Nghiên cứu độ an toàn của phương pháp đặt vòng tránh thai loại TCu 380A do công ty Pregna ấn Độ và công ty Finishing Enterprises inc Mỹ sản xuất Vũ Thị Vựng, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn T
Trang 1Nghiên cứu độ an toàn của phương pháp
đặt vòng tránh thai loại TCu 380A do công ty Pregna ấn Độ và công ty Finishing Enterprises
inc Mỹ sản xuất
Vũ Thị Vựng, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thị Tuyến, Nguyễn Thuý Hương
Các tác giả đã dùng phương pháp thuần tập để theo dõi dọc 447 đối tượng hiện tại đang mang vòng tránh thai TCu 380A tại một số địa điểm thuộc Hà Nam, Thừa Thiên Huế, An Giang Nhóm nghiên cứu là các đối tượng đặt vòng do ấn Độ hoặc Mỹ sản xuất, nhóm chứng là các đối tượng đặt vòng do Canada sản xuất Kết quả sau 48 tháng kiểm tra lại cho thấy:
- Tỷ lệ đối tượng có viêm nhiễm đường sinh dục dưới qua khám lâm sàng phụ khoa là 18,12%, qua nhuộm gram các tiêu bản vi sinh: 52,8%, qua nhuộm HE các phiến đồ tế bào học: 59,4%
- Nguyên nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục dưới của phụ nữ sau đặt vòng qua xét nghiệm vi sinh chủ yếu là nấm: 29,2%, G vaginalis: 6,8%, Enterobacteriaceae: 13,0%
- Tỷ lệ loạn sản qua kết quả tế bào học sau 48 tháng đặt vòng: 4,3%, thấp hơn so với thời điểm 18 tháng
- Hình ảnh siêu âm vòng đúng vị trí trong tử cung ở thời điểm 48 tháng: 81% cao hơn thời điểm 18 tháng
- Đề tài đã chứng minh sau 48 tháng đặt vòng nghiên cứu không có sự khác nhau giữa ba loại vòng về độ
an toàn
I Đặt vấn đề
Vòng tránh thai là một trong những biện pháp
tránh thai được áp dụng nhiều nhất ở nước ta hiện
nay Trong kết quả của điều tra y tế quốc gia năm
2001 - 2002 cho thấy tỷ lệ phụ nữ dùng vòng
tránh thai để kế hoạch hoá gia đình thuộc khu vực
thành thị: 28,2% và khu vực nông thôn 38,5% Đã
có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả
trong và ngoài nước nghiên cứu về hiệu quả tránh
thai và độ an toàn của loại vòng TCu 380A
Damrong Reinp Rayoon và CS năm 1998 [10]
đã công bố về độ an toàn trên 681 phụ nữ đang cho
con bú được đặt vòng TCu 380A sau 48 tháng cho
thấy tỷ lệ thống kinh chiếm 59,1%, tỷ lệ đau ở
vùng tiểu khung 47,9% Tỷ lệ viêm vùng tiểu
khung chiếm 2,8%, tỷ lệ viêm âm đạo 6,6%, viêm
cổ tử cung 4,1% ở Việt Nam Ninh Văn Minh [4]
đã nghiên cứu theo dõi dọc 18 - 24 tháng trên 117
người đặt vòng Ortho Canada cho thấy tỷ lệ viêm
âm đạo, cổ tử cung gặp 16,2% Năm 2000 Lê Bách
Quang và cộng sự [6] đã xét nghiệm cho 335 đối tượng mới đặt vòng tránh thai năm 2000 cho thấy
tỷ lệ nhiễm tạp khuẩn 22,7%, tỷ lệ nhiễm candida 14% và nhiễm trichomonas vaginalis 6,6%
Vòng tránh thai TCu 380A do công ty Pregna
ấn Độ (FaI) và công ty Finishing Enterprises Inc
Mỹ (FEI) sản xuất đã được nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng từ tháng 3/1999, kết quả theo dõi dọc sau
18 tháng cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn mới ở đường sinh dục dưới từ 11,9% đến 17,25% Tỷ lệ nhiễm
G vaginalis từ 6,92% - 11,07% Tỷ lệ nhiễm nấm
từ 32,18% - 37,05% [7]
Để có thể kết luận chính xác về độ an toàn khi
