tài và cộng sự (2003) “Tình hình
quản lý chất thải tại 6 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh”, Tạp chí Nghiên cứu Y học tập 22, số 2
2 Khối lượng thành phần rắn tại hai BV
huyện:
6 Vụ Điều Trị (2000), Đánh giá bước đầu về
thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế
- Tổng lượng chất thải rắn/giường bệnh/1ngđ: 7 WHO (1994), Management of waste from
hospitals and other health care establishments.
Văn Yên: 0,37 kg, Yên Bình: 0,78 kg
- Tỷ lệ chất thải lâm sàng:
Văn Yên: 11,5%, sắc nhọn: 5,5%
Yên Bình: 13,6%, sắc nhọn: 5,7%
Trang 8Summary
Current status of hospital waste management at distric hospitals
in Yenbai province
Waste management, especially harmful waste including hospital waste, is a big problem that has to be considered in the developing process As one of efforts to study the current satus of hospital waste management in Vietnam, we had carried out a survey (6/2004) in 9 district hospitals in Yenbai province The main findings are as follows:
1 The status of solid waste in 2 district hospitals (VANYEN & YENBINH)
- Total hospital waste volume cummulated per bed - day is 0.37 kg and 0.78 kg in VANYEN and YENBINH hospials respectively
- Rates of clinical waste to total hospital waste: in VANYEN: 11.5%; in YENBINH: 13.6%, in which 5.6% and 5.7% is sharp waste respectively
2 The current of hospital waste management in distric hospitals:
- In all hospitals, there is a gap between actual practice and the regulations set bay the Ministry of Health in terms solid waste management
- Almost of hospitals did not do wast water treatment before dumping to the public sewage system
- With exhaust gas: 4/5 of hospitals follows regulations having a system absorting toxic gas in labalatories
- Staffs envollving in waste management are without formal education in hospial waste management