sử dụng lâu dài vòng tránh thai của FaI và của FEI sản xuất chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu với mục tiêu:
Xác định các tác dụng không mong muốn của các đối tượng được đặt vòng TCu 380A do công ty FaI (ấn Độ) hoặc công ty FEI (Mỹ) sản xuất sau
đặt vòng 48 tháng
Trang 2Mô tả hình ảnh tế bào học cổ tử cung và âm đạo
của các phụ nữ được đặt vòng tránh thai TCu 380A
do FaI hoặc do FEI sản xuất sau đặt vòng 48
tháng
II Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu
1 Đối tượng:
Các đối tượng đã được tham gia đặt vòng tránh
thai loại TCu 380A của FaI, FEI ở giai đoạn 1 của
đề tài “Thử nghiệm lâm sàng hai loại vòng tránh
thai do Mỹ và ấn Độ sản xuất” và hiện tại đang
còn sử dụng vòng tránh thai Nhóm nghiên cứu là
các đối tượng đặt vòng TCu 380A của FaI hoặc
vòng TCu 380A của FEI Mỹ, nhóm chứng là các
đối tượng được đặt vòng TCu 380A của Ortho
Canada sản xuất
Tổng số đối tượng đặt vòng trong giai đoạn thử
nghiệm năm 1999 là 1063 đối tượng Tổng số đối
tượng được khám và phỏng vấn vào năm 2003 còn
775 đối tượng, trong đó 328 đối tượng đã bỏ cuộc
và 447 đối tượng đang tiếp tục sử dụng vòng Các
đối tượng đang sử dụng vòng của FaI là 158 người,
đặt vòng Canada là 130 người, đặt vòng FEI là 159
người
Phân bố đối tượng theo địa điểm nghiên cứu ở
An Giang là 135 người; ở Thừa Thiên Huế: 156
người; ở Hà Nam: 156 người
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng ra khỏi nghiên
cứu là các đối tượng đang sử dụng vòng tránh thai
nhưng không nằm trong giai đoạn thử nghiệm lâm
sàng
Các đối tượng khi tham gia vào nghiên cứu
mang tính đồng nhất giữa các nhóm nghiên cứu
Tính đồng nhất được thể hiện ở độ tuổi của đối
tượng khi đặt vòng, trình độ học vấn, phân bố về số
con, địa dư mà đối tượng sinh sống, nghề nghiệp
của đối tượng không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê ở nhóm đặt vòng nghiên cứu (vòng FaI,
vòng FEI) so với nhóm đặt vòng chứng (vòng
Ortho Canada) với p > 0,05 Tính đồng nhất của
đối tượng còn được thể hiện rõ ràng khi kiểm tra
một số giá trị sinh học như số đo huyết áp, độ dài
vòng kinh, số ngày chảy máu kinh cho 1 chu kỳ,
các triệu chứng cơ năng mà đối tượng cảm thấy xung quanh chu kỳ kinh nguyệt
2 Địa điểm nghiên cứu:
Tại 3 tỉnh Hà Nam, Huế, An Giang Khu vực nông thôn gồm các huyện Kim Bảng, Phú Vang, Tân Châu Khu vực thị xã, thị trấn gồm Phủ Lý, thị trấn Quế, thành phố Huế, thị xã Long Xuyên Các cơ sở dịch vụ triển khai theo dõi kiểm tra đối tượng: ở khu vực thị xã các đối tượng được khám phụ khoa, siêu âm, lấy tiêu bản tế bào học âm đạo
và cổ tử cung (kính phết Pap Smear) và tiêu bản vi sinh tại trung tâm bảo vệ sức khoẻ của tỉnh hoặc tại trạm y tế phường ở khu vực nông thôn các đối tượng được khám theo dõi tại các trạm y tế xã nhưng cán bộ của khoa Sản/ đội KHHGĐ của các bệnh viện huyện thực hiện kỹ thuật
3 Phương pháp:
• Đối với nghiên cứu hiệu quả lâu dài của hai loại vòng FaI, FEI sử dụng phương pháp nghiên cứu thuần tập theo dõi dọc [8]
• Tập huấn phương pháp và kỹ thuật khám sức khoẻ, kỹ thuật lấy tiêu bản vi sinh, tiêu bản tế bào học PAP, kỹ thuật siêu âm và cách đọc kết quả, kỹ thuật phỏng vấn
3.1 Các chỉ số theo dõi độ an toàn của vòng tránh thai tại thời điểm 48 tháng sau đặt vòng
+ Xác định tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục dưới qua khám phụ khoa, xét nghiệm vi sinh, xét nghiệm tế bào học PAP
+ Xác định các nguyên nhân gây viêm nhiễm
đường sinh dục dưới qua phương pháp nhuộm soi
vi sinh
+ Xác định tỷ lệ đối tượng có hình ảnh siêu âm vòng đúng vị trí trong tử cung
+ Xác định tỷ lệ loạn sản, dị sản của các đối tượng khi đặt vòng tránh thai
+ Xác định tỷ lệ đối tượng chấp nhận sử dụng vòng tránh thai và thời gian trung bình sử dụng vòng của đối tượng
3.2 Kỹ thuật thu thập thông tin
+ Khám lâm sàng và khám phụ khoa để đánh giá hiệu quả, tính an toàn và các tác dụng phụ theo
Trang 3tiêu chuẩn của bộ môn Phụ Sản Trường Đại họcY
Hà Nội qui định
+ Kỹ thuật phỏng vấn để xác định các dấu
hiệu cơ năng, mức độ chấp nhận của người sử dụng
vòng theo qui định chung của đề tài
3.3 Thời gian và tiến độ nghiên cứu:
Nghiên cứu giai đoạn 1 thử nghiệm lâm sàng
được tiến hành từ tháng 3/1999 và kết thúc giai
đoạn 1 vào tháng 10/2000 Giai đoạn 2 theo dõi
dọc được bắt đầu từ 12/2002 đến 6/2004
3.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Các đối tượng tham gia vào nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện Các thông tin của đối tượng được bảo mật
4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý theo phần mềm Epi - Info 6.02 của WHO Các thuật toán kiểm định với biến định tính bằng Chi Square, P < 0,05 khi χ2 >
3,84
III Kết quả
Bảng 1 Kết quả về các triệu chứng cơ năng xuất hiện khi đối tượng đang sử dụng vòng
Vòng ấn Độ
n = 158
Vòng Canada
n = 130
Vòng Mỹ
n = 159
Tổng số
N = 447 Triệu chứng
Đau bụng khi hành kinh 56 35,4 60 46,2 68 42,8 184 41,2
Đau lưng khi hành kinh 75 47,5 66 50,8 71 44,7 212 47,4
Ngứa và khó chịu ở đường sinh dục dưới 19 12,0 17 13,1 27 17,0 63 14,1
Bất thường khi sinh hoạt tình dục 4 2,5 3 2,3 5 3,1 12 2,7
Bảng 2 Kết quả về các triệu chứng thực thể phụ khoa ở các đối tượng đang sử dụng vòng
Vòng ấn Độ
n = 158
Vòng Canada
n = 130
Vòng Mỹ
n = 159
Tổng số
N = 447 Triệu chứng
n % n % n % n %
TSĐT có viêm qua khám phụ khoa 27 17,1 20 15,4 34 21,4 81 18,12
Trang 4Bảng 3 Nguyên nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục dưới của các đối tượng đặt vòng tránh thai
loại TCu 380A sau 48 tháng
Kết quả vi sinh Vòng ấn Độ
n = 156
Vòng Canada
n = 134
Vòng Mỹ
n = 161
Bảng 4 Kết quả siêu âm hình ảnh vòng đúng vị trí trong buồng tử cung
(kích thước đáy đo được từ 15 - 20mm) tại thời điểm 48 tháng sau đặt vòng
Số mẫu có hình ảnh vòng đúng vị trí Tổng số mẫu
* p < 0,05
Bảng 5 Kết quả tế bào học tại thời điểm 48 tháng theo loại vòng
* p < 0,05
Trang 5Chúng tôi đối chiếu các kết quả tại thời điểm ngay sau đặt vòng, sau đặt vòng 18 tháng, sau đặt vòng
48 tháng có 254 cặp được ghép tại 3 thời điểm Các kết quả tế bào học theo các thời điểm được trình bày
ở bảng 6
Bảng 6 Kết quả tế bào học phiến đồ cổ tử cung của các phụ nữ đặt vòng TCu 380A tại các thời điểm
Ngay sau đặt vòng (1) Sau 18 tháng (2) Sau 48 tháng (3) Kết quả
Các đối tượng sau đặt vòng 48 tháng đều tăng
cân so với thời điểm trước đặt vòng, cân nặng
trung bình tăng 1,66kg (vòng FaI), 1,26 kg (vòng
Canada), 0,87 kg vòng FEI
Qua phỏng vấn 775 đối tượng trong đó có 97
đối tượng đã tháo vòng nhưng chấp nhận đặt lại để
thực hiện công tác kế hoạch hoá gia đình, 361 đối
tượng hài lòng khi sử dụng biện pháp này, 88 đối
tượng trả lời tạm được khi sử dụng biện pháp đặt
vòng Tổng số đối tượng chấp nhận sử dụng vòng
là 70,5% trong số các đối tượng đã đặt vòng Các
đối tượng cho rằng đặt vòng là biện pháp tránh thai
có hiệu quả và có độ an toàn cao nên đa số phụ nữ
ở nông thôn dễ chấp nhận biện pháp này
Sự chấp nhận của đối tượng còn thể hiện ở thời
gian đối tượng chấp nhận sử dụng vòng Cho đến
thời điểm khảo sát, thời gian đối tượng chấp nhận
sử dụng vòng thấp nhất 13 tháng, cao nhất 60
tháng, trung bình 42 - 44 tháng, chưa có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian sử dụng vòng
ở các đối tượng được đặt 1 trong 3 loại vòng
nghiên cứu
IV bàn luận
Các tác nhân gây viêm tạo ra ổ viêm đã gây ra
rối loạn chuyển hoá các chất, gây độc tế bào và
làm cho nhiều tế bào bị chết, hoại tử Các sản
phẩm từ tế bào hoại tử có tác dụng làm tăng tính
thấm thành mạch, hình thành dịch rỉ viêm, thu hút
bạch cầu đến ổ viêm để thực bào, gây ra các tổn thương thứ phát tại ổ viêm
Từ quá trình hình thành ổ viêm như vậy nên để xác định đối tượng bị viêm qua khám lâm sàng phụ khoa chúng tôi kết hợp dấu hiệu khám thấy có tăng tiết dịch (có khí hư) và niêm mạc đường sinh dục xung huyết đỏ và ấn vào đau Khi xác định có viêm bằng kỹ thuật nhuộm soi qua xét nghiệm vi sinh chúng tôi cũng lấy tiêu chuẩn tìm thấy nhiều bào tử nấm hoặc vi khuẩn và có nhiều tế bào bạch cầu đa nhân Đánh giá mức độ tổn thương viêm qua hình ảnh tế bào học dựa trên sự đánh giá mức
độ tổn thương tế bào về nhân tế bào, bào tương của
tế bào Đồng thời dựa vào sự có mặt của các tế bào viêm như bạch cầu đa nhân, lympho bào, mô bào… đặc biệt sự có mặt của các bạch cầu đa nhân thoái hoá
Dựa trên cách đánh giá trên chúng tôi thấy đối tượng tự cảm thấy có khí hư là 58,8%, có ngứa và khó chịu ở đường sinh dục dưới là 14,1% (bảng 1)
Kết quả này cũng phù hợp với kết quả khám phụ khoa Tỷ lệ đối tượng có khí hư qua khám phụ khoa là 42,3%, có viêm cổ tử cung là 9,6%, viêm
âm đạo: 4,0%, nang tuyến bartholin: 0,2%, tỷ lệ
đối tượng có viêm qua khám lâm sàng là 18,12%
(bảng 2) Tỷ lệ đối tượng có viêm qua xét nghiệm
vi sinh là 52,8% (bảng 3) Tỷ lệ đối tượng có viêm qua hình ảnh tế bào học là 59,4% (bảng 6) Điều này không có gì mâu thuẫn vì kết quả vi sinh trong
Trang 6nghiên cứu này mới chỉ đề cập tới một số căn
nguyên do vi khuẩn và nấm, còn các căn nguyên
khác như virus, chlamydia … chúng tôi chưa có
điều kiện xác định bằng xét nghiệm vi sinh
Kết quả của chúng tôi về viêm nhiễm đường
sinh dục dưới qua khám phụ khoa thấp hơn kết quả
của Vương Tiến Hoà thực hiện năm 1995 [2]:
18,12% so với 21,4%, sự khác biệt chưa có ý nghĩa
thống kê với p > 0,05
Kết quả về viêm âm đạo trong nghiên cứu của
chúng tôi phù hợp với kết quả của Trần Thị
Phương Mai năm 2001 tại bệnh viện bảo vệ bà mẹ
và trẻ sơ sinh: 3,8% [3]
Các kết quả tại bảng 3 chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm
nấm là 28,6%, nhiễm khuẩn là 26,4% và nhiễm
trichomonas là 0,2% Nguyên nhân gây viêm qua
xét nghiệm vi sinh bao gồm nấm Candida albicans:
26,1% - 30,1%; G vaginalis: 6,4% - 8,2%; Vi
khuẩn đường ruột: 12,2% - 13,4%; Liên cầu 1,2%
- 3,8% và tụ cầu: 0,6 - 1,9%; lậu cầu 0,7 - 1,3%;
trực khuẩn gram (+) 0,7 - 3,1% Chưa có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê về nguyên nhân gây viêm
nhiễm cho các đối tượng được đặt 1 trong 3 loại
vòng p > 0,05
Kết quả nhiễm nấm trong nghiên cứu của
chúng tôi cao hơn kết quả của Lê Bách Quang:
28,6% so với 14,0% [6] sự khác nhau có ý nghĩa
thống kê với p < 0,01 Chúng tôi cho rằng tỷ lệ
nhiễm nấm cao có thể do lấy mẫu bệnh phẩm theo
các mùa khác nhau nên kết quả khác nhau Lấy
mẫu vào mùa nóng ẩm thì khả năng đối tượng bị
nhiễm nấm có thể cao hơn mùa khô Hơn nữa tỷ lệ
nhiễm nấm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
nguồn nước sinh hoạt mà người phụ nữ sử dụng,
vùng địa dư mà đối tượng sinh sống, tập quán cũng
như những hiểu biết về vệ sinh phụ nữ cũng như vệ
sinh kinh nguyệt của các nhóm đối tượng khác
nhau Ngược lại kết quả nhiễm khuẩn của chúng
tôi lại thấp hơn kết quả của Lê Bách Quang 26,4%
so với 29,4%; sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống
kê p > 0,05
Các kết quả của chúng tôi về tỷ lệ nhiễm nấm
28,6%, staphylococcus 1,3%, thấp hơn kết quả của
Lê Thị Oanh 42,8% và 10,3% với p < 0,01 [5]
Tỷ lệ nhiễm lậu cầu trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với David A Grimes [11]
Các triệu chứng cơ năng mà các đối tượng đặt vòng gặp phải chủ yếu là có khí hư: 58,8%; đau lưng khi hành kinh: 47,4% và đau bụng khi hành kinh: 41,2%; có khí hư: 58,8%, cảm thấy ngứa và khó chịu ở đường sinh dục dưới: 14,1% (bảng 3.1), không có sự khác biệt giữa các loại vòng Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả của Lê Thị Nhâm Tuyết [12] khi phỏng vấn 206 phụ nữ đặt vòng năm 1992 cho rằng 60% phụ nữ có vấn đề khi mang vòng Tỷ lệ đau bụng khi hành kinh, đau vùng tiểu khung trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn của Damrong Reinp Rayoon: 59,1% và 47,9% [10]
Hình ảnh siêu âm vị trí vòng trong tử cung
đúng vị trí sau 48 tháng đặt vòng là 81% cao hơn giai đoạn sau đặt vòng 18 tháng: 256/384 = 66,6%
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 Có
sự khác biệt với p < 0,05 giữa hình ảnh siêu âm của vòng ấn Độ so với vòng Canada: 86,5% so với 76,2%
Kết quả tế bào học chung sau 48 tháng đặt vòng tại bảng 5 cho thấy: phiến đồ bình thường chiếm 10,23%; phiến đồ viêm: 62,38%; phiến đồ loạn sản: 3,96% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về
tỷ lệ phiến đồ bình thường ở vòng ấn Độ so với vòng Canada: 5,83% so với 13,79% p < 0,05
Từ bảng 5 cho thấy tỷ lệ bình thường có chiều hướng giảm so với ban đầu và tỷ lệ viêm tăng lên
có lẽ do vòng là vật lạ nên đã kích thích làm tăng các tế bào viêm đồng thời tăng sinh tế bào biểu mô
đặc biệt là tế bào biểu mô ống cổ trong vòng 18 tháng đầu, nhưng sau khi khám và xét nghiệm, những phụ nữ này được điều trị nên tỷ lệ phụ nữ có phiến đồ bình thường có xu hướng tăng lên Tỷ lệ
dị sản vảy có sự dao động không đáng kể, nhưng tỷ
lệ ASCUS tăng lên sau khi đặt vòng và đi cùng là
tỷ lệ loạn sản tăng lên ở thời điểm 18 tháng Sau khi được phát hiện và điều trị thì tổn thương loạn sản giảm xuống còn 4,3% so với 9,8% ở thời điểm
18 tháng Như vậy cần thăm khám và xét nghiệm
tế bào mỗi năm 1 lần để phát hiện những tổn
Trang 7thương bất thường và có biện pháp chữa trị kịp
thời
Kết quả loạn sản trong nghiên cứu của chúng
tôi cao hơn trong nghiên cứu của GS Nguyễn
Vượng và của BS Thanh Hà [1] [9] Có lẽ đối
tượng của chúng tôi là những người đã đặt vòng và
đang ở độ tuổi sinh đẻ nên có các kết quả khác các
tác giả khác, tuy nhiên sự khác biệt này chưa có ý
nghĩa thống kê với p > 0,05
V Kết luận
Tỷ lệ đối tượng có viêm nhiễm đường sinh dục
dưới qua khám lâm sàng phụ khoa là 18,12%, qua
nhuộm gram các tiêu bản vi sinh: 52,8%, qua
nhuộm HE các phiến đồ tế bào học: 59,4% Chưa
thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kết
quả viêm nhiễm của các đối tượng sau đặt vòng 18
tháng so với kết quả sau đặt vòng 48 tháng
Nguyên nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục
dưới của phụ nữ sau đặt vòng qua xét nghiệm vi
sinh chủ yếu là nấm: 29,2%, G vaginalis: 6,8%,
Enterobacteriaceae: 13,0% Chưa có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê về nguyên nhân cũng như tỷ lệ
nhiễm giữa đối tượng có đặt vòng và hiện tại
không mang vòng
Tỷ lệ loạn sản qua kết quả tế bào học sau 48
tháng đặt vòng: 4,3%, thấp hơn so với thời điểm 18
tháng Chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về
tổn thương tế bào học giữa ba loại vòng
Hình ảnh siêu âm vòng đúng vị trí trong tử
cung ở thời điểm 48 tháng: 81% cao hơn thời điểm
18 tháng Hình ảnh siêu âm sau 48 tháng với vòng
ấn Độ đúng vị trí: 86,5%; vòng Canada: 80,49%;
vòng Mỹ: 76,2%
Tỷ lệ đối tượng bị đau bụng khi hành kinh:
41,2%; đau lưng khi hành kinh: 47,4%
Tỷ lệ đối tượng chấp nhận sử dụng vòng là
71% Thời gian đối tượng chấp nhận sử dụng vòng
từ 42 - 44 tháng
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Thị Thanh Hà (2000) Tế bào học
một số trường hợp viêm cổ tử cung - âm đạo Luận
văn tốt nghiệp bác sỹ y khoa, trường Đại học Y Hà
Nội
2 Vương Tiến Hoà, Nguyễn Hữu Cần, Trần Thị Lan Hương, Đặng Nguyệt Thịnh,
Đặng Thu Nguyệt (1995); Nhận xét về bệnh viêm
sinh dục dưới ở phụ nữ đã có chồng tại khu công nghiệp Thượng Đình và xã Định Công huyện Thanh Trì Kỷ yếu công trình NCKH Trường Đại học Y Khoa Hà Nội, 6: 145 - 149
3 Trần Thị Phương Mai, Phan Kim Anh (2002); Tần suất các nhiễm trùng sinh dục dưới ở
phụ nữ đến khám tại BVBVBMTSS/KHHGĐ ở Hà Nội năm 2001 Tạp chí Y học thực hành
4 Ninh Văn Minh (1998); Góp phần nghiên
cứu những lý do không chấp nhận hai loại dụng cụ
tử cung TCu 380A và MCu 375 Tuyển tập công trình khoa học nghiên cứu sinh - 1998 Đại học Y
Hà Nội
5 Lê Thị Oanh, Nguyễn Văn Dịp (2000);
Tìm hiểu căn nguyên vi khuẩn và ký sinh trùng gây viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ, tính kháng thuốc của các vi khuẩn gây bệnh, kết quả bước đầu điều trị bằng viên CTK Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ Y Tế nghiệm thu năm 2000, Hà Nội
6 Lê Bách Quang và cộng sự (2000); Xác
định tỷ lệ thất bại, bỏ cuộc và nhu cầu sử dụng của các loại vòng tránh thai ở Việt Nam (1995 - 2000) Đề tài cấp Bộ nghiệm thu năm 2000 Uỷ ban dân số gia đình trẻ em, Hà Nội
7 Nguyễn Văn Tường, Vũ Thị Vựng, Nguyễn Ngọc Hùng, Phạm Thanh Hiền, Nguyễn Khắc Liêu (2001); Báo cáo toàn văn kết
quả đề tài nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng hai loại vòng tránh thai TCu 380A do công ty Famy Care
ấn Độ và công ty FEI Mỹ sản xuất Hà Nội, tháng 8/2001 Đề tài cấp Bộ đã nghiệm thu năm 2001
Uỷ ban Dân số Gia đình Trẻ em, Hà Nội
8 Dương Đình Thiện, Nguyễn Trần Hiển (1998); Phương pháp nghiên cứu thuần tập
Phương pháp nghiên cứu khoa học Y học Nhà xuất bản Y học 125 - 139
9 Nguyễn Vượng và cộng sự (1998); Phát
hiện sớm ung thư cổ tử cung qua sàng lọc tế bào
Trang 8häc T¹p chÝ Nghiªn cøu Y häc Sè 1 tËp 5 Bé Y
TÕ - §¹i häc Y Hµ Néi: 3 - 5
10 Damrong Reinprayoon, Caroline
Gilmore, Gaston Farr, and Ramesh Amatya
(1998); Twelve - month comparative multicenter
study of the TCu 380A and ML 250 Intrauterine
devices in Bangkok Thailand Contraception: 58:
201 - 206 202 - 206
11 David A Grimes (2000); Intrauterine
device and upper - genital - tract infection The
Lancet London: Sep 16, Vol.356, Iss.9234; pg.1013,7pgs
12 Le Thi Nham Tuyet, Mai Huy Bich, Johansson A, Hoang Thi Hoa (1995); Women’s
experience of family planning in two rural communes in Vietnam Arrows Change Apr; 1 (1)
3 - 4
Summary
To evaluate the LONG - TERM SAFETY of TCu 380A IUD manufactured
By Pregna - India (FaI), Finishing enterprise inc (FEI - USA)
Using follow - up study, the authors have investigated contraceptive safety of TCu 380A IUD for 447 subjects continuously use IUD at three provinces Hanam, Thuathien - Hue and Angiang The control group: using Canadian TCu 380A IUD, the target group: using Pregna Indian (FaI) or FEI TCu 380A IUD After the follow - up period of 48 months, the following observations can be presented:
- The rate of subjects presenting inflammatory disorders of lower genital tract through gynecologic examination was 18.12%, through Gram staining of microbiologic samples was 52.8% and through HE staining of cytologic smears was 59.4%
- The causal agents of lower genital tract infection after IUD insertion through microorganic testing were essentially fungi with 29.2%: G vaginalis: 6.8%, Enterobacteriaceae: 13%
- The rate of dysplasia through cytologic testing after 48 months of IUD insertion was 4.3% lower than the rate after 18 months
- Ultrasound imaging for right position of IUD in uterine cavity after 48 months: 81% were higher than the position after 18 months
The study had proven that after 48 months of insertion study, there were no differences between the three types of IUD about the degree of safety.